Tuần 35 - Ngày 04/04/2020
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận, Việt Nam
19/02/2020

Thông tin chung:
Công trình: Tháp Hòa Lai, Thuận Bắc 
Địa điểm: Xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam (11,6764625°B 109,0359703°Đ)
Thiết kế kiến trúc:
Quy mô: Cụm 3 tháp
Năm thực hiện: Cuối thế kỷ 8 – đầu thế kỷ 9
Giá trị: Di tích quốc gia đặc biệt (Di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật, năm 2016)

Champa là một quốc gia cổ tồn tại liên tục từ năm 192 đến 1832 với lãnh thổ lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam; Từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào ngày nay, thuộc miền Trung Việt Nam. 
Văn hóa Champa tiếp nối từ văn hóa Sa Huỳnh, là văn hóa thuộc giai đoạn Sơ kỳ đồ sắt của cư dân nông nghiệp ven biển miền Trung và miền Nam, có niên đại từ giữa thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên (TCN ) đến đầu Công nguyên, chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trong việc xây dựng hệ thống thần quyền trị quốc.
Người Chăm ngoài việc thờ các vị thần bản địa còn thờ các vị thần sơ khai của Hindu giáo và Phật giáo.
Dân tộc chính là tộc người Chăm được chia thành hai nhóm: Chăm ở phía Bắc (bộ tộc Dừa) và Chăm ở phía Nam (bộ tộc Cau). Ngôn ngữ là tiếng Champa bản địa và tiếng Phạn, ngôn ngữ tế lễ của Hindu giáo, Phật giáo Bắc Tông và Jaina giáo. 

Tại đây, văn minh Ấn Độ, du nhập vào theo tôn giáo, được sử dụng rộng rãi: Văn học và điển tích tôn giáo; lịch trong sản xuất nông nghiệp và đời sống; kiến trúc và điêu khắc... Tuy nhiên yếu tố ngoại nhập này đều hòa hợp với yếu tố nội sinh mạnh mẽ của dân tộc Chăm, từ tục thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, chữ viết Champa, kiến trúc và điêu khắc độc đáo, âm nhạc và ca múa sinh động (Thần đạo), đến phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộm răng đen, hỏa táng và chôn tro xương trong các mộ vò…
Xã hội Champa mang đặc trưng cơ bản của khu vực Đông Nam Á, là xã hội của cư dân nông nghiệp. Quan hệ chủ yếu trong xã hội là quan hệ về ruộng đất, gắn với chế độ sở hữu và các hình thức sử dụng ruộng đất. Trong xã hội, vua có uy quyền tuyệt đối, tiếp đó là tầng lớp quý tộc, lãnh đạo tôn giáo và quan lại trung ương, địa phương. Người dân sống theo từng làng xã, là nơi duy trì mối quan hệ cộng đồng trong đời sống kinh tế và tinh thần.
Champa lần lượt trải qua các vương triều theo cùng một quá trình: Lập nước gắn với các vị vua khởi nghiệp; Xây dựng quốc gia hùng mạnh gắn với chống bành trướng phương Bắc, mở rộng bờ cõi về phía Tây và hội nhập với văn minh từ bên ngoài – Ấn Độ; Nội chiến giành quyền lực giữa các phe phái; Sụp đổ và bị thay thế bởi vương triều kế tiếp:   

Vương quốc Lâm Ấp (năm 192- 757): Đây được coi là giai đoạn khởi đầu cho lịch sử Champa độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của Trung Quốc, gắn liền với sự hấp thu văn minh Ấn Độ. Trong thời gian tồn tại, vương quốc Lâm Ấp trải qua 4 triều đại: 

Triều đại thứ nhất, từ năm 192-336: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên Khu Liên, lên ngôi năm 192. Trong giai đoạn này, lãnh thổ Việt bị đô hộ bởi các triều đại phương Bắc, được chia thành Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam (thuộc giai đoạn Bắc thuộc lần hai, năm 43- 541, dưới sự cai trị của nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tào Ngụy, Tấn, Tề và Lương). Năm 192, nhân nhà Đông Hán suy yếu, người dân theo Khu Liên nổi dậy lập ra nước Lâm Ấp. Lãnh thổ Lâm Ấp bao gồm cả khu vực thành phố Huế hiện nay, chạy dài cho tới phía Nam của núi Bạch Mã (giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng). Kinh đô (từ năm 192- 605) là thành Lồi (thuộc thành phố Huế). Thời kỳ đầu, Vương quốc Lâm Ấp chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Quốc. Về sau, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc, nhà nước Lâm Ấp đã thông qua các thương gia, tu sĩ mà tiếp thu văn minh Ấn Độ, bao gồm cả cách thức tổ chức xã hội, văn hóa và tôn giáo. Quốc thư trao đổi của Lâm Ấp với Trung Quốc thời đó đã được viết bằng chữ Phạn thay vì chữ Hán. 

