Tuần 34 - Ngày 26/03/2019
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya, bang Bihar, Ấn Độ
10/03/2019
 

Thông tin chung:
Công trình: Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya (Mahabodhi Temple Complex at Bodh Gaya)
Địa điểm: Bang Bihar, miền Đông Ấn Độ (N24 41 43.008 E84 59 38.004)
Thiết kế kiến trúc:
Quy mô: 4,86 ha
Năm hình thành: Thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên
Giá trị: Di sản thế giới (2002; hạng mục i ; ii ; iii ; iv ; vi) 

Ấn Độ (India) là một quốc gia tại Nam Á, có diện tích 3.287.263 km3 (đứng thứ 7 trên thế giới); dân số khoảng 1324 triệu người (năm 2016).
Ấn Độ tiếp giáp Ấn Độ Dương tại phía Nam, biển Ả Rập phía Tây Nam, vịnh Bengal phía Đông Nam, giáp Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal, Bhutan ở phía Đông Bắc; Myanmar và Bangladesh ở phía Đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.
Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện nền văn minh lưu vực sông Ấn (Indus Valley Civilisation) thời Cổ đại, có các tuyến đường buôn bán mang tính lịch sử cùng với những đế quốc rộng lớn, giàu có về thương mại và văn hóa.
Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên (TCN), tại đây đã xuất hiện các đô thị lớn với số dân hàng vạn người, được quy hoạch với hệ thống thoát nước, cấp nước phức tạp, nhà gạch nung, các kỹ thuật mới trong hoạt động thủ công mỹ nghệ và luyện kim…

Sự phân tầng xã hội, dựa trên đẳng cấp, xuất hiện trong thiên niên kỷ thứ nhất TCN. Sự tập quyền chính trị sớm nhất diễn ra dưới thời đế chế Maurya (Maurya Empire, tồn tại trong giai đoạn năm 322 - 187 TCN); đế chế Shunga (Shunga Empire, tồn tại trong giai đoạn 187- 78 TCN) và đế chế Gupta (Gupta Empire, tồn tại trong giai đoạn năm 319 đến 550 sau Công nguyên).
Các vương quốc trong giai đoạn từ thế kỷ thứ 3 TCN đến thế kỷ thứ 13 sau Công nguyên tại Tiểu lục địa Ấn Độ (Middle kingdoms of India) có ảnh hưởng to lớn đến nền văn hóa của khu vực xung quanh, lan truyền đến tận Đông Nam Á.

Đây cũng là nơi bắt nguồn của 4 tôn giáo nội sinh lớn: 
Ấn Độ giáo (Hinduism) là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới, xuất phát từ khu vực Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh), là sự hợp nhất hay tổng hợp các nền văn minh truyền thống Ấn Độ khác nhau và  không có người sáng lập; hình thành từ năm 500 TCN đến 300 sau Công nguyên, sau khi kết thúc thời kỳ Vệ Đà (Vedic period, năm 1500 – 500 TCN), phát triển mạnh trong thời Trung cổ, cùng với sự suy tàn Phật giáo ở Ấn Độ. Ấn Độ giáo bao gồm các nhóm tôn giáo khác biệt nhau về triết lý, song được liên kết bởi các khái niệm chung, các nghi thức, vũ trụ học, tài nguyên văn bản Hindu (luận về thần học, triết lý, thần thoại, kinh Vệ Đà, Yoga, nghi lễ, cách thức xây dựng đền thờ) và tập tục hành hương đến các địa điểm linh thiêng. Bốn giáo phái lớn nhất của Ấn Độ giáo là Vaishnavism, Shaivism, Shaktism và Smartism.
Phật giáo (Buddhism) do Đức Thích Ca Mâu Ni (Siddhartha Gautama/ Tất đạt đa Cồ đàm, năm 624 TCN – 534 TCN) sáng lập. Sau này, Phật giáo phân hóa thành nhiều nhánh: Phật giáo Nguyên thủy (Nam Tông, Thượng tọa, Tiểu thừa); Phật giáo Đại thừa (Bắc tông, Đại chúng); Phật giáo Chân ngôn (Tây Tạng, Mật tông, Kim cương thừa).
Jaina giáo (Jainism) là một trong những tôn giáo lâu đời trên thế giới, do Đức Mahavir (năm 599 trước TCN – 527 TCN) sáng lập ra tại Bắc Ấn Độ, gần như là cùng thời với Phật giáo, với triết lý và phương thức thực hành dựa vào nỗ lực bản thân để đến cõi Niết Bàn;
Sikh giáo (Sikhism) do Đức Guru Nanak (năm 15/4/1469- 22/9/1539) sáng lập vào thế kỷ 15 tại vùng Punjab, giữa Pakistan và Ấn Độ.
Ngoài ra, tại đây còn xuất hiện các tôn giáo ngoại nhập như: Do Thái giáo (Judaism), Bái Hỏa giáo (là tôn giáo do nhà tiên tri Zoroaster sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ 7 TCN tại miền Đông Đế quốc Ba Tư cổ đại), Cơ Đốc giáo (Christianity) và Hồi giáo (Islamic). Các tôn giáo này được truyền đến Ấn Độ vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên, bổ sung vào văn hóa đa dạng của khu vực.

