Tuần 37 - Ngày 21/04/2019
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Di Hòa Viên tại Bắc Kinh, Trung Quốc
24/01/2019
 

Thông tin chung:
Công trình: Di Hòa Viên tại Bắc Kinh (Summer Palace, and Imperial Garden in Beijing)
Địa điểm: Thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc (N39 54 38 E116 8 28)
Thiết kế kiến trúc:
Quy mô: Diện tích Di sản 297ha; Vùng bảo vệ 5595 ha
Năm hình thành:
Giá trị: Di sản thế giới (1998; hạng mục  i, ii, iii) 

Trung Quốc (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) nằm tại Đông Á, là quốc gia đông dân nhất thế giới với khoảng 1,403 tỷ người (năm 2016). Trung Quốc có diện tích 9596961km2, là quốc gia có tổng diện tích lớn hàng đầu thế giới; Ngôn ngữ chính thức là tiếng Hán. Trung Quốc phân thành 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 đô thị trực thuộc và 2 khu hành chính đặc biệt là Hồng Kông và Ma Cao.
Lịch sử Trung Quốc bắt nguồn từ một trong những nền văn minh cổ nhất thế giới, phát triển tại lưu vực sông Hoàng Hà, bình nguyên Hoa Bắc. Trải qua hơn 5.000 năm, Trung Hoa đã trở thành nền văn minh rực rỡ nhất thế giới trong thời Cổ đại và Trung cổ, được đặc trưng bởi hệ thống triết học thâm sâu (nổi bật nhất là Nho giáo, Đạo giáo và thuyết Âm dương ngũ hành); các thành tựu khoa học kỹ thuật (phát minh ra giấy, la bàn, thuốc súng, địa chấn kế, kỹ thuật in ấn...); hoạt động giao thương xuyên châu Á với nhiều quốc gia (Con đường tơ lụa); những đô thị có quy mô dân số và trình độ kiến trúc đứng đầu thế giới vào thời Trung cổ.
Hệ thống chính trị của Trung Quốc dựa trên các chế độ quân chủ kế tập, được gọi là các triều đại, khởi đầu là triều đại nhà Hạ.
Từ năm 221 trước Công nguyên (TCN), nhà Tần chinh phục các quốc gia khác để hình thành đế quốc Trung Hoa thống nhất.
Triều đại nhà Hán cai trị Trung Quốc từ năm 206 TCN đến năm 220 sau Công nguyên.
Triều đại nhà Đường cai trị từ năm 618–907.
Triều đại nhà Tống cai trị từ năm 960–1279.
Vào thế kỷ thứ 13, Trung Quốc bị đế quốc Mông Cổ chinh phục. Năm 1271, Đại hãn người Mông Cổ thiết lập triều đại nhà Nguyên.
Triều đại nhà Minh cai trị Trung Quốc từ năm 1368–1644.
Triều đại nhà Thanh do người Mãn Châu thành lập cai trị Trung Quốc từ năm 1636–1912.
Trung Hoa Dân Quốc lật đổ nhà Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc vào năm 1912 và cầm quyền tại Trung Quốc đại lục cho đến năm 1949. Sau khi đế quốc Nhật Bản bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Trung Quốc chia thành hai: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) có thủ đô là Bắc Kinh và Trung Hoa Dân quốc tại đảo Đài Loan với thủ đô là Đài Bắc. 


Bản đồ Trung Quốc và vị trí của thành phố Bắc Kinh


Bức tranh cổ về Di Hòa Viên, tại Bắc Kinh, Trung Quốc, phía sau là núi Xuân Ngọc

Di Hòa Viên (Summer Palace/ Yíhé Yuán) là một quần thể rộng lớn của hồ, vườn cảnh và cung điện nằm cách Bắc Kinh 15 km về phía Tây Bắc. Khu vườn hoàng gia Di Hòa Viên như ngày nay được xây dựng vào thời nhà Thanh, có diện tích 297ha, trong đó 3/4 là diện tích mặt nước. Di Hòa Viên theo nghĩa đen là "vườn sinh dưỡng sự ôn hòa", đến nay vẫn còn được bảo tồn tốt.
Di Hòa Viên có lịch sử tồn tại trên 800 năm với nhiều tên gọi khác nhau.
Đầu đời nhà Tấn (năm 266 – 420) một cung điện tên là Kim Sơn Cung đã được xây dựng tại nơi mà ngày nay là Di Hòa Viên.
Vào thời nhà Đại Kim (năm 1115 – 1234), tại đây các vị hoàng đế đã dựng lên một số hành cung và những khu giải trí.
Vào thời nhà Tống, năm 1271, tại đây đã đào một hồ chứa lớn nhằm cung cấp nước ổn định cho các cung điện tại Bắc Kinh. Đất đào hồ được đắp thành gò núi cao đến 60m.
Vào thời nhà Minh (năm 1368–1644), khi Bắc Kinh trở thành kinh đô và Tử Cấm Thành được xây dựng (năm 1406-1420), tại đây đã dựng một số ngôi đền, cung điện và tạo lập thành một khu vườn hoàng gia.
Năm 1750, hoàng đế Càn Long (trị vì năm 1735-1796) nhà Thanh đã mở rộng khu vườn hoàng gia, xây thêm nhiều công trình mới, đào bổ sung thêm hai hồ trữ nước và đổi tên là Thanh Ý Viên để mừng sinh nhật lần thứ 60 của mẹ ông. Thời bấy giờ nước từ hồ đều đến từ núi Xuân Ngọc (Jade Spring Hill, nằm tại phía Tây của Di Hòa Viên) và một phần từ sông Vạn Tuyền. Việc mở rộng thêm hai hồ tại phia Tây (hồ Gao Shui và hồ Yangshui ) không chỉ cung cấp nước cho kinh đô mà còn cho cả các khu vực nông nghiệp xung quanh. 3 hồ lớn này được gọi tên chung là hồ Côn Minh, theo tên một hồ có từ thời nhà Hán dành cho việc huấn luyện hải quân. Đất lấy từ đào hồ được dùng để mở rộng gò núi và đặt tên là núi Vạn Thọ.
Năm 1860, trong Chiến tranh Nha Phiến, liên quân Anh - Pháp đã phá hủy Thanh Y Viên. Khoảng 28 năm sau, Từ Hi Thái hậu (năm 1835- 1908, thái hậu nhiếp chính; trong văn hóa đại chúng, Từ Hi Thái hậu cùng Võ Tắc Thiên thời Đường, Lã hậu thời Hán được xem là những phụ nữ nắm quyền lực cao nhất của đế quốc Trung Hoa trong một thời gian dài) đã trùng tu hoa viên trong vòng 10 năm và đổi tên là Di Hòa Viên, tồn tại cho đến ngày nay.
Năm 1900, trong loạn Nghĩa Hòa Đoàn, liên quân 8 nước (Nhật, Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý, và Áo – Hung) lại phá hoại hoa viên lần nữa và lấy đi nhiều cổ vật. Khi Từ Hi Thái hậu hồi cung tại Bắc Kinh năm 1903, bà đã cho trùng tu lại hoa viên.
Di Hòa Viên trở thành công viên công cộng từ năm 1924. 