Triều đại thứ hai, từ năm 336-420: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên là Phạm Văn. Ông là tể tướng của triều đại trước. Trong giai đoạn này miền Bắc Việt Nam vẫn bị đô hộ bởi các triều đại phương Bắc. Tại đây, văn minh Ấn Độ đã đi vào đời sống như tổ chức hệ thống quan lại, kỹ thuật luyện sắt…; Kinh đô – Thành Lồi tại Huế đã được xây dựng lại.
Với sức mạnh quân sự, nhà vua đã tấn công lên phương Bắc, giết thứ sử nhà Hán, mở rộng lãnh thổ đến tận đèo Ngang (ranh giới của hai tỉnh 
Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay).
Vị vua thứ 3 của triều đại thứ hai, vị vua Lâm Ấp đầu tiên được mô tả trong văn bia, là Phạm Hồ Đạt/ Dharmamaharaja (hiệu là Bhadravarman I), cai trị từ năm 380 đến 413. 
Dưới thời vua Phạm Hồ Đạt, nhiều nhà tu hành Hindu giáo, Phật giáo (Tiểu thừa) từ Ấn Độ sang truyền đạo. Thành Lồi (Huế) vẫn là trung tâm chính trị nhưng đổi tên là Kandapurpura, nghĩa là Phật Bảo Thành. Vua còn cho xây dựng thêm một trung tâm tôn giáo mới tại Amavarati, (thánh địa Mỹ Sơn, một thung lũng cách Đà Nẵng 69 km về phía Tây, thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Tại đây, nhiều đền Hindu giáo được xây dựng. Đền thờ thần Shiva (là một trong ba vị thần tối cao: Brahma là Đấng tạo hóa; Vishnu là Đấng bảo hộ; Shiva là Đấng hủy diệt) và linh vật Lingam (là một khối trụ tròn, đặt ở trung tâm một vật thể hình đĩa – Yoni; tổ hợp linh vật Lingam và Yoni tượng trưng cho sự kết hợp sức mạnh nam, nữ và toàn bộ sự tồn tại).

Triều đại thứ ba, từ năm 420-529: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên là Văn Địch, xưng hiệu là Phạm Dương Mại I, xuất thân là một người trong hoàng tộc. Năm 443, quân nhà Lưu Tống Trung Quốc (tồn tại 420- 479) đánh Lâm Ấp, phá hủy nhiều đền đài, cướp phá nhiều tượng vàng. Vua Lâm Ấp phải chạy về phía Nam.
 

Triều đại thứ tư, từ năm 529-757: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên là Luật Đa La Bật Ma, hiệu là Rudravarman I, xuất thân là một người trong hoàng tộc. Năm 577, Luật Đa La Bật Ma mất, con là Prasastadharma lên kế nghiệp, hiệu Phạm Phạn Chi (Sambhuvarman).
Tại miền Bắc Việt Nam, Lý Bí (Lý Nam Đế, trị vì năm 544- 548), khởi binh chống nhà Lương (tồn tại năm 502- 557) và chính thức thành lập nhà Tiền Lý cùng nước Vạn Xuân vào năm 544. Năm 602, nhà Tùy Trung Quốc (tồn tại năm 581- 619) quay trở lại đánh chiếm miền Bắc Việt Nam (bắt đầu thời Bắc thuộc lấn thứ 3, từ năm 602- 905, dưới sự thống trị của nhà Tùy và nhà Đường).
Nhà Tùy cũng tấn công Lâm Ấp vào năm 598, phá hủy kinh thành Kandapurpura vào năm 605. Vua Phạm Phạn Chi dời kinh đô vào phía Nam, đặt tại Simhapura (làng Trà Kiệu, cạnh sông Thu Bồn, thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam ngày nay), đặt tên cho vương quốc là Champa, theo một tên một loài hoa đẹp mọc nhiều ở Nam Trung Bộ với ngỏ ý khai sáng thời đại mới (người Việt gọi là hoa sứ hay hoa đại).
Vào khoảng thời gian này, vua Phạm Phạn Chi bắt đầu cho dựng lại thánh địa Mỹ Sơn (đền 
Bhadresvara) bằng gạch kiên cố, thay thế ngôi đền gỗ đã bị hủy hoại trong chiến tranh.

Sau khoảng 10 năm từ khi mất cố đô Kandapurpura, thừa thế nhà Tùy suy yếu, vua Phạm Phạn Chi phát động một chiến dịch nhằm thu hồi các lãnh địa phương Bắc và thành công. Các vua nối nghiệp vua Phạm Phạn Chi tiếp tục mở rộng lãnh thổ về phía Tây Nam, thuộc vùng đất của vương quốc Khmer.
Thời vua Phạm Phạn Chi được coi là là thời kỳ quá độ giữa vương quốc Lâm Ấp và vương quốc Champa. Văn minh Lâm Ấp giai đoạn này đạt tới đỉnh cao, bắt đầu lan tỏa khắp Đông Nam Á. 
Trong giai đoạn này, văn hóa Ấn Độ trở thành văn hóa chính của vương quốc. Hindu giáo và Phật giáo cùng được truyền bá. Người Chăm đã bắt đầu có các văn bản bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đã có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm.