Vào thời Trung cổ, phần lớn miền Bắc Ấn Độ thuộc Vương quốc Hồi giáo Delhi (Delhi Sultanate), kéo dài trong khoảng 320 năm (1206- 1526). Trong giai đoạn này, sự kết hợp giữa văn minh Ấn Độ với văn minh Hồi giáo, sự hội nhập giữa tiểu lục địa Ấn Độ với vùng lục địa Phi – Á – Âu (Afro-Eurasia) đã có một tác động to lớn lên văn hóa và xã hội Ấn Độ. Khi Delhi thành thủ đô Hồi giáo vào năm 1193, tại đây đã hình thành được nền kiến trúc Hồi giáo - Ấn Độ (Indo-Islamic architecture, nguồn gốc từ Iran), đạt được sự tăng trưởng dân số và kinh tế cùng với việc xuất hiện ngôn ngữ Hindi-Urdu (Hindustani language). Vương quốc Hồi giáo Delhi cũng có vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi các cuộc xâm lăng của Đế quốc Mông Cổ vào thế kỷ 13, 14.
Vào thời Trung cổ, miền Nam Ấn Độ phân thành nhiều vương quốc nhỏ, ví dụ như :
Vương quốc Vijayanagara (Vijayanagara Empire): nằm trên Cao nguyên Deccan (Deccan Plateau), kinh đô là thành phố Vijayanagara (bang Karnataka hiện tại). Triều đại này được thành lập năm 1336, kéo dài đến năm 1646. Vijayanagara đã trở thành một thành trì của Ấn Độ giáo trong giai đoạn người Hồi giáo làm bá chủ ở miền Bắc Ấn Độ, nổi tiếng vì bảo trợ cho việc học chữ Phạn. Đây là vương quốc giàu có nhờ buôn bán gia vị và sản xuất hàng dệt vải bông;
Vương quốc Đông Ganga (Eastern Ganga dynasty): thuộc vùng Kalinga (bao gồm cả bang Odisha hiện tại) là khu vực ven biển phía Đông, giữa sông Mahanadi và sông Godavari với kinh đô là Dantapura, sau đó được chuyển đến Kalinganagara (Mukhalingam) và cuối cùng đến Kataka (Cuttack). Triều đại này tồn tại vào thế kỷ 11- đầu thế kỷ 15, được đánh giá là vương triều bảo trợ tuyệt vời cho tôn giáo và nghệ thuật. Nhiều ngôi đền của thời kỳ Đông Ganga được xếp hạng là những kiệt tác của kiến trúc Ấn Độ giáo. Người cai trị đáng chú ý của triều đại Đông Ganga là vua Narasingha Deva I, giai đoạn năm 1238-1264. Ông là một chiến binh mạnh mẽ, đã tổ chức đánh bại nhiều đợt tấn công của Vương quốc Hồi giáo Delhi và thậm chí còn truy đuổi kẻ thù. Vua Narasingha Deva I cho xây dựng Đền Mặt trời tại Konark để kỷ niệm những chiến thắng của mình đối với người Hồi giáo và nhiều ngôi đền, pháo đài khác.
Vào thế kỷ 16, Đế quốc Mughal (Mughal Empire, năm 1526 – 1857) hình thành, chinh phục các vương quốc nhỏ, mở rộng lãnh thổ ra gần như toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ và một phần của Afghanistan với số dân vào giai đoạn cực thịnh lên đến 150 triệu người. Đế quốc Mughal đạt đến đỉnh cao vinh quang trong triều đại của Shah Jahan (5/1/1592 – 31/1/1666, hoàng đế thứ năm Đế quốc Mughal, cai trị trong thời gian  từ 1628 đến 1658) và ông được coi là một trong những hoàng đế Mughal vĩ đại nhất. Trong giai đoạn này, kiến trúc Mughal đạt đến đỉnh cao với các công trinh nổi tiếng như: Taj Mahal và Moti Masjid tại Agra, Pháo đài Đỏ (Red Fort), Jama Masjid, Delhi và Pháo đài Lahore (Lahore Fort).
Tiểu lục địa Ấn Độ dần bị Anh thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ 18, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh từ giữa thế kỷ 19.
Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947, sau cuộc đấu tranh giành độc lập do Mahatma Gandhi (2/10/1869 – 30/1/1948) lãnh đạo.
Ngày nay Ấn Độ là một liên bang bao gồm 29 bang và 7 vùng lãnh thổ thuộc liên bang. Dưới bang là các đơn vị hành chính: quận (huyện, khu); phân khu và làng xã.