Di Hòa viên tại Bắc Kinh là quần thể gồm các cung điện, chùa, đền với nhiều tòa nhà truyền thống được tích hợp vào một khu vườn hoàng gia, hình thành trên nền cảnh quan hồ Côn Minh và núi Vạn Thọ.
Đây là một quần thể kết hợp các chức năng hoạt động chính trị, hành chính, ở, tâm linh và giải trí trong một không gian cảnh quan của hồ và núi, cân bằng các hoạt động sôi động của con người với sự tĩnh lặng của thiên nhiên theo quan niệm của người Trung Quốc.
Di Hòa Viên được thiết kế theo ý tưởng của hoàng đế Càn Long với mong muốn tích tụ được tất cả tinh hoa về triết lý, văn hóa, nghệ thuật và kiến trúc của Trung Hoa từ thời cổ xưa tới thời nhà Thanh. Điều gì nổi tiếng nhất tại Trung Hoa đều có thể thấy tại Di Hòa Viên, từ việc tạo 3 hòn đảo trên hồ Côn Minh (Nanhu, Tuancheng và Zaojiantang) tương tự như 3 ngọn núi thần tiên theo niềm tin Thần đạo cổ xưa (Bồng Lai/Penglai, Doanh Châu/Yingzhou và Phương Trượng/Fangzhang) ở vịnh Bột Hải, đến cảnh quan chung được thiết kế theo phong cách vườn hoàng gia nổi tiếng Tây Hồ, Hàng Châu (kinh đô của nhà Nam Tống) với đặc điểm dễ ghi nhận: Nhất núi, Nhị đê, Tam đảo, Ngũ hồ.
Ngoài ra, các hạng mục công trình kiến trúc chính trong Di Hòa Viên đều khởi nguồn từ các công trình nổi tiếng hàng đầu Trung Hoa, ví dụ như: Vườn cảnh bố cục tương tự như vườn cảnh cổ điển ở Tô Châu, tỉnh Giang Tô và Giang Tích, tỉnh Giang Tây; Có một đoạn phố thể hiện cho các đường phố mua sắm sầm uất ở Tô Châu và Dương Châu, tỉnh Giang Tô; Bến thuyền Phượng Hoàng (Phoenix Pier) giống với bến thuyền tại Thái Hồ, thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô; Tháp Kính Minh (Jingming Tower) giống với tháp Nhạc Dương (Yueyang Tower) bên bờ hồ Động Đình, tỉnh Hồ Nam; Phật Hương Các (Temple of Buddhist Virtue) tương tự như Hoàng Hạc Lâu (Yellow Crane Tower), thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc (là một trong Tứ đại danh lâu hay tháp ngắm cảnh nổi tiếng ở Trung Quốc, gồm: Hoàng Hạc lâu; Nhạc Dương lâu, tỉnh Hồ Nam; Đằng Vương các, tỉnh Giang Tây; Bồng Lai các, tỉnh Sơn Đông); Tại Di Hòa Viên còn có một hành lang dài đến 700 m để trình diễn nghệ thuật trang trí tương tự như các hành lang trong cung điện hoàng gia…
Di Hòa Viên về cơ bản chia thành 2 phần: Khu vực núi Vạn Thọ; Khu vực hồ Côn Minh và vườn cảnh.
Khu vực núi Vạn Thọ là nơi tập trung các công trình thành cụm tại phía Đông, Tây, Nam và Bắc núi Vạn Thọ. Cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ có cung điện Nhân Thọ, nơi Từ Hi Thái Hậu tiếp các quan lại và giải quyết quốc sự; các công trình nghỉ ngơi giải trí và vườn cảnh…được tiếp cận qua cổng chính của Di Hòa Viên là cổng Đông Cung. Cụm công trình phía Bắc, Nam, Tây núi Vạn Thọ và trên núi Vạn Thọ là khu vực nhà ở, thờ tự và giải trí. Đặc biệt là cụm công trình tại phía Nam với tầm nhìn rộng mở ra hồ và được liên kết với nhau bởi một tuyến hành lang dài có mái che.
Khu vực hồ Côn Minh và vườn cảnh, chiếm 3/4 diện tích Di Hòa Viên.
Hồ Côn Minh là một hồ chứa nhân tạo, rộng 220 ha, hình thành vào năm 1271, vào thời nhà Tống, sử dụng cho việc cung cấp nước ổn định cho các cung điện tại Bắc Kinh. Hồ được mở rộng vào năm 1750. Hồ Côn Minh bao gồm 5 hồ, được phân chia bởi các tuyến đường đê, liên thông với nhau và với tuyến kênh tại phía Tây, Nam. Trên hồ có 3 hòn đảo lớn, được kết nối với bờ bằng cầu, trong đó có cây cầu nổi tiếng với 17 nhịp vòm.
Hệ thống các vườn cảnh được bố cục theo phong cách vườn truyền thống của Trung Quốc, nằm xen kẽ với mặt nước trên nền cảnh quan là núi Vạn Thọ và núi Xuân Ngọc tại phía Tây Di Hòa Viên, tạo thành những bức tranh phong cảnh đẹp đẽ và sinh động.
Tất cả các hạng mục công trình, điểm cảnh quan nổi bật trong Di Hòa Viên đều được đặt tên theo các sự kiện văn hóa với ý niệm đẹp đẽ, tạo thành một môi trường văn hóa sâu rộng, đặc sắc.
Di Hòa Viên, là đỉnh cao của hàng trăm năm thiết kế vườn hoàng gia, một quần thể hài hòa có giá trị thẩm mỹ và văn hóa vượt trội, đã có ảnh hưởng to lớn đến nghệ thuật và văn hóa vườn phương Đông những năm sau này. 


Một bức tranh cổ về khu vực núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 

Di Hòa Viên, thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc được UNESCO tôn vinh là Di sản văn hóa (năm 1998) với các tiêu chí:
Tiêu chí (i): Di Hòa Viên tại Bắc Kinh, Trung Quốc là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật thiết kế sân vườn, kết hợp được các kiến tạo của con người với cảnh quan thiên nhiên trong một tổng thể hài hòa. 
Tiêu chí (ii): Di Hòa Viên là điển hình cho triết lý về thiết kế sân vườn Trung Quốc, đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của hình thức văn hóa này ở khắp khu vực phương Đông.
Tiêu chí (iii): Vườn cảnh Trung Hoa, được minh họa bởi Di Hòa Viên là một bằng chứng độc đáo về một trong những nền văn minh lớn trên thế giới. 