Vương quốc Hoàn Vương (Panduranga, năm 757 – 875): ban đầu là một tiểu quốc phía Nam Lâm Ấp, hình thành từ sự phân rã của vương triều Lâm Ấp, sau đó nổi lên lật đổ vương triều cũ, thành lập vương triều mới.
Miền Bắc Việt Nam giai đoạn này nằm dưới sự thống trị của nhà Tùy và nhà Đường (tồn tại từ năm 618 – 907).
Vương quốc Hoàn Vương trải qua 5 triều đại :

Triều đại thứ nhất, từ năm 757- 774
Vị vua của triều đại có tên là Prithi Indravarman, trị vì một tiểu vương nằm tại phía Nam Lâm Ấp. Sau khi dành quyền lãnh đạo từ vương triều Lâm Ấp, vua là dời kinh đô Simhapura (thành Trà Kiệu) về Virapura (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận ngày nay). 
Thánh địa tôn giáo của vương quốc cũng dịch chuyển từ Mỹ Sơn về thánh địa Po Nagar (Nha Trang ngày nay) để thờ nữ thần Yan Po Nagar, là thần mẫu của người Chăm. (Người Việt sau khi chinh phục Champa đã gọi thần mẫu này là Thiên YA Na).
Năm 774, quân Nam Đảo (người Java và Malaysia) từ ngoài khơi đổ bộ vào chiếm kinh đô Virapura, cướp phá đền Po Nagar. Vua bị chết trong đám loạn quân. 

Triều đại thứ hai, từ năm  774 - 786
Vị vua của triều đại có tên là Satyavarman, thuộc dòng tộc của vương triều trước. Vua tổ chức quân đội tấn công quân Nam Đảo và đánh bại giặc trong một trận thủy chiến. Năm 781, vua cho dựng bia kỷ niệm chiến thắng và xây dựng lại thánh địa Po Nagar bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. 

Triều đại thứ ba, từ năm  786 - 801
Năm 786, vua Satyavarman qua đời, em trai ông có tên là Indravarman I (Nhân Đà La Bạt Ma) lên ngôi.
Năm 787, quân Java từ ngoài khơi lại tràn vào kinh đô Virapura, cướp phá tháp Hòa Lai thờ thần Bhadradhipatisvara  (tại phía Tây thành Virapura, gần Phan Rang ngày nay). Đến năm 799, vua mới đuổi được quân xâm lược, xây lại tháp Hòa Lai với ba tháp mới gọi là Kalan Ba Tháp, thờ các thần Hindu giáo. 

Triều đại thứ tư, từ năm 801 - 817
Năm 801, vua Indravarman I mất, em rể lên ngôi có tên là Deva Rajadhiraja, hiệu là Harivarman I (Kha Lê Bạt Ma). Năm 817, vua cho trùng tu lại tháp Po Nagar và xây dựng thêm hai tháp cạnh tháp chính. Tượng nữ thần Bhagavati, được tạc lại bằng đá hoa cương. Dưới triều vua Deva Rajadhiraja, vương quốc Hoàn Vương hưng thịnh trở lại. Vua tổ chức nhiều cuộc tấn công ra các quốc gia xung quanh, trong đó có các cuộc tấn công lên phía Bắc (châu Ái, châu Hoan – Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) vào các năm 803, 808 và 809. 

Triều đại thứ năm, từ năm 817 - 875
Năm 817, con trai vua Harivarman I, có hiệu là Vikrantavarman III (Thích Lợi Tì Kiên Đà Bạt Ma) lên kế vị. Vì vua còn nhỏ tuổi nên bên cạnh vua có phụ chính tên là Senapati Par. Ông cho tổ chức nhiều cuộc tấn công vào lãnh thổ Khmer và 
cho xây dựng thêm một số tháp xung quanh tháp chính trong khuôn viên tháp Po Nagar. Mặc dù vậy, trung tâm chính trị và tôn giáo của vương quốc vẫn là kinh đô Virapura. Dưới thời Vikrantavarman III, vương quốc Hoàn Vương là một đất nước phồn thịnh với quân đội hùng mạnh.  

Vương quốc Chiêm Thành (năm 875 - 1471): là triều đại tiếp nối vương quốc Hoàn Vương với kinh đô đặt tại Indrapura (từ năm 875 – 982, làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay). 
Tại miền Bắc Việt Nam, năm 905, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt nhân khi nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho nền độc lập của Việt Nam. Từ đây, nhà nước phong kiến độc lập của Việt Nam trải qua các quốc hiệu và vương triều : Đại Cồ Việt: thời nhà Đinh – nhà Tiền Lê và đầu thời nhà Lý (từ năm 968–1054); Đại Việt: thời nhà Lý – nhà Trần (từ năm 1054–1400); Đại Ngu: thời nhà Hồ (từ năm 1400–1407) ; Đại Việt: thời nhà Hậu Lê- Nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn (từ năm 1428–1804; Việt Nam: thời nhà Nguyễn (từ năm 1804–1839); Đại Nam: thời Nhà Nguyễn (từ năm 1839–1945).

