Tuần -11 - Ngày 19/05/2024
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em cảm thấy vô hướng quá  

Em chào thầy ạ, em là 1 sinh viên đang theo học tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội và cũng đang học trong lớp Kiến trúc Công nghiệp của thầy ạ. Em có 1 số vấn đề nội tâm rất mong muốn được thầy giúp đỡ và mách bảo ạ. 
Vấn đề chính em đang gặp phải là em cảm thấy rất vô hướng như trong tiêu đề ạ. Em thấy bản thân mình không có tý năng lực nào để mai sau có thể hành nghề kiến trúc sư. Hiện tại em bị nản chí và cũng lo sợ nữa. Em vào trường cũng vì ước mơ có thể xây ngôi nhà do chính mình thiết kế và hành nghề. Nhưng em cảm thấy mình không đủ năng lực để có thể hành nghề, kiến thức trên trường là vô cùng lớn mà dù e đã học rồi nhưng lại bị quên lãng chỉ sau 1 học kỳ. Em cũng không giỏi vẽ và vẽ rất xấu nếu vẽ tay thì nhìn rất trẻ con và thiếu chuyên nghiệp, nhìn các bạn khác em cảm thấy rất tự ti, Em cũng không biết mình còn có thể đủ trình độ để đi thực tập không nữa. Chuyên môn của em em tự đánh giá là khá tệ, em rất suy sụp và cố gắng học những gì có thể mà chuyên ngành cần. Thầy có thể cho em xin ý kiến và liệu có giải pháp khắc phục không ạ, em rất sợ rằng nếu hành nghề thì bản thân không giỏi giang thì kinh tế làm ra sẽ bị thấp, không đủ sống. Vậy em phải làm sao ạ. 


Trả lời:

Thày đã nhận được thư.

Năng lực tự thân thời điểm này là kết quả của năng lực tự rèn luyện giai đoạn trước. Như em nêu trong thư, năng lực tự thân yếu, trước hết thể hiện:
i) Kiến thức chuyên môn còn nhiều khoảng trống và ngày càng rộng ra, do việc học không chăm chỉ;
ii) Trình bày bản vẽ kiến trúc xấu, do không cẩn thận khi thiết kế;
iii) Mất niềm tin vào chính mình, nản chí và dẫn đến lo sợ cho tương lai. 
Phải thấy đó là điều không tốt đẹp do chính em gây ra, để có trách nhiệm mà sửa mình. 
Được gia đình hỗ trợ, có sức khỏe và năng lực để học đến năm thứ 3, là may mắn lắm, khi so sánh với rất nhiều thanh niên người Việt khác. 

Một số việc phải làm ngay: 
i) Thay đổi ngay nhận thức cũ: Ta phải trở thành người tài với cả kỹ năng cứng và mềm phù hợp để cạnh tranh và hợp tác, không chỉ trong kiến trúc mà cả lĩnh vực liên quan khác mà xã hội đang cần và tạo ra giá trị gia tăng;
ii) Sử dụng thời gian hợp lý: Một ngày ngủ đủ 6- 7 tiếng để tái tạo sức lao động. Thời gian còn lại dành cho: Học ngoại ngữ và chuyển đổi số; Đi học đầy đủ và lắng nghe bài giảng; Đọc sách và tài liệu bổ sung kiến thức; Chủ động trao đổi chuyên môn với giảng viên và bạn bè;
iii) Chăm chỉ tự học tập: Lời chê ghê gớm nhất là Kẻ lười nhác. Từ Kẻ lười nhác đến Kẻ hèn hạ và vô dụng rất gần nhau. Không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mà học hỏi, mà phải có kế hoạch tự học, từ trong sách vở đến mạng xã hội và thực tế;
iv) Mở ra với thế giới bên ngoài: Tìm người có đức, có tài mà chơi để học kiến thức và sự đồng thuận; Ra với môi trường tự nhiên mà hòa vào trong đó. Sẵn sàng trải nghiệm làm những điều tốt đẹp; 
v) Còn 2 năm nữa mới ra trường. Phải học để tốt nghiệp đại học, điểm khởi đầu sự nghiệp của một người tri thức. Đây là thời gian đủ để em tìm lại sự cân bằng cảm xúc và tận tâm thay đổi chính mình.

Nếu có vấn đề gì về việc học tập có thể trao đổi với thày. Thày sẵn sàng đồng hành.

Ngày 4/11/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Em kính chào thầy ạ.
Em đang đọc lần 2 quyển sách Nghĩ giàu làm giàu, xuất bản lần đầu năm 1937. Quyển sách được viết từ 90 năm trước nhưng nó vẫn đang phản ánh nhiều thực tế.
Em đã đọc được rằng "các cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm hơn nữa trong việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên".
Em nghĩ đó là việc các thầy đang làm không ngừng. 
Em viết mail này để cảm ơn công việc của thầy ạ.

Em cảm ơn thầy đã đọc ạ.
Sinh viên 60KD3


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Rất cám ơn về những dòng chia sẻ, động viên. 
Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên không chỉ liên quan đến việc đào tạo kỹ năng cứng mà còn phải là kỹ năng mềm, liên quan trước hết đến năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. 
Cuốn sách "Nghĩ giàu, làm giàu" chỉ là một trong những nội dung mà thế hệ trẻ quan tâm.
Điều lớn lao hơn là họ phải có năng lực tự thân và năng lực tự rèn luyện để hình thành sự nghiệp và trở thành người tốt cho gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với chuẩn mực chung của loài người trong thế kỷ 21. 
Sinh viên là tương lai của thày.
Thày cùng các thày cô giáo khác đang nỗ lực hết sức để biến tương lai tốt đẹp đó thành hiện thực. 
Thày đang viết một cuốn sách với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên (và cựu sinh viên) trong lĩnh vực xây dựng'. Dự kiến tháng 5/2023 xuất bản. 
Chúc mọi điều tốt lành. 
Ngày 8/3/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 

 
 
Hỏi:

 

Thưa thầy, em xin gửi kết quả bigfive mới của bản thân, qua đây em cũng xin cảm ơn thầy vì thông qua bài khảo sát bigfive và những lời thầy nói, em đã cố gắng khắc phục những yếu điểm của bản thân và cũng như trau dồi thêm kiến thức để khai phá bản thân, và thực tế đã có những chuyển biến tích cực trong cuộc sống và công việc của em, tuy vậy bản thân em cũng vẫn còn những thiếu sót, những điều em chưa thay đổi đc, em mong thầy thông cảm và trân thành cảm ơn thầy đã lắng nghe em.