Sơ đồ ranh giới Di sản văn hóa Di Hòa Viên, tại Bắc Kinh, Trung Quốc 

Di Hòa Viên về cơ bản chia thành 2 phần: Khu vực núi Vạn Thọ; Khu vực hồ Côn Minh và vườn cảnh.
Di Hòa Viên có 6 cổng: Cổng phía Nam (South Gate); Cổng nhỏ phía Đông (Minor Gate); Cổng phía Đông (East Gate); Cổng phía Bắc (North Gate); Cổng phía Tây Bắc (North West Gate); Cổng phía Tây (West Gate). 


Sơ đồ các hạng mục công trình chính tại Di sănDi Hòa Viên, thành phố Bắc Kinh

Khu vực núi Vạn Thọ  

Khu vực Vạn Thọ Sơn (Wanshou/ Longevity Hill) là phần phía Bắc của Di Hòa Viên, tiếp cận với 3 lối vào chính: Cổng phía Bắc (North Gate), Cổng phía Đông (East Gate) và Cổng phía Tây Bắc (North West Gate).
Nếu lấy gò núi Vạn Thọ làm trung tâm, khu vực này có thể chia thành: Cụm công trình phía Đông, Nam, Bắc và Tây núi Vạn Thọ. 


Sơ đồ tổng mặt bằng các hạng mục công trình chính tại khu vực núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Sơ đồ phối cảnh khu vực núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên với vị tri một số hạng mục công trình chính




Phối cảnh chim bay khu vực núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 

Cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ 
Cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ là nơi tập trung nhiều công trình với hạng mục chính sau:

Đông Cung Môn
(Dong Gong Men/East Palace Gate): nằm tại phía Đông của Di Hòa Viên, là cửa chính của Di Hòa Viên. Tòa nhà có 3 cửa: Cửa chính giữa dành cho hoàng đế, hoàng hậu và thái hậu, cửa hai bên dành cho các thành viên hoàng tộc và quan chức triều đình. Trên cửa chính có treo tấm biển đề “ Di Hòa Viên” được viết bởi hoàng đế Quang Tự (trị vì trong giai đoạn 1875- 1908). Các cấu kiện kiến trúc của tòa cổng đều được trang trí hoa văn sặc sỡ, cánh cửa được sơn màu đỏ, các dầm gắn với đỉnh cột đều được dát vàng. Hai bên cổng là hai con sư tử bằng đồng có từ thời hoàng đế Càn Long.


Đông Cung Môn, cổng chính vào cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 

Nhân Thọ Điện
(Renshou/Benevolence and Longevity Hall): nằm ngay phía sau Đông Cung Môn. Đây là địa điểm gắn liền với công việc triều chính và sinh hoạt của các vị hoàng đế nhà Thanh. Nhân Thọ Điện được xây dựng vào năm 1750, dưới triều hoàng đế Càn Long, bị đốt cháy vào năm 1860 và được xây dựng lại vào năm 1888. Chính điện là nơi Từ Hi Thái hậu và hoàng đế Quang Tự tiếp kiến các vị đại thần và giải quyết quốc sự. Hiện tại, trang trí nội thất trong chính điện vẫn như xưa với những chiếc quạt lông công tinh xảo; rèm che ngai vàng được đóng khung bằng gỗ đàn hương với 9 con rồng trên đỉnh. Trong sân Nhân Thọ Điện có một tượng thú bằng đồng tinh xảo, hình tượng đầu rồng, đuôi sư tử, sừng hươu và móng guốc. Trong sân còn có 5 viên đá cảnh biểu thị sự trường thọ. Trước chính điện là hai cặp lư hương là hình tượng của một cặp rồng và phượng. 


Nhân Thọ Điện, cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Đức Hòa Viên (Dehe/Virtuous Harmony Court): nằm tại phía Bắc của Nhân Thọ Điện. Đây là nơi Từ Hi Thái Hậu và hoàng đế Quang Tự sử dụng cho các chương trình biểu diễn hát kịch và chương trình sân khấu khác.Tại đây có công trình nhà hát (Great Opera Hall) cao 21m, rộng 17m, 3 tầng mái; là một trong ba nhà hát kịch nổi tiếng nhất của nhà Thanh; hai công trình khác là nhà hát Thanh Âm (Qingyin) tại Tị Thử Sơn Trang (Mountain Resort of Chengde/Bishu Shanzhuang), tỉnh Hà Bắc và nhà hát Xướng Âm (Changyin) ở Tử Cấm Thành, Bắc Kinh. Công trình được xây dựng vào năm 1891 và kéo dài trong 5 năm. Sân khấu cao 3 tầng và lầu hóa trang ở phía sau cao 2 tầng. Trên trần rạp có các thiên kiều, dưới sàn rạp có các hố, giếng nước, hồ nước nhỏ. Khi diễn những vở kịch về quỷ thần, có thể cho nhân vật từ trên trời giáng xuống, hoặc từ dưới đất chui lên và cũng có thể phun nước lên sân khấu. Đây là một trong những sân khấu bằng gỗ lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất với thiết kế tinh tế, tráng lệ và có nhiều giá trị về khoa học và nghệ thuật.


Đức Hòa Viên, cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Lạc Thọ Đường
(Leshou Tang/Happiness and Longevity House): là một trong ba tòa kiến trúc lớn theo kiểu thức “tứ hợp viện” (tổ hợp công trình bao quanh một sân trong), cùng với Ngọc Lan Đường và Nghi Vân Quán, là nơi sinh hoạt của Từ Hi Thái Hậu, hoàng đế Quang Tự, hoàng hậu và cung phi. Công trình nằm tại phía Tây Bắc Nhân Thọ Điện, được xây dựng vào năm 1750, bị đốt cháy vào năm 1860 và được xây dựng lại vào năm 1886. Trong Lạc Thọ Đường bài trí ngai báu, án ngự, quạt và bình phong bằng pha lê. Hai bên ngai báu là hai chiếc đĩa lớn, dùng để đựng hoa quả, với hoa văn rồng xanh, 4 chiếc lư hương lớn, bằng đồng. Gian phía Tây là “Ngự thất”, dành riêng cho hoàng đế, gian phía Đông là nơi thay trang phục. Trong phòng còn có một chiếc tủ lớn đựng trang phục, bằng gỗ “tử đàn”, là di vật từ thời hoàng đế Càn Long. Trong sân Lạc Thọ Đường còn bài trí tượng hươu, hạc, bình hoa bằng đồng, với hàm ý cầu mong sự trường tồn và bình an. Ngoài ra, trong khuôn viên này còn có nhiều loài hoa, như ngọc lan, hải đường, mẫu đơn…, tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý. Ngọc lan của Lạc Thọ Đường rất nổi tiếng. Trước cửa Yêu Nguyệt hiện vẫn còn một cây do đích thân hoàng đế Càn Long mang từ phương Nam về trồng. 