Vương quốc Chiêm Thành trải qua 9 triều đại, kế tục Vương quốc Hoàn Vương, nên được gọi là triều đại thứ 6 đến triều đại thứ 14. Các vị vua đầu tiên của vương quốc Chiêm Thành theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức. Ở trung tâm của kinh đô Indrapura (Đồng Dương), một thiền viện Phật giáo (Vihara), bên trong thờ Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteśvara) đã được xây dựng.
Thời kỳ Phật giáo ảnh hưởng ở Champa kết thúc vào đầu thế kỷ thứ 10 (năm 925) với sự phục hồi của Hindu giáo, thờ thần 
Shiva. Trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở lại về Mỹ Sơn. Đây là thời kỳ văn minh Champa đạt đến đỉnh cao. Dân số của vương quốc lên đến 0,6 triệu người. 
Vương quốc Chiêm Thành dần suy yếu dưới sức ép của vương quốc Đại Cồ Việt từ phía Bắc và các cuộc chiến tranh với vương quốc Khmer từ phía Tây.
Vào khoảng cuối thế kỷ 10, do kinh đô Indrapura (Đồng Dương) bị quân đội Đại Cồ Việt tấn công phá hủy (năm 982), Chiêm Thành chuyển kinh đô xuống Vijaya ở phía Nam (từ năm 982- 1471, thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, Bình Định ngày nay, còn có tên là Chà Bàn/Trà Bàn).
Trong 5 thế kỷ tiếp theo, giữa Chiêm Thành và Đại Việt đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh.
Vị vua hùng mạnh cuối cùng của người Chăm là Chế Bồng Nga (Che Bonguar, năm 1360 – 1389, lên ngôi từ năm 1360). Ông tổ chức nhiều cuộc tấn công ra kinh đô Thăng Long và đã chết trong lần tấn công cuối cùng vào năm 1389.
Sau thời kỳ Chế Bồng Nga, Chiêm Thành liên tục bị các vương triều Đại Việt tấn công. Năm 1471, Champa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất phần lớn lãnh thổ phía Bắc. Phần lãnh thổ còn lại bị chia nhỏ thành các tiểu quốc, và tiếp tục dần bị các chúa Nguyễn thôn tính. Đến năm 1832, toàn bộ vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng (vị hoàng đế thứ 2 của triều Nguyễn, trị vì năm 1820 – 1841).   


Vương quốc Champa vào khoảng năm 1100.
Màu xanh: Phạm vi vương quốc Đại Việt (kinh đô Đại La - Hà Nội) ; Màu vàng : Vương quốc Champa (kinh đô Indrapura – Đồng Dương) ; Màu đỏ : Vương quốc Khmer (kinh đô Angkor) 

Đền tháp Champa
Nhóm tháp theo niên đại
Đền tháp Champa theo niên đại được phân thành 23 nhóm tháp. Đền tháp Mỹ Sơn là nhóm đầu tiên với niên đại sớm nhất từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13.   

TT

Tên di tích

Địa điểm

Niên đại

1

Nhóm tháp Mỹ Sơn

xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ IV - XIII

2

Nhóm tháp Po Sah Inư

phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

thế kỷ VIII

3

Nhóm tháp Mỹ Khánh

xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế

thế kỷ VIII

4

Nhóm tháp Hòa Lai

làng Tam Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

thế kỷ IX

5

Nhóm tháp Po Dam

làng Tuy Tịnh, xã Phong Phú, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận

thế kỷ IX

6

Nhóm tháp Đồng Dương

Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình. tỉnh Quảng nam

thế kỷ IX

7

Nhóm tháp Bằng An

làng Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ IX - X

8

Nhóm tháp Khương Mỹ

làng Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ X

9

Nhóm tháp Po Nagar

thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà

thế kỷ X - XIII

10

Nhóm tháp Chiên Đàn

làng Chiên Đàn, xã Tam An, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ XI - XII