 

Sinh viên Khóa 53KD, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, ĐHXD Hà Nội

 


Trả lời:

 

Đã nhận được kết quả Big Five. Nên ghép thêm kết quả của những sinh viên khác, người khác để có thể so sánh và rút ra được nhận xét ta là ai và từ đó tự sửa mình. 

Kết quả cho thấy: Tính cách (hay kỹ năng mềm) thuộc loại trung bình. Yếu về tính hướng ngoại. 

Từng bước, từng bước mà cố gắng hơn. 

 

Ngày 3/2/2023, thày Phạm Đình Tuyển 

 


Hỏi:  Em gửi thầy kết quả Big Five ạ.




Trả lời: Thày đã nhận được kết quả đánh giá Big Five của em. 
Sau một năm tự nhìn nhận mình là ai và đã có những thay đổi . 
Tính cách Tận tâm và Hướng ngoại được cải thiện so với trước. 
Tính cách Cân bằng cảm xúc vẫn yếu như cũ. Theo các nghiên cứu mà thày được biết, tính cách Cân bằng cảm xúc là cốt lõi. Mọi năng lực hoạt động chuyên môn, xã hội của một con người đều dựa vào đây mà ra cả. 
Ta có mặt trên đời này đều có nguyên cớ tốt đẹp nào đó.  Phải tự tin hơn nữa vào chính mình, trước hết là từ công việc chuyên môn, nay chính là đồ án tốt nghiệp. 
Thày sẽ hỗ trợ chuyên môn để em có kết quả tốt nhất trong việc thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 
Ngày 10/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển.  
 

Hỏi: E chào thầy ạ! E là Thắng ,sinh vien nhận đồ án tốt nghiệp nhóm thầy, nhóm mình có nhóm zalo riêng hay thế nào để trao đổi về đồ án k ạ ? Em tìm sđt thầy để add Zalo nhưng không được ạ! Em cảm ơn thầy.
Trả lời: Trao đổi trực tiếp với thày qua mail. 
 
Một số nội dung chính thực hiện trong 4 tuần đầu tiên: :
 
1) Đọc kỹ các yêu cầu về nội dung Học phần đồ án tốt nghiệp của Khoa và Bộ môn KTCN; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành ngay trong tuần thứ 1)  
2) Báo cáo về tên đề tài tốt nghiệp, vị trí cụ thể khu đất dự kiến theo tỷ lệ 1/500 (hoàn thành trong tuần thứ 1)
3) Chuản bị các quy định, tiêu chuẩn thiết kế có liên quan đến đề tài; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành trong tuần thứ 2)
4) Tìm 5 ví dụ trên thế giới về các công trình tương tự với loại hình dự kiến trong đề tài tốt nghiệp; nhận xét và đánh giá, kết luận rút ra để có thể ứng dụng cho đề tài (4 tuần phải hoàn thành); 
5) Đọc lại các nguyên lý thiết kế kiến trúc đã được học (phải làm ngay và liên tục cho đến khi bảo vệ đề tài);
6) Nên tự đánh giá Ta là ai. Đánh giá theo phần mềm  Big Five- tính cách sinh viên, để thày biết rõ hơn về sinh viên. 
Phần mềm đánh giá: http://talaai.com.vn/   (talaai.com.vn)
Sau đó gửi ngay kết quả đánh giá tính cách cho thày, để có thể hỗ trợ. 
 
Gặp nhau 2 tuần/lần. Mỗi lần gặp cần chuẩn bị sẵn câu hỏi để có thể trao đổi tối đa những vấn đề liên quan đến đề tài tốt nghiệp mà không tự trả lời được. 
Địa điểm gặp: Chiều thứ tư hàng tuần, từ 16h - 17h30 tại Văn phòng Bộ môn KTCN. 
 
Đồ án tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng của đời người lao động trí óc. 
Phải nỗ lực hết sức và dành tất cả thời gian, nguồn lực cho đồ án. Từ đây mới có kết quả tốt nhất, để trải nghiệm, hình thành năng lực cần thiết chuẩn bị cho việc ra trường và làm việc với vô số những người tài khác trong xã hội. 
 
2/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển. 
 

Hỏi:  Em chào bộ môn ạ, em là Hoàng Đức Dương lớp 66XD8 msv-0013966 đang làm bài tiểu luận về công trình dân dụng ạ em thấy bộ môn có đăng bài về công trình galaxy soho ở Trung Quốc vậy em muốn xin bộ môn cho em bài đăng đó được không ạ, em xin cảm ơn bộ môn,em chào bộ môn ạ.


Trả lời: Trang WEB bmktcn.com được thành lập với mục tiêu chính là phục vụ sinh viên. Đương nhiên là em được đăng lại các bài viết trên trang WEB này. 
Chủ  biên: TS. Phạm ĐÌnh Tuyển 

Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Bộ Xây dựng cung cấp 37 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4
+ NĐ 109/2022/NĐ-CP quy định về hoạt động KHCN trong cơ sở giáo dục ĐH
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Truyền thuyết Kiến trúc kho báu Chùa Một Cột
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Quần thể đền chùa hang Ellora tại Aurangabad, bang Maharashtra, Ấn Độ - P1
19/04/2019
 

Thông tin chung: 
Công trình: Quần thể đền chùa hang Ellora (Ellora Caves)
Địa điểm: Làng Verul, phân khu Khulatabad Taluk, quận Aurangabad, bang Maharashtra, Ấn Độ (N20 1 35.004 E75 10 45.012)
Thiết kế kiến trúc:
Quy mô: Quần thể bao gồm 34 hang
Năm hình thành: 600- 1000 sau Công nguyên
Giá trị: Di sản thế giới (1983; hạng mục i ; iii ; vi) 

Ấn Độ (India) là một quốc gia tại Nam Á, có diện tích 3.287.263 km2 (đứng thứ 7 trên thế giới); dân số khoảng 1324 triệu người (năm 2016).
Ấn Độ tiếp giáp Ấn Độ Dương tại phía Nam, biển Ả Rập phía Tây Nam, vịnh Bengal phía Đông Nam, giáp Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal, Bhutan ở phía Đông Bắc; Myanmar và Bangladesh ở phía Đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện nền văn minh lưu vực sông Ấn (Indus Valley Civilisation) thời Cổ đại, có các tuyến đường buôn bán mang tính lịch sử cùng với những đế quốc rộng lớn, giàu có về thương mại và văn hóa.
Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên (TCN), tại đây đã xuất hiện các đô thị lớn với số dân hàng vạn người, được quy hoạch với hệ thông thoát nước, cấp nước phức tạp, nhà gạch nung, các kỹ thuật mới trong hoạt động thủ công mỹ nghệ và luyện kim…

Sự phân tầng xã hội, dựa trên đẳng cấp, xuất hiện trong thiên niên kỷ thứ nhất TCN. Sự tập quyền chính trị sớm nhất diễn ra dưới thời đế chế Maurya (Maurya Empire, tồn tại trong giai đoạn năm 322 - 187 TCN); đế chế Shunga (Shunga Empire, tồn tại trong giai đoạn 187- 78 TCN) và đế chế Gupta (Gupta Empire, tồn tại trong giai đoạn năm 319 đến 550).

Trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 3 TCN đến thế kỷ thứ 13 sau Công nguyên tại Tiểu lục địa Ấn Độ tồn tại nhiều vương quốc (Middle kingdoms of India). Các vương quốc này có ảnh hưởng to lớn đến nền văn hóa của khu vực xung quanh, lan truyền đến tận Đông Nam Á.

Đây cũng là nơi bắt nguồn của 4 tôn giáo nội sinh lớn: 
Hindu giáo (Hinduism/ Ấn Độ giáo) là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới, xuất phát từ khu vực Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh), là sự hợp nhất hay tổng hợp các nền văn minh truyền thống Ấn Độ khác nhau và  không có người sáng lập; hình thành từ năm 500 TCN đến 300 sau Công nguyên, sau khi kết thúc thời kỳ Vệ Đà (Vedic period, năm 1500 – 500 TCN), phát triển mạnh trong thời Trung cổ, cùng với sự suy tàn Phật giáo ở Ấn Độ. Hindu giáo bao gồm các nhóm tôn giáo khác biệt nhau về triết lý, song được liên kết bởi các khái niệm chung, các nghi thức, vũ trụ học, tài nguyên văn bản Hindu (luận về thần học, triết lý, thần thoại, kinh Vệ Đà, Yoga, nghi lễ, cách thức xây dựng đền thờ) và tập tục hành hương đến các địa điểm linh thiêng. Bốn giáo phái lớn nhất của Hindu giáo là Vaishnavism, Shaivism, Shaktism và Smartism.
Phật giáo (Buddhism) do Đức Thích Ca Mâu Ni (Siddhartha Gautama/ Tất đạt đa Cồ đàm, năm 624 TCN – 534 TCN) sáng lập. Sau này phân hóa thành nhiều nhánh: Phật giáo Nguyên thủy (Nam Tông, Thượng tọa, Tiểu thừa); Phật giáo Đại thừa (Bắc tông, Đại chúng); Phật giáo Chân ngôn (Tây Tạng, Mật tông, Kim cương thừa).
Jaina giáo (Jainism/Kỳ Na giáo) do Đức Jina Mahavira (năm 599 TCN – 527 TCN) sáng lập ra tại Bắc Ấn Độ với triết lý và phương thức thực hành dựa vào nỗ lực bản thân để đến cõi 
Niết Bàn;
Sikh giáo (Sikhism) do Đức Guru Nanak (15/4/1469- 22/9/1539) sáng lập vào thế kỷ 15 tại vùng Punjab, giữa Pakistan và Ấn Độ.
Ngoài ra, tại đây còn xuất hiện các tôn giáo ngoại nhập như: Do Thái giáo (Judaism), Bái Hỏa giáo (là tôn giáo do nhà tiên tri Zoroaster sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ 7 TCN tại miền Đông Đế quốc Ba Tư cổ đại), Cơ Đốc giáo (Christianity) và Hồi giáo (Islamic). Các tôn giáo này được truyền đến Ấn Độ vào thiên niên kỷ thứ nhất sau 
Công nguyên, bổ sung vào văn hóa đa dạng của khu vực.

Vào thời Trung cổ, phần lớn miền Bắc Ấn Độ thuộc Vương quốc Hồi giáo Delhi (Delhi Sultanate), kéo dài trong khoảng 320 năm (năm 1206- 1526); Miền Nam Ấn Độ phân thành nhiều vương quốc nhỏ, ví dụ như: Vương quốc Vijayanagara (Vijayanagara Empire): nằm trên Cao nguyên Deccan (Deccan Plateau), tồn tại năm 1336 - 1646; Vương quốc Đông Ganga (Eastern Ganga dynasty): nằm tại khu vực ven biển phía Đông, giữa sông Mahanadi và sông Godavari, tồn tại vào thế kỷ 11- đầu thế kỷ 15. 
Vào thế kỷ 16, Đế quốc Mughal (Mughal Empire, năm 1526 – 1857) hình thành, chinh phục các vương quốc nhỏ, mở rộng lãnh thổ ra gần như toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ và một phần của Afghanistan với số dân vào giai đoạn cực thịnh lên đến 150 triệu người.
Tiểu lục địa Ấn Độ dần bị Anh thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ 18, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh từ giữa thế kỷ 19.
Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947, sau cuộc đấu tranh giành độc lập do Mahatma Gandhi 
(2/10/1869 – 30/1/1948) lãnh đạo. 
Ngày nay Ấn Độ là một liên bang, bao gồm 29 bang và 7 vùng lãnh thổ thuộc liên bang. Dưới bang là các đơn vị hành chính: quận (huyện, khu); phân khu và làng xã.

Maharashtra là một bang nằm ở miền Tây Ấn Độ, giáp biển Ả Rập (Arabian See), thủ phủ là thành phố cảng biển Mumbai, trước đây còn gọi là Bombay. 
Aurangabad là một thành phố du lịch thuộc quận Aurangabad, bang Maharashtra, được bao quanh bởi nhiều Di sản thế giới, trong đó có Quần thể chùa hang Ajanta (Ajanta Caves, Di sản thế giới) và Đền chùa hang Ellora (Ellora Caves). 


Bản đồ Ấn Độ và vị trí bang Maharashtra tại phía tây Ấn Độ

Quần thể đền chùa hang Ellora nằm cách 29km về phía Tây Bắc thành phố Aurangabad, bang Maharashtra; cách khoảng 100 km về phía Tây Quần thể chùa hang Ajanta; cách 300 km về phía Đông Bắc thành phố cảng Mumbai.
Ellora là một vùng đất tương đối bằng phẳng của dãy núi Sahyadri, còn gọi là Western Ghats. Đây là nơi hoạt động của núi lửa vào thời cổ đại, phun trào tạo ra nhiều lớp đá bazan, hình thành cao nguyên Deccan.
Vị trí xây dựng Quần thể đền chùa hang Ellora liên quan đến tuyến đường thương mại Nam Á cổ đại, nối trung tâm tiểu lục địa Ấn Độ tới thành phố cảng Mumbai ra biển Ả Rập. Đây không chỉ là địa điểm của điện thờ, thiền viện và nơi dừng chân cho khách hành hương với mục đích lan truyền và phổ biến tôn giáo, mà còn trở thành một trung tâm phục vụ cho mục đích thương mại (nơi cầu nguyện may mắn cho việc buôn bán) quan trọng tại khu vực cao nguyên Deccan, phía Nam Ấn Độ.