Lạc Thọ Đường, cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên


Nội thất Lạc Thọ Đường, cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Tháp
Văn Xương  (Wenchang/Flourishing Culture Pavilion): nằm tại phía Nam cổng Đông Cung và điện Nhân Thọ. Đây là ngôi tháp lớn nhất trong các tháp tại Di Hòa Viên, được xây dựng vào năm 1750, bị đốt cháy vào năm 1860 và sau đó được xây dựng lại. Tháp gồm tòa lầu cao 2 tầng, được đặt trên một thành lũy cao. Trong tòa tháp có tượng đồng thần Văn Xương (Văn Xương Đế Quân hay Văn Xương Tinh. Theo Thần đạo và Đạo giáo, đây là vị thần chủ quản công danh phúc lộc của giới văn sĩ và các chư thần. Tòa tháp này và tòa Tháp Bảo Vân, trong đó có tượng thần Võ, là tượng trưng cho sự phù trợ về cả văn và võ đối với nhà cầm quyền. Nằm ở phía Đông của Tháp Văn Xương hiện là Nhà triển lãm Văn Xương (Wenchang Gallery/Wenchang Yuan). Đây là nơi trưng bày hàng ngàn cổ vật được khám phá tại Di Hòa Viên (trong khoảng 3600 năm, từ triều đại nhà Thương đến nhà Thanh). 


Tháp Văn Xương, cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Lầu Báo Xuân
(Zhichun/Perceiving the Spring Pavilion): được xây dựng trên một hòn đảo nhỏ, đối diện tháp Văn Xương, bên cạnh bờ Đông của hồ Côn Minh. Từ vị trí lầu có một góc nhìn đẹp nhất về núi Vạn Thọ, hồ Côn Minh và dãy núi Xuân Ngọc tại phía Tây (Jade Spring Hills) Di Hòa Viên.  


Lầu Báo Xuân, cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ
Kiến trúc trong khu vực này được dàn trải theo hai trục chính: Trục Đông - Tây là Trường Lang (Hành lang dài); Trục Nam - Bắc, được bắt đầu từ khoảng giữa của Trường Lang, theo thứ tự, từ cửa Bài Vân, cửa Nhị Cung, điện Bài Vân tại chân núi Vạn Thọ đến tháp Phật Hương và Trí Tuệ Hải ở trên núi Vạn Thọ, tạo thành một chuỗi liên kết theo tầng bậc, vươn cao dần.


Hình ảnh phía Nam và Tây núi Vạn Thọ, nhìn từ hồ Côn Minh, Di Hòa Viên

Từ chân núi lên đến đỉnh núi Vạn Thọ gồm các hạng mục công trình chính: 

Trường Lang (Long Corridor): là hành lang nằm tại phía Nam núi Vạn Thọ, hướng ra hồ Côn Minh, phía Đông giáp cổng Yêu Nguyệt (Đón trăng), phía Tây giáp đình Thạch Trượng. Hành lang dài 728m, gồm gồm 273 gian, được xây dựng vào năm 1750, để thái hậu có thể đi dạo trong vườn. Công trình bị chiến tranh phá hủy và được xây dựng lại vào năm 1886. Trường Lang là hành lang du ngoạn dài nhất trong kiến trúc vườn của Trung Quốc và là hành lang dài nhất thế giới. Hành lang được trang trí phong phú với những bức tranh trên xà nhà và trần nhà. Tổng cộng có hơn 8.000 bức tranh, mô tả các nhân vật lịch sử và huyền thoại trong 4 tiểu thuyết cổ điển (Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tây Du Ký, Thủy Hử và Hồng Lâu Mộng); các sự tích Nho giáo, Đạo giáo; các tòa nhà và phong cảnh nổi tiếng của Trung Quốc cùng với hoa, chim, cá và côn trùng. Hành lang không chạy thẳng mà theo hình cánh cung tại vị trí trung tâm, và lùi vào trong để tạo điểm nhấn cho điện Bài Vân (Cloud – Dispelling Hall). Sát phía hồ Côn Minh là cổng Bài Vân (Paiyun/Cloud Dispelling Gate). Dọc theo hành lang có 4 điểm nhấn là các tháp hình bát giác với mái kép. 4 tháp này tượng trưng cho 4 mùa trong năm, được đặt tên (từ Đông sang Tây: Liu Jia (Lưu giữ sự tốt lành); Ji Lan (Sống chung với sóng); Qiu Shui (Yên tĩnh như nước); Qing Yao (Tâm sáng và rộng mở). Từ hành lang có thể đi thông với các công trình tại phía Nam và phía Đông núi Vạn Thọ. 


Trường Lang, cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên


Trang trí bên trong tháp của Trường Lang, cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên


Tranh vẽ miêu tả trận chiến giữa Tào Tháo và Lưu Bị vào năm 208, tại Trường Bản, (huyện Đương Dương, tỉnh Hồ Bắc) vào cuối thời Đông Hán tại Trường Lang, 
cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Bài Vân Điện (Cloud Dispelling Hall/ Pai Yun Dian): nằm giữa trung tâm của trục Bắc – Nam Di Hòa Viên, phía trước núi Vạn Thọ, được xây dựng vào năm 1750. Ban đầu, kiến trúc này là chùa Đại Báo Ân Diên Thọ, do Càn Long xây dựng để mừng thọ mẹ ở tuổi 60. Năm 1892, Từ Hi Thái hậu đã cho tu sửa, cải tạo công trình này thành cung điện Bài Vân. Đây là nơi Thái hậu ở và thiết triều trong thời gian bà ở Di Hòa viên. Điện Bài Vân là một quần thể kiến trúc tiêu biểu nhất của Di Hòa Viên với cột màu đỏ, mái ngói màu vàng, các cụm đá cẩm thạch trắng được trang trí bằng rồng, phượng. Bên trong chính điện đặt một ngai vàng, xung quanh có màn che, lư hương…Cung điện có 21 phòng, bên trong hiện trưng bày các quà tặng nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của Từ Hi Thái hậu. 


Cổng Bài Vân, phía trước Bài Vân Điện, cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 


Quần thể Bài Vân Điện, cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên  

Chính điện của cung điện Bài Vân, cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên


Ngai vàng của Tư Hi Thái Hậu bên trong chánh điện, cung điện 
Bài Vân Điện, cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 


Chi tiết kiến trúc tòa nhà bên trái chính điện của quần thể Bài Vân Điện, cụm công trình phía Nam núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Cụm công trình trên núi Vạn Thọ
Núi Vạn Thọ còn có tên là Kim Sơn, có chiều cao 60m, được bao quanh bởi các cụm công trình bố cục theo hướng Bắc – Nam, đối xứng theo trục Đông – Tây. Các công trình trên núi được xây dựng chủ yếu vào thời nhà Thanh. Từ đây có thể ngắm toàn bộ cảnh quan hồ Côn Minh.
Theo trục chính Bắc – Nam, tiếp nối với các công trình dưới chân núi gồm: cửa Bài Vân, cửa Nhị Cung, điện Bài Vân tại chân núi Vạn Thọ đến gác Phật Hương và Trí Tuệ Hải ở trên núi Vạn Thọ.