Bản đồ Ấn Độ và vị trí bang Bihar

Bodh Gaya là một địa điểm tôn giáo và hành hương nổi tiếng ở quận Gaya, bang Bihar, miền Đông Ấn Độ; có diện tích khoảng 83,78km2, dân số khoảng 48,18 ngàn người (năm 2018).
Bodh Gaya gắn liền với Quần thể chùa Mahabodhi, nơi Đức Phật (Gautama Buddha) đạt được sự khai sáng, là một trong bốn địa điểm linh thiêng của Phật tử. Ba địa điểm kia là Kushinagar (nơi chôn xá lợi Phật, quận Kushinagar, bang Uttar Pradesh); Lumbini (nơi sinh của Đức Phật, quận Rupandehi, tỉnh No. 5, Nepal); Sarnath (nơi Đức Phật lần đầu giảng Pháp và là nơi Tăng đoàn Phật giáo ra đời, tại quận Varanasi, bang Uttar Pradesh).
Quần thể chùa Mahabodhi đầu tiên được hoàng đế Asoka (Ashoka the Great, triều đại Maurya, người cai trị hầu hết các tiểu lục địa Ấn Độ từ khoảng năm 268 đến 232 TCN) xây dựng vào thế kỷ thứ 3 TCN.
Quần thể chùa được phục dựng lại vào thế kỷ thứ 5- 6 sau Công nguyên, từ cuối thời đế chế Gupta (Gupta Empire, năm 319 - 550 sau Công nguyên) và đã trải qua nhiều lần sửa chữa và cải tạo sau đó.
Quần thể chùa dường như bị bỏ quên từ thế kỷ thứ 13- 18, sau đó được phục hồi vào thế kỷ 19. Nhiều công trình được tu bổ vào nửa sau thế kỷ 20.
Quần thể chùa Mahabodhi nằm trong một khuôn viên hình vuông, diện tích khoảng 4,86ha, bao quanh bởi bức tường. Quần thể có trục tổ hợp chính theo hướng Đông – Tây, bao gồm các hạng mục công trình: Tháp chính (Grand Temple) cao 55m, Phiến đá sa thạch đánh dấu vị trí nơi Đức Phật ngồi cho đến khi đạt được giác ngộ, được coi như ngai vàng (Vajrasana); Cây Bồ Đề che nơi Đức Phật ngồi và các địa điểm linh thiêng khác với nhiều bảo tháp (Votive stupas) xung quanh. Ngoài ra, tại đây còn có một ao sen (Lotus Pond) nằm bên ngoài, phía Nam của Quần thể chùa…

Quần thể chùa Mahabodhi là một trong những ngôi chùa Phật giáo đầu tiên được xây dựng hoàn toàn bằng gạch phủ vữa, vẫn còn tồn tại, và được coi là kiến ​​trúc gạch có ảnh hưởng đáng kể trong nhiều thế kỷ.
Quần thể chùa Mahabodhi là một công trình độc đáo về khảo cổ liên quan đến thời gian Đức Phật giác ngộ tại đây, cũng như định hình Phật giáo, đặc biệt từ thế kỷ thứ 3, khi hoàng đế Asoka cho xây dựng chùa, cũng như khu dân cư và tu viện xung quanh.
Đây cũng là một trong những địa điểm chính thu hút những người hành hương từ khắp nơi trên thế giới để cầu nguyện, thực hành các nghi lễ và thiền định Phật giáo. 