Quần thể đền chùa Ellora được tạc vào trong các vách đá bazan và là một trong những quần thể kiến trúc hang động nhân tạo bằng đá lớn nhất thế giới với các tác phẩm tượng, điêu khắc, tranh nghệ thuật Phật giáo, Hindu  giáo, Jaina giáo, có từ thời năm 600- 1000 sau Công nguyên. 
Hơn 100 hang động đã được khai quật tại ngọn đồi mang tên Charanandri (Charanandri Hills), 34 trong số đó mở cửa cho công chúng vào thăm quan, gồm: 12 hang động Phật giáo (Hang ký hiệu 1 đến 12); 17 hang động Hindu  giáo (Hang 13- 29 ) và 5 hang động Jaina giáo (Hang 30 - 34). Mỗi nhóm hang đại diện cho các vị thần, thánh và thần thoại đang thịnh hành trong thiên niên kỷ thứ 1 sau Công nguyên và cũng là điện thờ, thiền viện của mỗi tôn giáo tương ứng. 

Các hang này được xây dựng gần nhau và minh họa sự hòa hợp tôn giáo tồn tại vào thời Ấn Độ cổ đại.
Tất cả các di tích của Quần thể hang Ellora được xây dựng trong thời kỳ Tiểu lục địa Ấn Độ có nhiều vương quốc (Middle kingdoms of India). Về thời gian xây dựng, có ý kiến cho rằng:  Các đền chùa hang Phật giáo và Hindu giáo được xây dựng dưới thời vương triều Kalachuri (Kalachuri dynasty, cai trị ở phía Tây trung tâm tiểu lục địa Ấn Độ giữa thế kỷ thứ 6- 7) và vương triều Rashtrakuta (Rashtrakuta dynasty, cai trị phần lớn Tiểu lục địa Ấn Độ giữa thế kỷ thứ 6 – 10); Các đền hang Jaina giáo được xây dựng dưới thời vương triều Yadava (Yadava/ Seuna dynasty, cai trị phần đất phía Tây tiểu lục địa Ấn Độ giữa thế kỷ 9 –  đầu thế kỷ 14). 
Tài trợ cho việc xây dựng được cung cấp bởi hoàng gia, thương nhân và những người giàu có trong khu vực.  
Hang động Ellora là các hang mô phỏng đền, chùa, thiền viện được tạc vào trong đá, bao gồm cả từ tầng hầm bên dưới đến tháp bên trên; các chuỗi không gian từ hiên, bái đường đến chính điện và không gian phụ xung quanh. Tất cả được tạc hay cắt vào trong đá theo nguyên tắc từ trên xuống. 
Trong 34 hang động Ellora có nhiều chạm khắc và tranh vẽ trên đá. 
Nhiều hang động trong Quần thể đền chùa hang Ellora rất nổi tiếng.
Hang 16 hay Đền Kailasanatha là công trình được tạc vào đá nguyên khối lớn nhất thế giới; có hình tượng như cỗ xe dành riêng cho thần Shiva (Đấng tối cao, Thần hủy diệt, là một trong ba vị thần tối cao của Hindu giáo – Trimurti, cùng với thần Brahma - Thần Sáng tạo và thần Vishnu - Thần Bảo trợ). Đền Kailasanatha còn được cho là bách khoa toàn thư về kiến trúc hang động Ấn Độ do tổng hợp thành công các truyền thống lâu đời về chạm khắc hang động tại miền Tây và Nam Ấn Độ với sự tham gia của thợ thủ công các vùng khác nhau tại Ấn Độ, được đánh giá như là một phong cách mang tầm quốc gia.
Các hang động Quần thể hang Ellora còn có nhiều bản chữ khắc (được mang tên Chữ khắc Ellora) của các vị vua, nhà tu hành và các nhà tài trợ.
Quần thể đền chùa hang Ellora bị bỏ hoang trong một thiên niên kỷ, được phát hiện vào năm 1819 (do các sĩ quan người Anh tìm thấy trong một cuộc săn hổ). 

Quần thể đền chùa hang Ellora tại Aurangabad, bang Maharashtra, Ấn Độ được UNESCO tôn vinh là Di sản văn hóa (năm 1983) với tiêu chí: 

Tiêu chí (i): Quần thể đền chùa hang Ellora tại Aurangabad, bang Maharashtra, Ấn Độ được xây dựng không gián đoạn từ năm 600 đến 1000 sau Công nguyên, bao gồm 34 điện thờ và thiền viện. Các công trình được tạc toàn bộ vào một vách đá bazan kéo dài hơn 2 km, là tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người trong lĩnh vực kiến trúc, công nghệ xây dựng, nghệ thuật Phật giáo, Hindu giáo và Jaina giáo, có ảnh hưởng to lớn đến nghệ thuật Ấn Độ giai đoạn tiếp sau.

Tiêu chí (iii): Quần thể đền chùa hang Ellora Ajanta, gồm các điện thờ và thiền viện Phật giáo, Hindu giáo và  Jaina giáo, được tạc vào đá là một bằng chứng về nền văn minh của Ấn Độ cổ đại. Đây không chỉ là một sáng tạo độc đáo về nghệ thuật và công nghệ, mà còn minh họa cho tinh thần văn hóa khoan dung đặc trưng của Ấn Độ cổ đại.

Tiêu chí (vi): Quần thể đền chùa hang Ellora trưng bày các tác phẩm điêu khắc, tranh vẽ thể hiện các sự kiện,  nhân vật, tín ngưỡng và nghệ thuật gắn với 3 tôn giáo Phật giáo, Hindu giáo và Jaina giáo.  


Vị trí của các hang tại Di sản Quần thể đền chùa hang Ellora

Di tích Phật giáo (Hang ký hiệu 1- 12) chiếm phần phía Nam của Quần thể. Di tích Hindu giáo (Hang 13-29) nằm tại phần giữa của Quần thể. Di tích Jaina giáo (Hang 30-34) tách thành một cụm nằm tại phía Bắc của Quần thể. Dưới đây là các tóm tắt một số hang nổi bật.  