Phối cảnh các công trình trên núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Các hạng mục công trình chính trên núi gồm: 

Phật Hương Các (Tower of Buddhist Incense/ Temple of Buddhist Virtue/ Foxiangge): nằm trên một bệ hình vuông cao 21m, tại lưng chừng núi Vạn Thọ. Tháp cao 41m, có mặt bằng hình trụ bát giác, cao 3 tầng với 4 tầng mái hiên. Kết cấu của công trình gồm 8 cột gỗ khổng lồ với cấu trúc đỡ mái phức tạp, được đánh giá là một ngôi nhà cổ đặc biệt. Tháp được xây dựng vào thời hoàng đế Càn Long, bị đốt cháy vào năm 1860, sau đó được cải tạo lại vào năm 1897, trở thành công trình kiến trúc có quy mô và chi phí xây dựng vào loại lớn nhất tại Di Hòa Viên. Trong tháp có một bàn thờ Phật với tượng Phật và 18 vị La Hán, phục vụ cho việc lễ bái của hoàng gia. Tháp được xây dựng khởi nguồn theo Hoàng Hạc Lâu, tại Vũ Xương, Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. 


Phật Hương Các trên núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Tháp đồng Bảo Vân
(Baoyun Bronze Pavilion) hay Bảo Vân Các: nằm tại phía Tây Phật Hương Các, được xây dựng vào năm 1755, là nơi các hoàng đế và hoàng hậu nhà Thanh đến cầu nguyện. Đặt trên một bệ bằng đá trắng cao 4m, công trình nặng tới 207 tấn, cao 7,55m có cấu trúc và trang trí như một tháp bằng gỗ. Tháp là một trong những sản phẩm thủ công tinh xảo nhất của Trung Quốc còn tồn tại đến ngày nay và là một trong những vật đúc đồng có kích thước lớn nhất. Ba mặt Đông, Nam, Tây đều có cửa 4 cánh; phía Bắc có cửa 8 cánh. Các cửa sổ, ô thoáng, cánh cửa đều được chạm hoa văn cân xứng, rất tinh xảo, gồm hai lớp lồng khít vào nhau. Tháp tồn tại qua vụ đốt cháy Di Hòa Viên năm 1860, song tất cả đồ đạc bị cướp phá, kể cả cửa sổ. Năm 1993, từ khoản tiền quyên góp, người ta đã mua lại các cửa sổ và gửi trở lại Di Hòa Viên. 


Tháp đồng Bảo Vân trên núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Đền Biển Trí Tuệ
(Hall of the Sea of ​​Wisdom/ Zhi Hui Hai): là một cụm công trình nằm tại phía Bắc của Phật Hương Các, nổi bật trên đỉnh núi Vạn Thọ. Đền là một tòa nhà linh thiêng, tượng trưng cho sức mạnh và trí tuệ vô hạn của Đức Phật Như Lại. Vào cụm công trinh qua một cổng vòm lộng lẫy, tráng men màu vàng trên bệ đá cẩm thạch. Cổng mang tên Zhong Xiang Jie, tên của một vương quốc Phật giáo. Đền Biển Trí Tuệ là một tòa nhà hai tầng được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1750. Công trình xây dựng bằng gạch và đá mô phỏng theo kiến trúc gỗ. Mặt mái lợp ngói lưu ly màu vàng và màu xanh lục, nóc mái lợp ngói lưu ly màu đỏ và màu xanh lam, khiến cho tổng thể kiến trúc mang một dáng vẻ tươi sáng, diễm lệ. Trong đền có một bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát trong tư thế ngồi. Trên các bức tường trang trí nhiều bức tranh mô tả mây, hóa lá. Trên mặt tiền của ngôi nhà đượt lát gạch men sắc vàng, xanh lá cây với các dải màu tím và xanh. Trên mặt tường khảm 1008 bức tượng Phật bằng thủy tinh đặt trong các hốc nhỏ, xếp thành hàng trên tường. Nhờ cấu trúc gạch đá mà công trình thoát khỏi trận hỏa hoạn do chiến tranh năm 1860, song các tượng bên trong và trên tường bị hư hại. 


Đền Biển Trí Tuệ trên núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Cụm công trình phía Bắc núi Vạn Thọ
Khu vực phía Bắc núi Vạn Thọ bắt đầu từ cổng phía Bắc (North Gate), qua phố thương mại Tô Châu, đi bộ lên núi Vạn Thọ. Tại đây có các hạng mục công trình chính: 

Phố chợ Tô Châu (Tô Châu jie): nằm tại trung tâm của tuyến hồ phía sau núi Vạn Thọ hay Hậu Hồ (HouHu/Back Lake). Đoạn phố này dài hoảng 300m, là biểu tượng cho tuyến phố thương mại đường thủy sôi động vào giữa thế kỷ 18 ở Tô Châu, Giang Nam. Tuyến phố được xây dựng dưới thời hoàng đế Càn Long, là nơi hoàng đế và gia quyến trải nghiệm việc mua sắm trên phố. Các hoạn quan đóng vai trò chủ cửa hàng và nhân viên bán hàng. Tại đây có đến hơn 60 cửa hiệu, bao gồm nhà hàng đồ cổ, hàng ăn, quán trà, tiệm cầm đồ, ngân hàng, nhà thuốc, cửa hàng quần áo, nhà in…10 khu buôn bán dọc theo Hậu Hồ được xây dựng từ năm 1860 đã bị hủy hoại. Cảnh quan của tuyến phố hiện nay là sản phẩm của đợt trùng tu vào năm 1986. 


Cổng phía Bắc núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 




Phố chợ Tô Châu, cụm công trình phía Bắc núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 


Chùa Phật giáo Tây Tạng
(Tibetan Style Temple) hay Tứ Đại Bộ Châu (Four Great Regions): được xây dựng dưới thời trị vì của hoàng đế Càn Long. Đây là một tổ hợp chùa Phật giáo Tây Tạng cổ điển và hiện là lớn nhất ở Bắc Kinh với diện tích khu đất rộng đến 2ha. Tổ hợp công trình được xây dựng kề liền vị trí của ngôi đền Sumenu xưa (hiện chỉ còn tàn tích nền). Chùa được thiết kế dựa theo tu viện Samye (Samye Monastery), là tu viện Phật giáo xây dựng đầu tiên tại Tây Tạng vào năm 775, lấy theo tên của ngọn núi Sumenu hay Meru, là ngọn núi 5 đỉnh linh thiêng của Ấn Độ, được coi là trung tâm của thế giới vật chất và tâm linh, là nơi ở của các vị Phật. Tứ Đại Bộ Châu tượng trưng cho 4 miền thế giới của Phật giáo (Đông Thắng Thần châu, Tây Ngưu Hoá châu, Nam Thiệm Bộ châu, Bắc Câu Lâu châu). Tổ hợp công trình được thiết kế theo 5 bậc thềm, cao dần tới đỉnh núi Vạn Thọ. Bậc thềm đầu tiên là sân hay nền của ngôi đền cổ Sumenu; Bậc thứ 2 là tòa chính điện và một số tháp nhỏ; Bậc 3, 4 có 8 tòa tháp, mỗi bên có 4 tháp khác nhau; Bậc 5 là đỉnh Vạn Thọ với một số tòa tháp nhỏ. Các tòa tháp thiết kế theo phong cách kiến trúc Hán và Tây Tạng. Tất cả cấu trúc bằng gỗ của công trình đã bị thiêu hủy trong cuộc chiến năm 1860. Chỉ có một phần được phục dựng lại. 