11

Nhóm tháp Bánh Ít

thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

thế kỷ XI - XII

12

Nhóm tháp Bình Lâm

xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII

13

Nhóm tháp Đôi

thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII

14

Nhóm tháp Nhạn

thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

thế kỷ XII

15

Nhóm tháp Phú Lốc

xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII

16

Nhóm tháp Cánh Tiên

xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII - XIII

17

Nhóm tháp Thủ Thiện

xã Bình nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII - XIII

18

Nhóm tháp Dương Long

xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII - XIII

19

Nhóm tháp Liễu Cốc

xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế

thế kỷ XIII

20

Nhóm tháp Mẫm

xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XIII

21

Nhóm tháp Yang Praong

Bản Đôn, huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk

thế kỷ XIII

22

Nhóm tháp Po Klong Garai

phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

thế kỷ XIII - XIV

23

Nhóm tháp Po Rome

làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

thế kỷ XVII

Đặc trưng chung của các ngôi đền tháp Champa
Đền Champa thường được đặt tại các vị trí thoáng, gò đồi, không gần nơi dân cư sinh sống, xây dựng thành cụm, theo trục Đông – Tây, được thiết kế bằng sự kết hợp các hình thức trừu tượng và hình học cụ thế. Trong ngôi đền Champa có nhiều công trình dạng tháp.
Tháp Champa là một khối kiến trúc xây dựng bằng gạch hoặc có bổ sung một số cấu trúc đá, phía trên dật cấp hoặc thu nhỏ dần vào tạo thành hình tháp.
Mặt bằng tháp đa số là hình vuông. Không gian bên trong hẹp thường có cửa mở về hướng Đông - Tây, các phía còn lại là cửa giả, được bố trí đối xứng với cửa chính. Trần được cấu tạo vòm cuốn.
Gạch xây tháp có màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương. Gạch được nung, vừa đạt được độ cứng nhất định vừa tạo điều kiện cho việc chạm khắc, tương tự như đá sa thạch (là một loại đá được hình thành nhờ sự tích tụ của những đá cát, đá trầm tích, tương đối mềm và dễ gia công). Nghệ nhân chạm khắc trực tiếp lên các bức tường gạch thành phẩm. 
Gạch xây không có mạch vữa, được liên kết với nhau bằng một loại keo đặc biệt. Có giả thuyết cho rằng đó là  loại keo được tinh chế từ một loại thực vật tại địa phương. Giả thuyết khác là vữa xây làm từ đất sét tạo ra chính viên gạch. Giả thuyết này được củng cố sau khi thí nghiệm hóa học đã không tìm ra dấu vết của bất kỳ chất hữu cơ nào từ giữa các viên gach, mà tìm thấy các khoáng chất tương tự như các chất có trong lõi viên gạch.
Nghệ thuật chạm khắc của các ngôi đền tháp Champa là tiêu biểu cho Di sản nghệ thuật Champa. Các tác phẩm điêu khắc bằng gạch, đá sa thạch rất công phu với các trang trí hình hoa lá, chim, thú, vũ nữ, thần thánh (Hindu giáo, Phật giáo, tôn giáo bản địa) thể hiện trên mặt tường ngoài của tháp. Phổ biến và cũng hấp dẫn nhất trong nghệ thuật Champa là các vũ nữ (apsara, là một dạng tiên nữ múa hát trong các nghi lễ Hindu giáo và thần thoại Phật giáo). 

Phong cách nghệ thuật của các đền tháp Champa
Người ta cho rằng, di tích đền tháp Champa tại Việt Nam có tới 7 phong cách nghệ thuật :
Phong cách Mỹ Sơn E1 (Style of Mỹ Sơn E1) hay phong cách Cổ đại : có niên đại thế kỷ 7 – 8, được khái quát hóa từ đền tháp Mỹ Sơn E1 tại Di sản Thánh địa Mỹ Sơn. Phong cách này được thể hiện đầy đủ nhất tai ngôi tháp Mỹ Sơn E1.
Phong cách Hoà Lai (Style of Hoa Lai) : có niên đại cuối thế kỷ 8 - đầu thế kỷ 9, được khái quát hoá từ đền tháp Hoà Lai. 
Phong cách Đồng Dương (Đồng Dương style): có niên đại cuối thế kỷ 9 - đầu thế kỷ 10, được khái quát hoá từ đền tháp Đồng Dương. 
Phong cách Mỹ Sơn A1 (Mỹ Sơn A1 style): có niên đại thế kỷ 10, được khái quát hoá từ tháp Mỹ Sơn A1, thuộc  Di sản Thánh địa Mỹ Sơn. Phong cách này thể hiện đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất là ở ngôi tháp Mỹ Sơn A1.
Phong cách chuyển tiếp Mỹ Sơn A1- Bình Định: có niên đại đầu thế kỷ 11 - giữa thế kỷ 12.
Phong cách Bình Định (style of Bình Định): có niên đại cuối thế kỷ 11 - đầu thế kỷ 14.
Phong cách muộn : có niên đại từ đầu thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 17.  

Tháp Hòa Lai
Trong 23 nhóm tháp của Đền tháp Champa, nhóm tháp Hòa Lai đứng thứ 4.
Tháp Hóa Lai nằm tại làng Tam Tháp, xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.
Tháp Hòa Lai được xây dựng vào cuối thế kỷ 8, đầu thế kỷ 9, vào giai đoạn chuyển tiếp từ Vương quốc Hoàn Vương (năm 757 – 875) và thời kỳ đầu của Vương quốc Chiêm Thành (năm 875 - 1471). Trong giai đoạn này, Vương quốc Hoàn Vương và Vương quốc Chiêm Thành tiếp theo, là một đất nước phồn thịnh với quân đội hùng mạnh; Kinh đô đặt tại Indrapura (từ năm 875 – 982, làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay). Phật giáo giảm dần vai trò (kết thúc vào đầu thế kỷ 10) với sự phục hồi của Hindu giáo, thờ thần Shiva. Trung tâm tôn giáo của người Champa cũng chuyển từ Đồng Dương (Indrapura) trở lại về Mỹ Sơn (Amavarati).