Di tích Phật giáo (Phần 1)
Hang động 1-12 là những chùa hang Phật giáo. Hang số 10 là điện thờ (Chaitya), các hang còn lại là thiền viện (Vihara). Những hang động Phật giáo được xây dựng trong khoảng năm 630-700 hoặc năm  600- 730. 
Hang động Phật giáo được xây dựng sớm nhất là Hang ký hiệu 6, sau đó 5, 2, 3, 5 , 4, 7, 8, 10 và 9. Các Hang ký hiệu 11 và 12 được xây dựng sau cùng.
Điện thờ là nơi thờ Phật, thường có mặt bằng hình chữ nhật hẹp, mặt cắt kiểu trần vòm cao (Chaitya Hall) và một đầu là bảo tháp. Cấu trúc hang điện thờ thường có hàng hiên, bái đường, chính điện với bảo tháp hoặc phòng thờ. Trên bề mặt hang, cột đỡ trần đều được trang trí các phù điêu.
Thiền viện không chỉ là nơi ở của cư sĩ, mà còn là kho lưu trữ ngũ cốc, nước và thực phẩm cho du khách. Cấu trúc hang thiền viện thường có mặt bằng hình vuông, bố cục đối xứng, gồm một không trung tâm (sảnh chính) và bao quanh là các hốc hay hang nhỏ, là nơi có các giường được chạm khắc vào trong đá. Hang thiền viện cũng có phòng thờ, nơi đặt tượng Phật, Bồ tát và các vị thánh. Trên bề mặt hang, cột đỡ trần đều trang trí các phù điêu. 
Hang ký hiệu 5, 10, 11 và 12 là những hang động Phật giáo quan trọng về mặt kiến ​​trúc. Sự phân biệt phong cách kiến trúc của hang không chỉ từ bố cục mặt bằng, điêu khắc mà còn vào cách thức trang trí cột.  

Hang ký hiệu 1  
Hang 1 (Cave 1) là hang thiền viện (Vihara), nằm tại vị trí đầu tiên, phía Nam của Quần thể. Hang có cấu trúc gồm:
Hiên sâu vào trong vách đá với cột đỡ mái hiên (hiện chỉ còn lại tàn tích, đang được phục dựng lại) ;
Sảnh chính có mặt bằng hình vuông; 8 phòng ở của cư sĩ bố trí tại mặt phía Bắc và Đông của sảnh với kích thước rộng 12,5m và sâu 12,8m ; 1 phòng không hoàn chỉnh nằm phía ngoài hang.
Hang 1 là di tích Phật giáo đơn giản, tại đây không có cột .


Hang 1: Mặt bằng hang 


Hang 1: Mặt trước  


Hang 1: Bên trong sảnh chính với các cửa vào phòng ở của cư sĩ.  
 

Hang ký hiệu 2  
Hang 2 (Cave 2) có mặt bằng điển hình của hang thiền viện (Vihara), gồm:
Hiên chiều rộng hẹp không có cột.
Sảnh chính có mặt bằng hình vuông, bao quanh bởi hàng 12 cột. Cột theo chiều cao được phân thành 4 đoạn: Đoạn phía dưới hay bệ cột có tiết diện hình vuông với các trang trí tại phần diềm phía trên; Đoạn giữa hay thân cột có tiết diện hình bát giác hoặc hình tròn với các trang trí phù điêu; Đoạn trên hay đầu cột có hình khối cầu bẹt với các gờ trang trí. Đoạn trên cùng là phần mũ cột hay tấm đỉnh cột để đỡ trần dạng hình chữ T đơn giản, không có trang trí.
Tại đây không có các phòng ở riêng cho các tu sĩ mà ở chung trong 2 dãy hành lang hai bên. Phía sau sảnh có 3 phòng, một phòng thờ chính với tượng Phật ngồi và 2 phòng thờ nhỏ hai bên. Các bức tường xung quanh sảnh chính được trang trí phù điêu tượng Phật và tông đồ theo sự tích Phật giáo.
Có lẽ hang được cải tạo từ thiền viện thành điện thờ. 


Hang 2: Mặt bằng   
                                                                       
Hang 2: Mặt trước    


Hang 2: Sảnh chính 


Hang 2: Phòng thờ chính     

Hang ký hiệu 3  
Hang 3 (Cave 3) có mặt bằng điển hình của hang thiền viện (Vihara), gồm:
Hiên của hang chỉ còn tàn tích, mái đã bị hư hại hoàn toàn.
Không gian trung tâm hay sảnh chính có mặt bằng hình vuông, kích thước 13,7m x13,7m, cao 3,35m, bao quanh bởi 12 cột. Cột theo chiều cao được phân thành 4 đoạn: Bệ cột có tiết diện hình vuông thu hẹp dần lại theo chiều cao; Thân cột rất ngắn, có tiết diện hình hình tròn với các trang trí gờ theo chiều dọc; Đầu cột là khối cầu bẹt với các gờ trang trí như tai cột tại 4 góc; Tấm đỉnh cột đỡ trần là một khối có tiết diện chữ nhật với các điêu khắc trang trí.
Bao quanh không gian trung tâm là một hành lang gắn với 11 phòng ở cho cư sĩ và một phòng thờ tại chính giữa.
Các bức tường dọc hành lang bao quanh sảnh chính được trang trí bởi phù điêu tượng Phật và tông đồ theo  các sự tích Phật giáo. 


Hang 3: Mặt bằng   


Hang 3: Mặt trước


Hang 3: Nội thất sảnh chính và phòng thờ    


Hang 3: Phù điêu trang trí  tường hai bên sảnh chính   
 

Hang ký hiệu 4  
Hang 4 (Cave 4) hang thiền viện (Vihara), gồm:
Sảnh chính, rộng 10,6m, sâu 12,2m, nhưng hiện chỉ còn một nửa, có thể do hiện tượng sụt lở và chưa được hoàn thành.
Sau sảnh chính là một tiền phòng với 2 cột và 3 phòng. Cột của Hang 4 tương tự như cột của Hang 3, khác biệt là tấm đỉnh cột chỉ là một khối hình hình hộp to bằng phần cột dưới.
Phòng chính giữa trục sảnh là phòng thờ. Bên trong phòng thờ có tượng Phật ngồi dưới gốc cây, hai bên là các vị Bồ tát. 