Chùa Phật giáo Tây Tạng, cụm công trình phía Bắc núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 

Hài Thú Viên (Garden of Harmonious Interest): là một phần phía Đông của vườn cảnh khu Hậu Hồ. Ngoài khu vực trung tâm dành cho Phố chợ Tô Châu, khu vườn cảnh Hậu Hồ có ít công trình kiến trúc, cây cối xanh tươi, đường dạo khúc khuỷu ven theo mặt nước, phong cảnh tĩnh mịch. Nổi bật nhất là Hài Thú Viên. Vườn được xây dựng vào năm 1811, bị phá hủy năm 1860 và được xây dựng lại vào năm 1893. Hài Thú Viên (hay Vườn vui thú với triết lý: Lòng tĩnh vì cảnh vật; niềm vui có thể đến từ ruộng vườn) được thiết kế mô phỏng theo vườn cảnh Ký Xướng (Jichang Garden) tại Vô Tích, tỉnh Giang Tây, là một khu vườn cổ điển nổi tiếng tương tự như vườn cổ điển Sư Tử Lâm Viên tại Tô Châu với một hồ sen tại trung tâm. Vườn gồm 13 công trình nhà, tháp, hành lang và các cây cầu nhỏ, được bố trí trang nhã và trang trọng. Khu vườn từng là nơi câu cá của Từ Hi Thái Hậu. Vẻ độc đáo của vườn cảnh Hậu Hồ được thể hiện qua 9 đặc điểm: Vẻ đẹp thay đổi theo mùa gắn với các loại cây như liễu, sen…; Vẻ đẹp mặt nước hồ Côn Minh với âm thanh của các dòng nước chảy như nhạc cụ; Vẻ đẹp của những cây cầu với những cái tên theo sự tích, truyền thuyết nổi tiếng; Vẻ đẹp của thư pháp trên các cột đá, tảng đá; Vẻ đẹp của các công trình kiến trúc duyên dáng và tinh tế; Vẻ đẹp của hội họa được trình bày trong nội thất công trình; Vẻ đẹp của hệ thống hành lang kết nối các không gian; Vẻ đẹp của sự mô phỏng lại vườn miền Nam Trung Quốc với cảm giác yên bình và tinh tế. 


Hài Thú Viên tại Hậu Hồ, cụm công trình phía Bắc núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên 

Cụm công trình phía Tây núi Vạn Thọ 
Khu vực phía Tây núi Vạn Thọ vào từ cổng phía Tây Bắc (North West Gate). Tại đây có nhiều hạng mục công trình, trong đó có hạng mục công trình nổi tiếng:

Thuyền đá cẩm thạch (Qingyan/Marble Boat) hay Thanh Yến Phảng: nằm tại phía Tây của núi Vạn Thọ, tại mặt phía Bắc của hồ Côn Minh. Xưa kia đây là nơi đặt đài phóng sinh của chùa Viên Tĩnh. Khi hoàng đế Càn Long tu sửa vườn vào năm 1755, ông đã cho cải tạo công trình này thành một chiếc thuyền dài 36m bằng đá bạch ngọc, được cho là biểu tượng của triết lý: Dân như nước. Nước có thể đẩy thuyền và cũng có thể lật thuyền. Tên thuyền “Thanh Yến Phảng” với ý nghĩa cầu mong cho “biển yên, sông lặng”. Thuyền được tạo hình theo kiểu thuyền truyền thống của Trung Quốc, dạng “lầu thuyền” với 2 tầng lầu bằng gỗ sơn giả đá, sàn lát gạch hoa, cửa sổ bằng pha lê, mái lợp ngói có trang trí. Đường thoát nước của hệ mái thuyền được thiết kế rất tinh xảo - khi mưa xuống nóc thuyền, nước được gom về 4 trụ rỗng trên thân thuyền, dồn về 4 miệng ống thoát nước hình đầu rồng xả xuống hồ. Toàn thân thuyền được điêu khắc bởi những hoa văn hình rồng. 


Thuyền đá cẩm thạch, cụm công trình phía Tây núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Học viện Hải Quân
(Naval Academy): nằm tại phía Tây Hồ Côn Minh. Người ta cho rằng, Từ Hi Thái Hậu lấy tiền của Bộ Hải quân để xây dựng Di Hòa Viên. Để hợp pháp việc này, bà đã cho xây dựng tại đây Học viện Hải quân.  


Học viện Hải Quân, cụm công trình phía Tây núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Khu vực hồ Côn Minh và vườn cảnh 
Khu vực hồ Côn Minh và vườn cảnh là phần phía Nam của Di Hòa Viên. Khu vực được tiếp cận từ 3 cổng: Cổng phía Nam (South Gate); Cổng nhỏ phía Đông (Minor Gate); Cổng phía Tây (West Gate). 

Hồ Côn Minh – Ngũ hồ
Hồ Côn Minh trước đây là một hồ nước tự nhiên, nơi có nhiều suối ở Tây Bắc của Bắc Kinh, sau đó được đào mở rộng thành một hồ nhân tạo chứa nước sinh hoạt cho thành phố vào năm 1291. Từ đây, hồ trở thành một thành phần của khu vườn hoàng gia, được mở rộng và hoàn thiện vào năm 1750- 1764. Hồ có diện tích khoảng 220 ha, độ sâu trung bình khoảng 1,5m. Ngày nay, hồ Côn Minh cũng là điểm cuối của tuyến vận chuyển nước Nam – Bắc đi qua 1277km từ hồ chứa nước Giang Giang, xây dựng năm 1958, tại tỉnh Hồ Bắc cung cấp nước chính cho thành phố Bắc Kinh.
Hệ thống hồ Côn Minh gồm 5 cụm hồ chính, nối thông với nhau và thông với hệ thống kênh dẫn nước tại phía Nam và phía Tây Di Hòa Viên...Nếu lấy núi Vạn Thọ làm trung tâm, 5 hồ thuộc hệ thống hồ Côn Minh gồm: Hồ tại phía Bắc hay Hậu Hồ (Back Lake); Hồ phía Nam (South Lake); 3 cụm hồ tại phía Tây (West Lake). 