Ảnh chụp Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya, năm 1899


Phối cảnh Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya; nơi Đức Phật 
đạt được sự khai sáng 


Tàn tích Lumbini, tại
Rupandehi, tỉnh No. 5, Nepa ; Nơi sinh của Đức Phật (Di sản văn hóa thế giới) 

 
Tàn tích Sarnath, tại Varanasi, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ ; Nơi Đức Phật lần đầu  giảng Pháp và là nơi Tăng đoàn Phật giáo ra đời  


Ramabhar Stupa (Adhana Stupa), tại Kushinagar, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ ; Bảo tháp được dựng lên trên một phần tro cốt của Đức Phật, tại nơi Ngài được hỏa táng 

Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya, bang Bihar, miền Đông Ấn Độ được UNESCO tôn vinh là Di sản văn hóa (năm 2002) với tiêu chí:

Tiêu chí (i): Quần thể Chùa Mahabodhi với tháp cao khoảng 50m, được xây dựng vào thế kỷ 5 đến thứ 6, có tầm quan trọng to lớn, là một trong những đền thờ sớm nhất còn tồn tại ở tiểu lục địa Ấn Độ. Đây là một trong số ít tuyệt tác về tài năng sáng tạo kiến trúc của con người trong việc xây dựng những ngôi đền bằng gạch hoàn chỉnh thời bấy giờ.
Tiêu chí (ii): Quần thể Chùa Mahabodhi, một trong số ít những ví dụ còn sót lại của các cấu trúc gạch đầu tiên ở Ấn Độ, đã có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của kiến ​​trúc trong nhiều thế kỷ tiếp sau. 
Tiêu chí (iii): Địa điểm của Chùa Mahabodhi cung cấp các dữ liệu đặc biệt liên quan đến cuộc đời của Đức Phật và sự thờ phượng Phật giáo, đặc biệt là kể từ khi hoàng đế Asoka xây dựng ngôi tháp đầu tiên và các công trình tưởng niệm xung quanh. 
Tiêu chí (iv): Chùa hiện tại là một trong những công trình kiến ​​trúc sớm nhất và hùng vĩ nhất được xây dựng hoàn toàn bằng gạch từ cuối thời kỳ Gupta. Các điêu khắc trên lan can là một trong những ví dụ nổi bật sớm nhất về điêu khắc đá. 
Tiêu chí (vi): Quần thể chùa Mahabodhi ở Bodh Gaya có mối liên hệ trực tiếp với cuộc đời của Đức Phật, là nơi Ngài đạt được sự sáng suốt tối cao và hoàn hảo. 


Sơ đồ vị trí và vùng bảo vệ Di sản Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya, bang Bihar, miền Đông Ấn Độ