Hang 4: Mặt bằng hang 



Hang 4: Tàn tích mặt trước 



Hang 4: Nội thất phong thờ
 

Hang ký hiệu 5  – Chùa hang Mahawara 
Hang 5 (Cave 5/ Mahawara Cave ) là hang thiền viện (Vihara) quy mô lớn. Phía trên là thác nước đổ xuống khi mưa lớn. Hang gồm : 
Sân phía trước hang, hiện đã bị sạt lở chỉ còn một góc.
Sảnh chính có mặt bằng hình chữ nhật kéo dài như một hội trường với kích thước 35,7m x 17,7m. Bên trong có một cặp ghế hoặc bàn thấp đặt song song ở giữa, được cho là nơi ăn hoặc hội họp của cư sĩ. Xung quanh sảnh chính có 24 cột. Hình dáng cột đa dạng. Cột phía ngoài cùng có hình dạng như cột của Hang 3 với đầu cột có 4 tai cột tại các góc. Cột phía trong sảnh có hình dạng như cột của Hang 2 với đầu cột như một khối cầu bẹt. 
Hai bên sảnh chính là 22 phòng ở cho cư sĩ và sảnh phụ. Phía trong cùng là một phòng thờ với một bức tượng Phật bên trong.   


Hang 5: Mặt bằng 


Hang 5: Mặt trước, phía dưới thác nước 


Hang 5: Sảnh chính có mặt bằng hình chữ nhật với hai dãy ghế đá
 

Hang ký hiệu 6   
Hang 6 (Cave 6) là hang thiền viện (Vihara) có mặt bằng bố cục như ghép lại của thiền viện và điện thờ. Điện thờ nằm tại trung tâm và hai thiền viện nằm tại hai bên.
Điện thờ gồm: Phần hiên và sảnh hiện đã hư hại hoàn toàn; Bái đường được giới hạn bởi 2 hàng cột của 2 thiền viện hai bên. Trong cùng là điện thờ với tiền sảnh có 2 cột và phòng thờ có tượng Phật, Bồ tát, các nữ thần.
Thiền viện hai bên điện thờ có cấu trúc tương tự như nhau, song hang bên phải đã bị hư hại hoàn toàn phần phía trước. Về cơ bản thiền viện gồm : Hàng hiên với 4 cột đỡ mái hiên; Sảnh chính với mặt bằng hình vuông, rộng 8,5m và sâu 7,6m. Thiền viện bên trái có 6 phòng ở; Thiền viện bên phải có 4 phòng ở.
Cột trong hang có hai loại :
Cột tại điện thờ (có hình dạng tương tự như cột trong Hang 3) theo chiều cao được phân thành 4 đoạn: Bệ cột có tiết diện hình vuông, góc trên cùng có trang trí ; Thân cột rất ngắn, có tiết diện hình hình tròn với các trang trí gờ theo chiều dọc và ngang; Đầu cột có hình khối cầu với các gờ trang trí như tai cột tại 4 góc; Tấm đỉnh cột là một khối tiết diện chữ nhật với các điêu khắc trang trí.
Cột tại sảnh thiền viện có kích thước nhỏ hơn so với cột tại điện thờ, theo chiều cao được phân thành 4 đoạn: Bệ cột có tiết diện hình vuông; Thân cột có tiết diện hình hình tròn với các trang trí gờ theo chiều dọc và ngang; Đầu cột có hình khối cầu bẹt với các gờ trang trí ; Tấm đỉnh cột là dầm tiết diện chữ nhật chạy nối 4 đầu cột.
Bên trong các bức tường có rất nhiều tác phẩm điêu khắc. 


Hang 6: Mặt bằng hang


Hang 6: Mặt trước, nhìn vào sảnh chính và điện thờ 


Hang 6: Mặt trước tiền sảnh thiền viện bên trái


Hang 6: Hiên giữa hai hang và tiền sảnh điện thờ 
 

Hang ký hiệu 7  
Hang 7 (Cave 7) là hang thiền viện (Vihara) nằm phía dưới Hang 8.
Hang có mặt bằng đơn giản, không có hiên, chỉ có 3 cửa ra vào (cửa bên phải đã bị sạt lở).
Sảnh chính của hang hình vuông với 4 cột đỡ trần. Xung quanh sảnh chính có 12 phòng, là nơi ở của cư sĩ, trong đó chỉ có 3 phòng là được xây dựng hoàn chỉnh với mặt bằng hình vuông, còn lại là những hốc nhỏ. Trong hang không có phòng thờ, chỉ có một số ít phù điêu nữ thần.
Cột trong hang tương tự như cột của Hang 3, song phần bệ cột đơn giản với tiết diện hình vuông, không có trang trí. 


Hang 7: Mặt bằng hang



Hang 7: Mặt trước  


Hang 7: Sảnh chính với các cửa vào phòng ở. 
 

Hang ký hiệu 8 
Hang 8 (Cave 8) là hang thiền viện (Vihara) nằm phía dưới của Hang 9.
Hang bị bao quanh bởi các vách đá nên không có mặt trước.
Phía trước hang có hai phòng, trong đó một phòng có mái hiên với 2 cột đỡ trần.
Bên trong hang có bố cục như là sự kết hợp giữa thiền viện và điện thờ.
Phần phía trước là thiền viện với sảnh chính mặt bằng hình vuông có 4 cột đỡ trần.
Phần phía sau là điện thờ với trung tâm là bảo tháp có hành lang đi vòng xung quanh. Hai bên của thiền viện và điện thờ là 7 phòng ở cho cư sĩ, trong đó một phòng có mặt bằng hình tròn.
Cột trong hang tương tự như cột của Hang 3, song phần bệ cột đơn giản với tiết diện hình vuông và một số cột được bổ sung thêm phần gờ dật cấp tại chân cột. 


Hang 8: Mặt bằng hang 


Hang 8: Phòng thờ phía trước hang với phù điêu tượng Phật  


Hang 8: Nội thất sảnh thiền viện, phía trong là không gian điện thờ với bảo tháp đặt tại trung tâm 
 

Hang ký hiệu 9  
Hang 9 (Cave 9) là hang thiền viện (Vihara) nằm phía trên của Hang 7 và 8. Đây là hang thiền viện quy mô nhỏ, gồm : Sảnh chính gắn với hiên có 2 cột ; Một phòng ở tập trung cho cư sĩ ; Trong cùng là 3 hốc thờ.
Điểm đặc biệt của hang chủ yếu là mặt tiền được trang trí công phu với 6 tượng Phật ngồi bên trong các vòm cong chữ S (Gavaksha), tượng Phật đứng và các hoa văn. Cột của mặt tiền có hình dáng như cột của Hang 3, 6 được trang trí phù điêu trên cả phần thân cột tiết diện bát giác.