Tháp Hòa Lai xây dựng trên cơ sở tiếp thu các triết lý, kỹ năng và kỹ thuật xây dựng từ các tháp được xây dựng giai đoạn đầu tại Di sản Thánh địa Mỹ Sơn (xuất hiện từ thế kỷ 4) và ngược lại cũng có ảnh hưởng tới một số tháp xây dựng tại đây vào giai đoạn sau.

Về tên gọi tháp, vào thời nhà Nguyễn, cách cụm tháp này khoảng 3 km về phía Bắc có dịch trạm (trạm thông tin liên lạc) tên là Thuận Lai. Trước năm 1888, phủ Ninh Thuận thuộc tỉnh Bình Thuận, các dịch trạm trên đất Bình Thuận đều có tiền tố "Thuận". Năm 1888, phủ Ninh Thuận chuyển về tỉnh Khánh Hòa, dịch trạm Thuận Lai đổi thành Hòa Lai, cùng tiền tố "Hòa" như các dịch trạm của Khánh Hòa. Vào cuối thế kỷ 19, các nhà khảo cổ đã lấy địa danh dịch trạm Hòa Lai đặt tên cho cụm di tích Ba Tháp. Năm 1901, phủ Ninh Thuận trở thành tỉnh Ninh Thuận, dịch trạm Hòa Lai được đổi thành dịch trạm Ninh Lai nhưng tên gọi tháp Hòa Lai vẫn giữ đến ngày nay.

Vào năm 787, quân Java từ ngoài khơi tràn vào kinh đô Virapura cướp phá. Khi đó tháp Hòa Lai thờ thần Bhadradhipatisvara, vị thần Mẫu bảo hộ xứ sở, cũng bị phá hủy. Hơn 10 năm sau, năm 799, vua Chiêm Thành mới đuổi được quân xâm lược. Sau đó vua cho xây lại tháp Hòa Lai với 3 cụm tháp mới gọi là Kalan Ba Tháp, thờ linh vật Hindu giáo.


Sơ đồ vị trí cụm tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận

Tháp Hòa Lai là một khu di tích lớn, nằm trên vùng đất cao nhất của một cánh đồng ở phía Bắc thành phố Phan Rang, tại xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận. Khu đền được xây dựng trong một khoảnh đất chữ nhật theo hướng Đông – Tây, dài 200m, rộng 125m.
Tháp Hòa Lai là một cụm 3 đền tháp: tháp Bắc, tháp Giữa (hay tháp Trung tâm) và tháp Nam.
Theo thời gian, cả 3 cụm tháp đều trở nên hoang tàn.
Vào cuối thế kỷ 19, tháp Giữa tuy sụp đổ song vẫn còn một phần thân tháp. Tháp tuy nhỏ hơn hai tháp kề liền song lại được xây dựng cẩn thận và còn giữ lại nhiều mảng trang trí. Sau đó, người Pháp đã cho phá dỡ toàn bộ phần thân và móng để lấy gạch làm đường cái quan, tức quốc lộ 1 bây giờ. Có thuyết cho rằng người Pháp phá tháp để tìm kiếm vật báu trong và dưới thân tháp.


Tháp Nam cụm tháp Hòa Lai,
Thuận Bắc, Ninh Thuận; ảnh tư liệu thời Pháp thuộc


Trang trí trên bề mặt tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận; ảnh tư liệu thời Pháp thuộc


Đồ thờ cúng bên trong tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận; ảnh tư liệu thời Pháp thuộc; Thời đó tháp vẫn còn được người dân thờ tự

Năm 2012, 2017, 2 tháp Bắc và Nam được phục dựng lại một phần.
Tháp Hòa Lai hiện chỉ như một di tích kiến trúc, không còn là nơi thờ tự, ít được người dân quan tâm, chăm sóc.
Tại tháp Hòa Lai đã và đang tiến hành các thám sát và khai quật khảo cổ học phục vụ cho việc tu bổ, phục hồi di tích.