Truyền thuyết về Đức Phật 

Đức Phật (Siddhartha Gautama/ Thích Ca Mâu Ni; khoảng năm 563/480 - 483/400 TCN) là một nhà triết gia, học giả, người sáng lập Phật giáo, sống ở vùng Đông Bắc Ấn Độ Cổ đại vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6 và 4 TCN.
Siddhārtha Gautama dòng dõi hoàng tộc Shakya (Devanagari), cai trị tiểu quốc Shakya (Shakya Gaṇarājya), kinh đô là Kapilavastu, thuộc Ấn Độ và Nepal ngày nay.
Theo truyền thuyết, Siddhartha Gautama sinh ra ở Lumbini thuộc Nepal, lớn lên tại kinh đô Kapilvastu của tiểu quốc Shakya, ngày nay là Tilaurakot, Nepal hoặc Piprahwa, Ấn Độ.
Ngài giác ngộ tại Bodh Gaya, thuyết pháp đầu tiên tại Sarnath và viên tịch tại Kushinagar, Ấn Độ.
Cuộc đời của Đức Phật trùng hợp với sự hưng thịnh của các trường phái tư tưởng và Ngài là một trong số rất nhiều triết gia khổ hạnh (śramaṇa) thời bấy giờ.
Siddhartha Gautama từ bỏ cuộc sống phú quý của một hoàng tử tiểu quốc Shakya vào năm 29 tuổi để tìm đạo.
Sau 6 năm cầu đạo, Ngài đạt được giác ngộ tâm linh, được gọi là Đức Phật (Bậc giác ngộ/Người thức tỉnh) và dành 45 năm cuối của cuộc đời mình cho việc truyền dạy giáo lý tại phía Đông tiểu lục địa Ấn Độ.
Đức Phật được các Phật tử coi là một bậc đạo sư đã giác ngộ viên mãn và tự giải thoát hoàn toàn khỏi quy luật sinh tử luân hồi. Ngài hiểu rõ được sự vận hành của thế giới xung quanh, đồng thời truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người khác để họ có thể tự tu tập. Chi tiết về tấm gương cuộc đời, những lời dạy và các giới luật của Ngài được những học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi Đức Phật qua đời. Hàng loạt những bản kinh ghi lại lời dạy của Ngài được lưu giữ qua truyền miệng và được viết thành sách vào 400 năm sau đó.
Sau khi Đức Phật qua đời, xá lợi hỏa táng được chia cho 8 gia đình hoàng gia và các đệ tử. Sau này, xá lợi Phật được lưu giữ trong hàng ngàn bảo tháp khắp nơi trên thế giới.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho rằng có 28 Đức Phật ra đời để giáo hóa chúng sinh. 26 vị Phật đã xuất hiện dần trong hàng ngàn vạn kiếp trái đất; trong 4 vị Phật đầu tiên có Nhiên Đăng Cổ Phật (Dīpaṅkara). Phật Thích Ca Mâu Ni (Siddhartha Gautama) là vị Phật thứ 27, xuất hiện cách đây khoảng 2600 năm. Vị Phật thứ 28 chưa xuất hiện là Phật Di Lặc (Metteyya).
Chùa Việt Nam và Trung Quốc thờ bộ tượng Tam thế Phật. Trong đó, Phật Nhiên Đăng đại diện cho chư Phật trong quá khứ, Phật Thích Ca là chư Phật thời hiện tại và Phật Di Lặc tượng trưng cho chư Phật thời tương lai.

Không có ngôn từ nào miêu tả hết được nhận thức rộng lớn về Tự nhiên của Đức Phật Thích Ca, cũng như hệ thống đức tin mạnh mẽ mà Ngài tạo lập cho cộng đồng Phật giáo (lớn thứ 4 thế giới tôn giáo với khoảng 520 triệu tín đồ, sau Kito giáo, đạo Hồi và Ấn Độ giáo). Đức Phật Thích Ca là một trong những hiện tượng và con người vĩ đại nhất trong lịch sử. 


Vị trí các hạng mục công trình chính liên quan đến thời gian 7 tuần thiền định của Đức Phật, Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya

Quần thể chùa Mahabodhi tại Bodh Gaya

Quần thể chùa Mahabodhi kết nối trực tiếp với cuộc đời của Đức Phật, Ngài đã đạt được giác ngộ khi thiền định tại đây trong vòng 7 tuần (49 ngày).
Quần thể có mặt bằng hình vuông, được bao quanh bằng tường rào. Cổng chính vào từ phía Đông.
Quần thể chùa bao gồm tòa tháp chính và các công trình gắn với 7 tuần thiền định của Đức Phật, gồm : 

Tòa tháp chính
Tòa tháp chính (Grand Temple) mang phong cách đền tháp đạo Jain và Ấn Độ giáo. Đây là kiểu đền gồm hai phần: Gian thờ (Garbhagriha), là một căn phòng không có cửa số, chiếu sáng hạn chế, nơi đặt các linh vật, thần tượng của vị thần thờ trong đền, nơi chỉ có các tu sĩ mới được vào; Phần tháp (Shikharas, nghĩa đen là đỉnh núi, phía Nam Ấn Độ còn gọi là Vimana) bao trùm lên phía trên gian thờ. Hình dạng của phần tháp có vai trò quan trọng cho việc nhận diện loại đền tháp này. Phần tháp có thể được phân thành ba dạng chính:
Tháp dạng Latina: Là một loại tháp có mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh có các khối nhô ra (ratha) tạo thành các mặt dật cấp, là 3 mặt, 5 mặt hay 7 mặt; 
Tháp dạng Sekhari: Bao gồm một ngọn tháp Latina đặt tại trung tâm và một nửa ngọn tháp phụ (Urushringa) được thêm vào các phía.
Tháp dạng Bhumija: Bao gồm một ngọn tháp Latina đặt tại trung tâm, thon dần về phía trên cả 4 mặt. Góc tháp được trang trí các ngọn tháp giống tháp trung tâm thu nhỏ.