Hang 9: Mặt bằng 


Hang 9: Mặt trước với các trang trí tượng Phật và hoa văn


Hang 9: Trang trí tượng Phật bên trong 3 hốc thờ.  
 

Hang ký hiệu 10 – Chùa hang Vishvakarma 
Hang 10 (Cave 10/ Vishvakarma Cave) là một trong những hang nổi bật nhất trong nhóm Di tích Phật giáo. Hang là một điện thờ (Chaitya) lớn kết hợp với thiền viện (Vihara), được xây dựng vào khoảng năm 650. Hang mang tên của vị thần Vishvakarman, là biểu tượng của vũ trụ, điểm khởi đầu của tất thảy mọi thứ, trước cả thời gian. 
Hang cao 2 tầng. Tầng 1 là điện thờ, tầng 2 là thiền viện.
Tầng 1 gồm:
Hàng hiên trước hang cắt sâu vào trong vách đá, tạo thành hình chữ U. Phía trước hiên có một phòng với 3 cột nhỏ. Bên trong hiên có 12 cột lớn. Từ hàng hiên có các phòng nhỏ bao quanh, trong đó có có hai phòng thờ với tiền sảnh nhỏ. 
Bên trong hiên là điện thờ có mặt bằng chữ nhật dài 25,9m, rộng 13,1m, cao 10,3m. Trần nhà dạng vòm (Apsidal). Mặt dưới mái vòm đá được cắt tạo thành các khung hay sườn giả gỗ làm nổi bật chiều cao của vòm hang. Vì vậy hang này còn được gọi là "Hang thợ mộc". Phía dưới hay chân của vòm mái trang trí nữ thần rắn Naga và các nhân vật như vũ công và nhạc sĩ.
Bao quanh chính điện là một hàng 30 cột cao 4,3m, trong đó có 28 cột tiết diện hình bát giác và 2 cột hình vuông.
Cuối chính điện là một bảo tháp đường kính 4,8m và cao 8,2m.
Phía trước bảo tháp là một bức điêu khắc tạo thành vòm cao 5,2m. Bên trong vòm là tượng Phật ngồi trong tư thế thuyết giáo, cao khoảng 3,4m, hai bên có hai vị hộ pháp. Sau lưng tượng Phật là chạm khắc cây Bồ đề. 
Tầng 2  nằm chồng lên phần hàng hiên hình chữ U của tầng 1, gồm : 
Hành lang hình chữ U như tầng 1 và 6 phòng ở cho cư sĩ.
Chính giữa là 1 phòng thờ và 2 hốc thờ hai bên. 
Hang 10 có nhiều chạm khắc trang trí, từ mặt hiên bên ngoài đến nội thất bên trong với các họa tiết Hindu giáo như nữ thần Apsara và các nhà tu sĩ đang thiền định.
Bề mặt tầng 2 Hang 10 có các cửa sổ dạng vòm (gavaksha/chandrashala), là loại vòm được tạo bởi 2 hay nhiều đường cong tạo thành hình chữ S hoặc nhiều đỉnh nhọn (ogee gothic).
Hang 10 về cơ bản có hai loại cột : 
Cột trong điện thờ: là cột có hình dạng đơn giản, theo chiều cao chỉ bao gồm 2 đoạn: Thân cột hình bát giác hoặc hình vuông và mũ cột (không có phần bệ cột cột và tấm đỉnh đỉnh cột). 
Cột tại hàng hiên: có hình thức tương tự như cột tại Hang 3, được phân thạnh 4 đoạn: Bệ cột có tiết diện hình vuông; Thân cột rất ngắn, có tiết diện hình hình tròn với các trang trí gờ theo chiều dọc và ngang; Đầu cột là khối cầu bẹt với các gờ trang trí như tai cột tại 4 góc; Tấm đỉnh cột đỡ trần là một khối có tiết diện chữ nhật. 


Hang 10: Mặt bằng tầng 1


Hang 10: Mặt bằng tầng 2


Hang 10: Mặt trước 


Hang 10: Cột hàng hiên


Hang 10: Nhìn từ hành lang tầng hai xuống sân 


Hang 10: Chính điện mái vòm với bức tượng Phật ngồi trước bảo tháp

Hang ký hiệu 11 – Chùa hang Do Tal 
Hang 11 (Cave 11/ Do Tal Cave) là hang thiền viện (Vihara) cao 3 tầng.
Tầng 1 gồm : Một sân rộng phía trước hang. Góc phía trước sân có 2 phòng ; Một hàng hiên dài 31,1m, rộng 2,7m với 8 cột và cầu thang lên tầng 2 ; Phía sau hiên có 2 phòng, trong đó có một phòng thờ.
Tầng 2 gồm : Hàng hiên chồng lên hàng hiên tầng 1 cũng với 8 cột. Phía sau hiên là 4 phòng nhỏ và một phòng chính với sảnh phụ có 2 cột và bệ thờ.
Tầng 3 gồm : Hàng hiên tương tự như tầng 2 và 1 với 8 hàng cột ; Phía sau hiên là một không gian chạm khắc sâu vào phía trong tạo thành 3 lớp không gian: Tiền sảnh với 4 hàng cột ; Đại sảnh với hàng 8 cột đặt chính giữa ; Sảnh phụ với 2 cột và phòng thờ phía trong cùng. Ngoài ra, tại tầng 3 cũng có một vài phòng và hang nhỏ. 
Các cột trong Hang 11 dường như chưa được xây dựng xong, mới phân vị các đoạn cột song chưa chạm khắc. 
Hang được cho là một thiền viện Đại thừa với các thần tượng, biểu tượng vũ trụ (mandala) được khắc vào tường và nhiều thần tượng liên quan đến Phật giáo Kim cương thừa.
Đây là hang động Phật giáo (cùng với Hang 12) được xây dựng cuối cùng tại Quần thể Ellora. 
Hình ảnh của nữ thần Durga (vị thần bất khả chiến bại, thần Mẫu trong đạo Hindu) và Ganesha (vị thần tài trí, hạnh phúc và thành công với đầu voi mình người) được khắc trên tường của đại sảnh cho thấy hang động này sau đó đã được chuyển đổi thành đền thờ Hindu giáo. 