Năm 2005, các nhà khảo cổ đã phát hiện phế tích móng tháp Giữa, kích thước mỗi cạnh 12m. Vật liệu xây tháp là gạch chữ nhật có kích thước dài từ 33- 40cm, rộng từ 18- 22cm, dày 5- 8cm. Tường tháp được xử lý mặt trong và ngoài bằng kỹ thuật mài chập tạo mạch rất khít, ruột tường được xây mạch vữa to. Mặt ngoài được trang trí các băng hoa sen, các đường soi rãnh ngang dọc, phù điêu sư tử, chim thần Garuda, voi.... đục chạm trực tiếp lên mặt gạch. Tại đây cũng phát hiện các tàn tích của các công trình phụ xung quanh như: Tháp cổng của tháp Giữa; Tường ngăn giữa 3 tháp; Tòa Bái đường trước tháp Nam…




Tháp Bắc, cụm tháp Hòa Lai, năm 1992



Tháp Nam, cụm tháp Hòa Lai, năm 1992




Trang trí trên bề mặt tháp Bắc, cụm tháp Hòa Lai, năm 1992


Các phát hiện khảo cổ cho thấy, cụm tháp Hòa Lai bao gồm 3 tháp đặt cạnh nhau (tương tự như tháp Nhóm B và Nhóm C tại Di sản Thánh địa Mỹ Sơn).
Mỗi tháp có cấu trúc tương tự như các ngôi đền Champa điển hình và cũng là cấu trúc chung của các ngôi đền Hindu giáo: 
Bố cục theo hướng Đông Tây. Mỗi tháp là tổ hợp của các công trình: Chính điện; Bái đường; Nhà phụ; tháp Cổng và tường bao quanh.
Tòa Chính điện (kalan/sanctuarya): đặt chính giữa sân đền với nhiều tháp phụ nhỏ xung quanh. Bên trong tháp đặt thần tượng thần Shiva - thần bảo hộ của các triều vua Champa và bộ linh vật Lingam và Yoni bằng đá sa thạch. Trong Ấn Độ giáo, linh vật Yoni có biểu tượng như là bộ phận sinh thực khí đàn bà, gắn với thờ nữ thần sinh sôi Shakti (Shaktism). Đi cùng với linh vật Yoni là linh vật Linga, có biểu tượng như là bộ phận sinh thực khí đàn ông, gắn với thờ thần hủy diệt và sáng tạo – thần Shiva (Shaivism). Linh vật Linga – Yoni thường đi đôi với nhau. Đây là nơi tôn nghiêm của đền, chỉ có pháp sư mới được vào. Những người cầu nguyện thường đi vòng quanh tháp theo chiều kim đồng hồ trên một lối nhỏ.
Tòa Bái đường (mandapa/jagamohan): nằm kề liền với Chính điện, tại lối ra vào, có chức năng là nơi sắp xếp lễ vật và múa hát nghi thức hành lễ.
Tòa Nhà phụ hay Nhà dài (kosagrha): nằm gần cổng, được sử dụng để chứa các vật có giá trị thuộc về vị thần hoặc để nấu ăn cúng tế cho vị thần.
Tháp cổng (gopura): nằm ngoài cùng gắn với tường bảo vệ đền.
Tại cụm tháp Hòa Lai, tháp Nam là tháp lớn nhất và còn nguyên vẹn nhất, song một số chi tiết trang trí trên bề mặt hiện mới là phần xây gạch thô mà chưa được chạm khắc. Trang trí tại tháp Bắc phong phú và sinh động hơn so với tháp Nam.
Năm 2014, tại cụm tháp Hòa Lai, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy cổ vật Yoni dưới lòng đất. Cổ vật bằng đá sa thạch dài dài 71 cm, rộng 51,5 cm, dày 9 cm. Song không tìm thấy linh vật Linga.


Tháp Bắc, cụm tháp Hòa Lai, năm 2002


Tháp Nam, cụm tháp Hòa Lai, năm 2002


Hình ảnh trống không bên trong tháp Hòa Lai, năm 2002


Cổ vật Yoni tìm thấy tại cụm tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận, năm 2014

Tháp Hòa Lai có một số đặc trưng tạo nên Phong cách Hòa Lai :
Mặt bằng Tháp chính hay Chính điện hình vuông. Mặt bằng nội thất bên trong tháp hình vuông phẳng kết hợp với hốc tường. Chính giữa tháp đặt linh vật. Bên trong tháp thu hẹp dần theo chiều cao. Mặt tường có các hốc nhỏ để gắn đèn khi cúng tế. 
Mặt đứng Tháp chính chia thành: Đế tháp, Thân tháp và Mái tháp.
Đế tháp cao với 5 bậc cao để có thể vào bên trong tháp, được trang trí bởi các hàng gạch dật bậc, thành những tầng sen cách điệu, kết hợp với những hình người, voi... chạm trên gạch. Bệ tháp có các trang trí, nhìn xa như những khóm cây vươn dần lên từ mặt đất bám vào thân tháp.
Thân tháp là một khối lập phương. Bề mặt tháp không phẳng mà có các trụ áp tường được trang trí. 4 góc tháp được nhấn mạnh bởi 4 trụ góc lớn. Các góc không có tháp phụ hay tháp góc. Lối vào Chính điện tại mặt Đông gắn với tòa Bái đường phía trước. Ba mặt thân tháp còn lại có cửa giả nhô ra, được tạo bởi hai trụ hình chữ nhật đỡ một vòm cuốn cong và nhọn ở trên đỉnh. Bên trong một số ô cửa giả có một hình tượng người chắp tay, được chạm thẳng vào tường gạch. Đây là một trong những đặc trưng chính để nhận diện phong cách Hòa Lai. (ví dụ như Tháp C1, tại Thánh địa Mỹ Sơn, được cải tạo theo phong cách Hòa Lai vào thế kỷ 11).
Mái tháp có chiều cao bằng thân tháp, song chia thành 3 tầng mái, nhỏ dần về phía trên. Trang trí tầng trên được mô phỏng theo tầng dưới.
Tại các diềm phân cách thân và các tầng mái, khối tháp đều hơi choãi ra phía ngoài. Đây cũng là nơi đặt các mảng trang trí. Trên đỉnh mái tháp là một khối chóp nay không còn. Điểm nổi bật nữa của phong cách Hòa Lai là những vòm cửa tò vò trùm lên trên cửa ra vào và các cửa giả của các tầng mái. Trên vòm cửa có các trang trí các mũi ống tròn, đầu ống hình lá uốn cong.
Khoảng tường giữa hai trụ ốp cũng được phủ bằng các hình chạm khắc hoa lá. Phần trên của diềm mái là hoa văn trang trí và hình các thần điểu Garuda đang xoè cánh.