Sơ đồ mặt bằng tháp Latina với cạnh có các khối nhô ra (ratha) tạo thành: 3 mặt (triratha), 5 mặt  (pancharatha), 7 mặt (saptaratha), có trường hợp đến 9 mặt.

Tòa tháp chính của Quần thể chùa Mahabodhi quay mặt về hướng Đông với một tiền sảnh nhỏ, hai bên có các hốc chứa các bức tượng Phật.
Tòa tháp chính cao 55m, gồm hai phần:
Phần bệ tháp hay gian thờ, có chiều cao khoảng 11m. Bên trong gian thờ hay thánh đường đặt tượng Phật bằng sa thạch màu vàng (cao khoảng 1,52m). Mặt bên ngoài bệ tháp là các hốc trang trí tượng Phật, các họa tiết và chạm khắc tinh xảo. 
Phía trên phần bệ tháp hay bên trên gian thờ là ngọn tháp trung tâm dạng tháp Latina, mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh tháp chia thành 5 mặt, thon dần về phía trên. Trên đỉnh tháp là một bảo tháp. 4 góc bệ tháp đặt 4 ngọn tháp nhỏ có hình dáng như tháp trung tâm. Phía trong 4 ngọn tháp nhỏ có phòng thờ, bên trong đặt tượng Phật.
Bao xung quanh tháp là một lan can (Railings) bằng đá sa thạch, cao khoảng 2m, được xây dựng bổ sung vào cuối thời đế chế Gupta. Lan can được trang trí chi tiết. Nhiều bộ phận của lan can ban đầu đã bị tháo dỡ và được lưu giữ trong các bảo tàng. Lan can hiện tại được thay thế bằng các bản sao thạch cao.


Lối vào tòa tháp chính, Quần thể chùa Mahabodhi  


Phối cảnh mặt bên tòa tháp chính, Quần thể chùa Mahabodhi  


Trang trí trên phần bệ và thân tòa tháp chính, gạch xây trát vữa, Quần thể chùa Mahabodhi  


Tượng Phật Thích Ca bên trong gian thờ, 
tòa tháp chính, Quần thể chùa Mahabodhi  


Chi tiết lan can đá bao quanh tòa tháp chính (bản sao), 
Quần thể chùa Mahabodhi  


Chi tiết lan can đá tại Quần thể chùa Mahabodhi (bản gốc) được lưu giữ trong Bảo tàng Ấn Độ (Indian Museum) tại  Kolkata,Calcutta, bảo tàng lớn nhất và lâu đời nhất Ấn Độ.
 

Cây Bồ Đề
Cây Bồ Đề (MahaBodhi Tree, vị trí trong hình vẽ ký hiệu 1) tại Bodhgaya được kết nối trực tiếp với cuộc đời của Đức Phật, Ngài đã thiền định tại đây trong tuần đầu tiên và được giác ngộ.
Cây Bồ Đề trải qua nhiều thăng trầm, thậm chí bị chặt hạ. Cây hiện tại được cho là hậu duệ trực tiếp của cây Bồ Đề gốc. Một ngôi chùa sau đó đã được dựng lên tại chỗ Đức Phật ngồi, phía Đông của cây Bồ Đề. Phiến đá nơi Ngài ngồi thiền định được gọi là Ngai vàng Kim cương. 


Hình ảnh cây Bồ Đề, Quần thể chùa Mahabodhi ; Phía dưới gôc cây là Ngai vàng Kim Cương


Điêu khắc miêu tả chùa Mahabodhi xung quanh cây Bồ Đề, thế kỷ 1 sau Công nguyên, lưu tại Quần thể Phật giáo Sanchi, quận Raisen, bang Madhya Pradesh, Ấn Độ  