Hậu Hồ (Hậu Hồ/HouHu): là một đoạn hồ hay đoạn sông thu hẹp của hồ Côn Minh, chạy từ Đông sang Tây đổ vào hồ chính. Hồ được chia thành 3 đoạn: Đoạn phía Đông của hồ là nền cảnh quan cho Hài Thú Viên tại phía Bắc của cụm công trình phía Đông núi Vạn Thọ; Đoạn trung tâm của hồ được xây dựng phỏng theo đoạn sông Tô Châu (Suzhou River) với hai bên bờ là phố thương mại sầm uất cổ xưa (Suzhou Market Street); Đoạn phía Tây của hồ kè các tảng đá khổng lồ bên bờ được cho là tượng trưng của khung cảnh kỳ diệu của vách đá Tam Hiệp, sông Dương Tử. Nối hai bên bờ hồ là các cây cầu nhỏ. 


Hậu Hồ, hồ Côn Minh, Di Hòa Viên

Hồ tại phía Nam núi Vạn Thọ (South Lake): là hệ thống hồ chính. Trên hồ có một hòn đảo được nối với bờ phía Đông của hồ bằng cây cầu 17 nhịp. 


Hồ tại phía Nam núi Vạn Thọ, gắn với đảo Nam Hồ và cầu 17 nhịp, Di Hòa Viên

Cụm hồ tại phía Tây núi Vạn Thọ: bao gồm 3 hồ, 1 hồ nhỏ và 2 hồ lớn. Hồ nhỏ nằm tại khu vực Làng Chài (Water Village/Super Fishing Area), tại phía Tây Bắc của hồ chính. Hồ nhỏ nối với hai bên bờ bằng hai cây cầu: Cầu phân đôi hồ (Jiehu/ Lake-Dividing Bridge) và Cầu của các bài thơ mùa vụ (Youfeng/Bridge of Pastoral Poems/ Breeze). Hai hồ lớn, đều mang tên hồ phía Tây (West Lake), được hình thành bởi tuyến đê chạy theo hướng Tây Bắc –Nam (West Dyke), tuyến đê chạy theo hướng Tây Nam – Bắc và tuyến kênh dẫn nước Miyun Bắc Kinh (Beijing Miyun Irrigation Canal) tại phía Tây và Nam. 


Cụm hồ và tuyến đê tại phía Tây núi Vạn Thọ, Di Hòa Viên

Đảo trên hồ và cầu ra đảo
Di Hòa Viên có 3 hòn đảo chính trên hồ tượng trưng cho 3 ngọn núi thần tiên: Bồng Lai, Doanh Châu và Phương Trượng ở vịnh Bột Hải, thuộc biển Hoàng Hải. 

Đảo Nam Hồ (Nanhu/ South Lake Island): là hòn đảo lớn nhất trong số ba hòn đảo của hồ Côn Minh, tượng trưng cho đảo Bồng Lai. Hòn đảo rộng hơn 1 ha này nằm ở phía Đông Nam của hồ, được hình thành khi người ta đào đất mở rộng hồ nhân tạo Côn Minh. Đảo được viền bằng các tảng đá lớn và hàng rào đá có chạm khắc; được kết nối với bờ phía Đông bằng cây cầu 17 nhịp (Thập Thất Khổng Kiều). Đảo được hình thành vào thời hoàng đế Càn Long. Trên đảo có một số hạng mục công trình như lầu ngắm cảnh, đền thờ Long Vương, được xây dựng trên nền của đền thờ Thần Rồng từ thời nhà Minh (1368-1644), là nơi thờ thần mưa. Tại đây có tòa lầu Hanxu, nằm trên một tảng đá, là nơi hoàng đế Càn Long dùng để xem các cuộc tập trận hải quân. Đào Nam Hồ còn được cho là giống hình tượng một con rùa đang bò từ hồ Côn Minh lên bờ; Cây cầu 17 nhịp được cho là cổ kéo dài của con rùa. Đầu rùa là công trình đầu cầu (Pavilion of Broad View). Đối với người dân Trung Hoa, rùa là biểu tượng của sự trường thọ. Điều này cũng tương tự như hình dạng của hồ Côn Minh tương tự như quả đào, tượng trưng cho mạnh khỏe và trường thọ.
Thập Thất Khổng Kiều (Seventeen-Arch): là cầu đá với 17 nhịp vòm cuốn. Đây là cây cầu đá lớn nhất Di Hòa Viên, được xây dựng dưới triều đại của hoàng đế Càn Long, rộng 8m, dài 150m, lấy cảm hứng từ những cây cầu nhiều nhịp vòm nổi tiếng khác của Trung Quốc như cầu Lugou (Marco Polo Bridge) tại Bắc Kinh, cầu Baodai (Precious Belt Bridge) ở Tô Châu, tỉnh Chiết Giang. Trên hai lan can cầu được trang trí bằng các tác phẩm điêu khắc, với nhiều đề tài, đặc biệt là có trên 544 tượng sư tử bằng đá trắng, mang phong thái rất sinh động. 

Đảo Tuần Thành (Tuancheng Island) hay đảo pháo đài tròn: là hòn đảo nằm giữa hồ Tây (West Lake) – hố phía trên. Đảo không có cầu ra đảo. 

Đảo Zaojiantang (Zaojiantang Island): nằm giữa hồ Tây – hồ phía dưới. Trên đảo có công trình Zaojian (Zaojian Hall). Đảo nối với bờ bằng một tuyến đường nhỏ. 


3 hòn đảo chính trên hồ Côn Minh, Di Hòa Viên: Phía trên là đảo Nam Hồ; phía dưới là đảo Tuần Thành; phía trên bên phải là đảo Zaojiantang

Ngoài 3 đảo lớn tại đây còn có một số đảo nhỏ như: Đảo Phượng Hoàng (Phoenix Island), nằm tận cùng phía Nam của Di Hòa Viên; Đảo xây lầu Báo Xuân: là một hòn đảo nhỏ, nằm đối diện tháp Văn Xương, bên bờ Đông của hồ Côn Minh, bên trên có lầu Báo Xuân. 

Tuyến đường đê, cầu và công trình trên đê 
Di Hòa Viên có hai con đê hay đập: Tuyến đê phía Tây, ngăn chia hồ phía Nam và hồ phía Tây; Tuyến đê ngăn chia hai hồ phía Tây. 

Đê phía Tây (West Dyke/ West Causeway): ngăn chia hồ phía Nam và phía Tây, chạy theo hướng Bắc – Nam. Trên con đường đê được trồng đào và liễu. Khi mùa Xuân đến, khung cảnh tươi sáng, những con sóng nước lặng lẽ, màu xanh của khóm liễu và màu đỏ của hoa đào kết hợp lại, tất cả tạo thành cảnh quan điển hình của miền Nam Trung Quốc. Trên tuyến đê có 6 cây cầu và một công trình. 