Tại tháp Hòa Lai không sử dụng đá sa thạch kết hợp với gạch xây tại các vị trí : góc nhà, lối ra vào, bậc lên xuống…như các công trình tháp Champa khác.


Tháp Bắc mới được phục dựng lại,
cụm tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận, năm 2019
 

Tháp Nam mới được phục dựng lại, cụm tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận, năm 2019


 

Tàn tích tháp Giữa, cụm tháp Hòa Lai,
Thuận Bắc, Ninh Thuận, năm 2019


Lối vào tháp Bắc, cụm tháp Hòa Lai, năm 2019


Lối vào tháp Nam, cụm tháp Hòa Lai, năm 2019


Trang trí tại phần chuyển tiếp từ Bệ tháp sang Thân tháp, tháp Hòa Lai, năm 2019


Trang trí trên thân tháp Bắc, cụm tháp Hòa Lai, năm 2019


Trang trí vòm cửa giả tại tháp Bắc với các
mũi ống tròn, đầu ống hình lá uốn cong, năm 2019


Trang trí tượng nữ thần trên thân tháp Hòa Lai, năm 2019




Trang trí mái tháp Bắc, cụm tháp Hòa Lai, với
tràng hoa chạy dài và hình các thần điểu Garuda xoè cánh


Trang trí mái tháp Nam, cụm tháp Hòa Lai, như chưa chạm khắc xong,
mới chỉ là phần gạch xây thô.

Tháp Hòa Lai, xã Bắc Phong, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, được đánh giá là một trong những di tích tháp Champa cổ và đẹp nhất còn tồn tại.
Phong cách tháp Hòa Lai là một trong 7 phong cách nghệ thuật của các đền tháp Champa, Việt Nam. Đây là địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam vào thế kỷ thứ 8, 9. Kết quả khai quật khảo cổ học về tháp Hoà Lai mới chỉ là bước đầu, còn nhiều nội dung cần lý giải quá trình tồn tại và vị thế của khu tháp này trong lịch sử của vương quốc Champa. 

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD
Nguồn :
http://whc.unesco.org/en/list/949 
https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_t%C3%ADch_qu%E1%BB%91c_gia_%C4%91%
E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1p_H%C3%B2a_Lai
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_
Vi%E1%BB%87t_Nam
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_%E1%BA%A4p
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0n_V%C6%B0%C6%A1ng
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C4%83m_Pa
https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_%C4%91%E1%BB%81n_
th%C3%A1p_Ch%C4%83m_Pa
https://en.wikipedia.org/wiki/M%E1%BB%B9_S%C6%A1n
https://en.wikipedia.org/wiki/Hinduism
https://en.wikipedia.org/wiki/Art_of_Champa#Periods_and_styles_of_Cham_art
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_%C4%91%E1%BB%8Ba
M%E1%BB%B9_S%C6%A1n 
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1p_Ch%C4%83m
https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_c%C3%A1ch_ngh%E1%BB%87_thu%
E1%BA%ADt_c%C3%A1c_th%C3%A1p_Ch%C4%83m
http://vietlandmarks.com/module/groups/action/viewimages/id/397/album/0#484
http://redsvn.net/chum-anh-thap-hoa-lai-mot-dau-an-thoi-vang-son-
cua-vuong-quoc-champa/

https://khamphaninhthuan.com/thap-hoa-lai-ninh-thuan.html
http://baoninhthuan.com.vn/photo/93718p124c125/doc-dao-thap-cham-ninh-thuan.htm 


- Di sản thế giới Thánh địa Mỹ Sơn (
My Son Sanctuary), Duy Xuyên, Quảng Nam, Việt Nam xem tại đây

Xem các bài viết về chùa Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về đình, đền Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về Di sản văn hóa thế giới tại đây


Cập nhật ( 04/03/2020 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:
“ Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà?”
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com