Lá bồ đề đất nung với trang trí rồng, thế kỷ 13, 14, Việt Nam 

Ngai vàng Kim cương
Vào khoảng năm 250 TCN, 200 năm sau khi Đức Phật đạt giác ngộ, hoàng đế Phật giáo Asoka (Ashoka the Great, triều đại Maurya, người cai trị từ khoảng năm 268 đến 232 TCN) đã thành lập một ngôi chùa trên thánh địa Bodh Gaya. Những công trình này ngày nay đã không còn, chỉ còn sót lại Ngai vàng Kim cương (Diamond Throne/Vajrasana, ký hiệu 1).
Ngai vàng Kim cương là tên đặt cho phiến đá sa thạch đánh dấu vị trí nơi Đức Phật ngồi tu tập dưới gốc cây Bồ Đề trong 7 ngày đầu tiên đến khi đạt được giác ngộ. Ngai vàng được tôn là linh vật để thờ và là trung tâm của lễ hội tại Quần thể chùa Mahabodhi.
Bệ đá hay Ngai vàng nằm giữa Tòa tháp chính và cây Bồ Đề, làm bằng đá sa thạch đánh bóng.  


Bệ đá hay Ngai vàng Kim Cương dưới gốc cây Bồ Đề, nơi Phật thiền định tuần thứ 1, Quần thể chùa Mahabodhi 

Tòa tháp nhỏ
Tòa tháp nhỏ (Animisa Cetiya – Đền Không chớp mắt, ký hiệu 2) nằm cách 60m tại phía Bắc cây Bồ Đề. Đây là nơi Đức Phật đã đứng thiền định, nhìn vào cây Bồ Đề không chớp mắt, trong 7 ngày của tuần thứ 2. Tháp có hình thức kiến trúc tương tự như Tòa  tháp chính.


Tòa tháp nhỏ, nơi Phật thiền định tuần thứ 2, Quần thể chùa Mahabodhi 

Cankamana
Cankamana (ký hiệu 3) nằm tại phía Bắc của Tòa tháp chính, là một bục cao. Đây là nơi Đức Phật vừa đi bộ vừa thiền trong 7 ngày của tuần thứ 3. Trên bục điêu khắc các bông hoa sen tượng trưng cho mỗi bước chân của Đức Phật. Một ngôi đền nhỏ bên trái lối vào chứa một viên đá tròn được cho là mang dấu chân thực sự của Đức Phật.


Bệ đá Cankamana, nơi Phật thiền định tuần thứ 3, Quần thể chùa Mahabodhi 

Đền Ratanaghara
Đền Ratnaghara hay Đền Ngọc  (Jewel House Shrine, ký hiệu 4) nằm tại phía Tây Bắc của cây Bồ Đề. Đây là nơi Đức Phật thiền trong 7 ngày của tuần thứ 4. Truyền thuyết cho rằng, trong quá trình thiền định sâu, cơ thể của Đức Phật tỏa ra ánh sáng với 5 màu sắc rực rỡ (sau này trở thành màu sắc của cờ Phật giáo, gồm 6 dải màu:  Lam: tượng trưng tình yêu thương, hòa bình và lòng bác ái; Vàng: Trung đạo- tránh cực đoan như sống khổ hạnh; Đỏ: Thực hành – thành tựu, trí tuệ, đức hạnh, vận mệnh và phẩm giá; Trắng: Phật pháp – sự giải thoát khỏi không gian và thời gian; Cam: Giáo huấn của Đức Phật – trí huệ. Dải thứ 6 là tích hợp của 5 màu sắc trên, biểu tượng cho vầng hào quang).


Tàn tích đền Ratnaghara, nơi Phật thiền định tuần thứ 4, Quần thể chùa Mahabodhi 


Cờ Phật giáo với 6 dải màu, gồm 5 dải màu đơn và 1 dải màu tích hợp của 5 màu, biểu tượng của vầng hào quang

Cây Đa Ajapala Nigrodha
Cây Đa Ajapala Nigrodha (Banyan Tree, ký hiệu 5) là địa điểm của một cây đa xưa, nơi Đức Phật thiền định trong 7 ngày của tuần thứ 5 và trả lời câu hỏi của một vị Bà-la-môn (Brahman, tu sĩ, triết gia, học giả và lãnh đạo tôn giáo, tầng lớp cao nhất của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ) rằng: Chỉ bằng hành động người ta mới trở thành Bà-la-môn chứ không phải do sinh ra. Tại đây có một trụ cột đánh dấu vị trí cây, nằm cạnh cổng chính hướng Đông. 