Cầu phân đôi hồ (Jiehu/ Lake-Dividing Bridge): là cây cầu đầu tiên, từ Bắc xuống Nam của tuyến đường đê phía Tây. Cầu được xây dựng vào thời hoàng đế Càn Long. Phía trên cầu là một tòa lầu. Tòa lầu đã bị hỏa hoạn năm 1860. Đối diện bên kia hồ là tòa nhà Thuyền (Booth House).  


Cầu phân đôi hồ, Di Hòa Viên

Cầu của các bài thơ mùa vụ (Youfeng/Bridge of Pastoral Poems/ Breeze): tên của cầu được theo một điệu hát cổ xưa mô tả cuộc sống của người nông dân Trung Quốc, thể hiện sự quan tâm của các vị hoàng đế với hoạt động nông nghiệp. 


Cầu của các bài thơ mùa vụ, Di Hòa Viên

Cầu Vành Đai Ngọc
(Yudai/Jade Belt Bridge): là cây cầu vòm có hình dáng như một nhẫn ngọc. Công trình được xây dựng từ năm 1751- 1764, theo phong cách những cây cầu mảnh mai ở miền Nam Trung Quốc. Cầu được làm từ đá cẩm thạch với các lan can đá được trang trí bằng viên bi trắng kết hợp với vành đai ngọc. Vòm cầu được xây để thuyền rồng của hoàng đế Càn Long có thể đi qua. 


Cầu Vành Đai Ngọc, Di Hòa Viên

Cầu Gương
(Jing/Mirror Bridge): là cây cầu phía Nam của cầu Vành Đai Ngọc, được xây dựng vào thời hoàng đế Càn Long và được xây dựng lại vào thời hoàng đế Quang Tự. Cây cầu có tên theo ý thơ trong một bài của nhà thơ Lý Bạch (năm 701-762), một nhà thơ vĩ đại thời nhà Đường; 


Cầu Gương, Di Hòa Viên

Cầu Lụa
(Lian/Silk Bridge): là cây cầu được xây dựng vào thời hoàng đế Càn Long, được xây dựng lại vào thời hoàng đế Quang Tự. Cầu có mái che, dạng mái kép, là nơi dừng chân nghỉ ngơi và ngắm cảnh.

 
Cầu Lụa, Di Hòa Viên

Cầu Liễu (Liu/Willow Bridge): là cây cầu nằm tại phía Nam, nối hồ phía Nam và hồ phía Tây. Cầu ban đầu được xây dựng vào thời hoàng đế Càn Long, sau được xây dựng lại vào thời hoàng đế Quang Tự. Cầu có tên theo một bài thơ cổ nổi tiếng về những cây liễu; 


Cầu Liễu, Di Hòa Viên.
 

Khu vực vườn cảnh ven hồ
Dọc theo các hồ có các dải đất vườn cảnh quan, tạo thành cảnh non nước bát ngát. Tại đây có một số công trình nổi bật:

Tượng Kim Ngưu (Bronze Ox) nằm phía Đông Hồ Côn Minh và phía Đông Bắc cầu 17 nhịp (Thập Thất Khổng Kiều). Tượng được đúc bởi hoàng đế Càn Long vào năm 1755, với tên gọi "Kim Ngưu" phỏng theo truyền thuyết về vua Đại Vũ vào thời nhà Hạ, đi chống lũ đã làm lễ tế thần trị thủy và thả một con trâu bằng sắt xuống sông. Sau khi đúc xong, hoàng đế Càn Long còn cho khắc một bài thơ bằng chữ triện lên lưng trâu mang tên “Kim Ngưu Minh”. Tượng là biểu trưng cho khát vọng kiểm soát lũ lụt, một trong những nguyên nhân gây tai họa mất mùa, chết nhiều người thời Trung Quốc cổ đại. Tượng Kim Ngưu là một trong những tượng trâu lớn nhất ở Trung Quốc, phản ánh mức độ đúc kim loại bậc cao của Trung Quốc thời bấy giờ.


Tượng Kim Ngưu, bên hồ Côn Minh, Di Hòa Viên

Lầu Ngắm cảnh với tầm nhìn rộng (Kuoru Ting/Grand Pavilion/ Pavilion of Broad View): nằm tại phía Đông của Thất Thập Khổng kiều. Công trình Lầu nghỉ chân được cho là có kích thước lớn nhất tại Trung Quốc; mặt bằng hình bát giác, hai tầng mái, 16 trụ vuông tại lối vào và 24 trụ tròn, diện tích 130m2. Trong lầu treo các bài thơ, phú của hoàng đế Càn Long. 


Lầu Ngắm cảnh bên hồ Côn Minh, đầu cầu 17 nhịp, Di Hòa Viên

Tháp Kính Minh (Jingming Building/Pavilion of Bright Scenery): nằm trên tuyến đê phía Tây, giữa cầu Lụa và cầu Liễu. Công trình bị người Anh và Pháp phá hủy năm 1860 và được trùng tu chỉ vào năm 1992. Công trình được cho là thiết kế mô phỏng theo Nhạc Dương Lâu, bên hồ Động Đình, tỉnh Hồ Nam. 


Tháp Kính Minh bền hồ Côn Minh, Di Hòa Viên

Cho tới ngày nay, Di sản văn hóa Di Hòa Viên tại Bắc Kinh, Trung Quốc vẫn được coi là một trong những công viên đẹp nhất thế giới, là đỉnh cao của hàng trăm năm thiết kế vườn hoàng gia và có ảnh hưởng to lớn đến nghệ thuật và văn hóa vườn phương Đông.
 

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD
Nguồn:
https://whc.unesco.org/en/list/880
https://en.wikipedia.org/wiki/Summer_Palace
https://en.wikipedia.org/wiki/Kunming_Lake
https://en.wikipedia.org/wiki/Long_Corridor
https://en.wikipedia.org/wiki/Marble_Boat
https://en.wikipedia.org/wiki/Jade_Belt_Bridge
http://www.summerpalace-china.com/en/contents/159/3886.html
https://www.beijingbuzzz.com/summer_palace_introduction/map.html
https://www.travelchinaguide.com/attraction/beijing/summer/east_gate.htm
http://www.visitourchina.com/beijing/attraction/summer-palace.html
http://www.chinaculturetour.com/beijing/summer-palace.htm
 

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Á và châu Đại Dương     

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Âu

Danh sách và bài viết  về Di sản thế giới tại châu Mỹ

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Phi

 
Cập nhật ( 04/02/2019 )
 
Tin đã đưa:
“Đặt ra kế hoạch thật tốt, thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu, kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể phải 20 phần, chỉ đạo sát sao phải là 30 phần- có như thế mới hoàn thành kế hoạch”
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com