Hang 11 : Mặt bằng tầng 1


Hang 11 : Mặt bằng tầng 2


Hang 11 : Mặt bằng tầng 3


Hang 11 : Mặt trước 

Hang 11 : Hành lang 


Hang 11: Phòng chứa nước với tượng Phật trang trí bên trong, tại bên phải sân trong


Hang 11: Hàng lang tầng 1


Hang 11 : Hiên tầng 2 với cầu thang xuống tầng 1


Hang 11 : Đại sảnh tầng 3 với hàng cột


Hang 11 : Tranh trang trí tại tường và trần  
 

Hang ký hiệu 12 – Chùa hang Tin Tal 
Hang 12 (Cave 12/ Tin Tal Cave) là hang thiền viện (Vihara) cao 3 tầng.
Tầng 1 gồm: Sân phía trước, được các vách đá bao kín chỉ có một cửa ra vào. Trong sân có 1 phòng thờ lớn và 1 phòng nhỏ; Đại sảnh với 4 hàng cột, mỗi hàng 8 cột; Xung quanh đại sảnh có 12 phòng ở của cư sĩ; Chính giữa phía trong đại sảnh là một tiền sảnh nhỏ với 4 cột đỡ trần, trong cùng là phòng thờ.
Tâng 2 gồm: Hiên với 8 cột; Hai đầu của hiên là hai phòng nhỏ và cầu thang. Tiếp đó đến là một tiền sảnh với 4 cột và bức tường 2 bên chạm khắc các bức tượng Phật. Từ đây dẫn vào đại sảnh với 2 hàng cột, mỗi hàng có 8 cột. Bao quanh đại sảnh là 17 phòng ở cho cư sĩ. Trong cùng là một tiền sảnh nhỏ với 2 cột, dẫn vào phòng thờ.
Tầng 3 gồm : Đại sảnh rộng với 5 hàng, mỗi hàng có 8 cột. Một góc đại sảnh là cầu thang và môt phòng nhỏ. Trong cùng, tương tự như tầng 2, là một tiền sảnh nhỏ với 2 cột, dẫn vào phòng thờ. Các bức tường xung quanh đại sảnh được trang trí nhiều tượng Phật.
Tương tự như các cột trong Hang 11, cột trong Hang 12 dường như chưa được xây dựng xong, mới phân vị các đoạn cột song chưa chạm khắc. 


Hang 12 : Mặt bằng tầng 1


Hang 12 : Mặt bằng tầng 2


Hang 12 : Mặt bằng tầng 3


Hang 12 : Mặt trước hang


Hang 12 : Phòng thờ trong sân


Hang 12 : Sảnh chính tầng 1  


Hang 12 : Sảnh chính tầng 2, phía trước phòng thờ  


Hang 12 : Sảnh chính tầng 3 


Hang 12 : Sảnh chính tầng 3 phía trước phòng thờ 


Hang 12 : Bức tường sảnh chính trang trí 7 vị Phật tại tầng 3
 

Di tích Hindu giáo (Phần 2)

Di tích Jain giáo (Phần 3)


Di sản Quần thể đền chùa hang Ellora cũng tương tự như các Di sản thế giới khác, hiện đang được số hóa, cung cấp thông tin trên web. 


Giao diện màn hình trang WEB:  The Ellora caves ( https://elloracaves.org/about.php
 

Di sản Quần thể đền chùa hang Ellora tại Aurangabad, bang Maharashtra, Ấn Độ không chỉ là một sáng tạo độc đáo về nghệ thuật và công nghệ, mà còn minh họa cho tinh thần văn hóa khoan dung đặc trưng của Ấn Độ cổ đại. Quần thể đền chùa hang Ellora (cùng với Chùa hang Ajanta) là nơi được người Ấn Độ tôn kính và là điểm du lịch nổi tiếng nhất ở bang Maharashtra, Ấn Độ.

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD 
Nguồn : 
https://whc.unesco.org/en/list/243
https://en.wikipedia.org/wiki/Ellora_Caves
https://en.wikipedia.org/wiki/Buddhism
https://en.wikipedia.org/wiki/Hinduism
https://en.wikipedia.org/wiki/Vaishnavism
https://en.wikipedia.org/wiki/Shaktism
https://en.wikipedia.org/wiki/Ramayana
https://en.wikipedia.org/wiki/Mahabharata
https://en.wikipedia.org/wiki/Jainism
https://en.wikipedia.org/wiki/Tirthankara
https://en.wikipedia.org/wiki/Rashtrakuta_dynasty 
https://en.wikipedia.org/wiki/Kalachuri_dynasty
https://en.wikipedia.org/wiki/Seuna_(Yadava)_dynasty
https://en.wikipedia.org/wiki/Pallava_art_and_architecture
https://en.wikipedia.org/wiki/Hindu_temple_architecture
https://en.wikipedia.org/wiki/Kailasa_temple,_Ellora
https://elloracaves.org/caves.php
https://www.sahapedia.org/the-architecture-of-ellora-caves
http://indiathatwas.com/ellora-cave-1/

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Á và châu Đại Dương     

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Âu

Danh sách và bài viết  về Di sản thế giới tại châu Mỹ  

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Phi


Cập nhật ( 21/07/2021 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:
“ Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ.”
 
Trí thức trẻ là người tốt nghiệp đại học, tuổi từ 39 trở xuống. Do thu nhập sau ra trường hạn hẹp, thị trường nhà ở giá rẻ khan hiếm, nên điều kiện về an cư để lạc nghiệp còn khó khăn. Các bạn trí thức trẻ ước muốn gì về nơi ở của riêng mình (không phải do thừa kế, đi thuê):
 
 
 
Trong thời đại CMCN 4.0, Chuyển đổi số không còn là điều tốt đẹp nên có, mà là điều bắt buộc đối với tất cả tổ chức và doanh nghiệp, gắn với Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số. Trong bối cảnh đô thị hóa, ngành XD có vai trò tiên phong trong Chuyển đổi số đế nâng cao năng lực cạnh tranh. Người ta còn cho rằng "QH đô thị là bệ phóng cho Chuyển đổi số". Lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp XD phải chấp nhận và thích ứng dần với quá trình Chuyển đổi số. Các bạn SV, cựu SV trong lĩnh vực XD - Công dân kỹ thuật số trong tương lai, nghĩ gì về nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực Chuyển đổi số trong cơ sở đào tạo ĐH:
 
 
Thông báo
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K65
+ Kế hoạch "Thực tập cán bộ kĩ thuật đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Danh sách lớp nguyện vọng - Học kì 2 (2023-2024)
+ Nhiệm vụ thiết kế "Đồ án Kiến trúc 5 - K66" (2023-2024)
+ Phân công giảng dạy Bộ môn KTCN, Học kỳ 2, Năm học 2023 – 2024
+ Phân công giảng dạy HK3 (2023 - 2024)
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K64
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K64

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com