Trụ đánh dấu cây Đa Ajapala Nigrodha, nơi Phật thiền định tuần thứ 5, Quần thể chùa Mahabodhi 

Hồ Sen
Hồ Sen hay hồ Mucalinda (Lotus Pond/ Mucalinda Lake, ký hiệu 6) nằm tại phía Nam, bên ngoài Quần thể chùa. Đây là nơi Đức Phật ngồi thiền trong 7 ngày của tuần thứ 6, được đánh dấu bằng một trụ cột. Theo truyền thuyết, khi Đức Phật ngồi thiền có một cơn bão lớn thổi qua. Một con rắn Manyalinda xuất hiện che chắn cho Đức Phật. Nay, giữa hồ là một tượng đài thể hiện truyền thuyết này. 


Hồ Sen với hình tượng Rắn che cho Đức Phật, nơi Phật thiền định tuần thứ 6, Quần thể chùa Mahabodhi 

Cây Rajayatana
Cây Rajayatana (ký hiệu 7) nằm tại phía Đông Nam của Quần thể chùa, là nơi Đức Phật dành 7 ngày của tuần thứ 7 truyền đạo cho người qua đường.
Đệ tử đầu tiên là hai thương nhân đến từ Yangon, Myanmar (Miến Điện). Sau khi truyền đạo, Đức Phật đã ban cho họ tám sợi tóc. Báu vật này hiện được lưu giữ bên trong chùa Shwedagon (Shwedagon Pagoda) ở Yangon, Myanmar . 


Biểu tượng đánh dấu vị trí cây Rajayatana, nơi Phật thiền định tuần thứ 7, Quần thể chùa Mahabodhi 

Ngoài ra, trong Quần thể chùa Mahabodhi còn có các đền thờ nhỏ, bảo tháp được xây dựng bởi hoàng gia,
quý tộc và thương gia sau này. Các công trình rất khác nhau về hình dạng, kích thước, từ đơn giản đến phức tạp.



Các di tích khác trong xung quanh các công trình chính, Quần thể chùa Mahabodhi 

Các công trình khác
Xung quanh Quần thể chùa Mahabodhi còn có những ngôi chùa Phật giáo đến từ các quốc gia châu Á, ví dụ như chùa Thái Lan; chùa Nhật Bản; chùa Bhutan; chùa Myanmar; chùa Trung Quốc, và đặc biệt tại đây có một vài ngôi chùa Việt Nam như chùa Viên Giác…Các công trình này phản ánh nền văn hóa Phật giáo đa dạng trên khắp thế giới. 


Chùa Viên Giác, Việt Nam bên cạnh Quần thể chùa Mahabodhi 

Trong bối cảnh lịch sử triết học và văn hóa, Di sản Quần thể đền Mahabodhi tại Bodh Gaya, bang Bihar, miền Đông Ấn Độ đánh dấu một sự kiện quan trọng nhất trong cuộc đời của Đức Phật, thời điểm hoàng tử Siddhartha đạt được khai sáng và trở thành Đức Phật, một sự kiện về hình thành tư tưởng và niềm tin của con người. 
Quần thể 
đền Mahabodhi hiện là nơi hành hương Phật giáo (thực hành và định hình đức tin, khai sáng và tạo nghiệp mới) linh thiêng nhất thế giới và được coi là cái nôi của Phật giáo trong lịch sử nhân loại.  

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD
Nguồn :
https://whc.unesco.org/en/list/1056
https://en.wikipedia.org/wiki/Mahabodhi_Temple
https://en.wikipedia.org/wiki/India
https://en.wikipedia.org/wiki/Maurya_Empire
https://en.wikipedia.org/wiki/Bodh_Gaya
https://en.wikipedia.org/wiki/Ashoka
https://en.wikipedia.org/wiki/Vajrasana,_Bodh_Gaya
https://en.wikipedia.org/wiki/Shikhara
https://en.wikipedia.org/wiki/Bhumija
https://en.wikipedia.org/wiki/Stupa
https://en.wikipedia.org/wiki/Gautama_Buddha
https://en.wikipedia.org/wiki/Bodhi_Tree
https://magikindia.com/bodhgaya/

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Á và châu Đại Dương     

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Âu

Danh sách và bài viết  về Di sản thế giới tại châu Mỹ

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Phi

 


Cập nhật ( 11/03/2019 )
 
Tin đã đưa:

“ Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi, nhưng khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, việc lựa chọn cán bộ và công tác kiểm tra. Nếu ba điều ấy làm không tốt, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”.

 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com