Tuần 35 - Ngày 01/04/2020
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Lăng Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Dày, Vụ Bản, Nam Định
09/02/2020

Thông tin chung:
Công trình: Phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Liễu Hạnh
Địa điểm: Xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định
Quy mô:
Năm hình thành: Thế kỷ 16
Giá trị: Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2016) 

Phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Liễu Hạnh là nhóm công trình chính tại Khu di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật Phủ Giầy, trải rộng trên địa bàn xã Kim Thái huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Phủ Dầy có ý nghĩa là "Đền lớn ở làng Kẻ Dầy".
Quần thể Phủ Dầy bao gồm hơn 20 di tích gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam và cuộc đời Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong lần giáng sinh thứ 2, gồm: phủ Vân Cát, phủ Tiên Hương, lăng Bà Chúa Liễu, phủ Bóng, phủ Giáp Ba, phủ Dinh, phủ Đá, phủ Nội, phủ Tổ, đền Trình, đền Công Đồng, đền Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai, đền Mẫu Thượng, đền Mẫu Thoải, đền Mẫu Đông Cuông, đền Đức Vua, đền Quan Lớn, đền thờ Lý Nam Đế, đền Đức Thánh Trần, chùa Tiên Hương, chùa Vân Hùng, chùa Linh Sơn, chùa Dần, chùa Gôi, chùa Vân Cát... 

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một phần của Thần đạo Việt Nam, là tín ngưỡng tôn thờ Nữ thần, Mẫu thần, Mẫu Tam phủTứ phủ. Tín ngưỡng hay đức tin này có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa, không chỉ là việc đề cao vai trò của người phụ nữ, mà còn trở thành một trong những yếu tố văn hóa cốt lõi về tình thương yêu (như của người mẹ), trải ra đủ rộng, thấm vào đã sâu trong xã hội; một trong cội nguồn những điều tốt đẹp và linh khí của dân tộc Việt Nam.

Những văn bản ghi chép về Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam thường xuất phát từ huyền thoại, truyện kể dân gian và đồng thời cũng có hiện tượng ngược lại là huyền thoại hóa, dân gian hóa các văn bản thần tích, thần phả. Một số trường hợp là sáng tác thêm vào những truyền thuyết đã có, cho phù hợp với những tư tưởng, triết lý đương thời. 
Từ các truyền thuyết về Tín ngưỡng thờ Mẫu, người dân sáng tác chuyện, thơ, bài hát, điệu múa, trang phục, nghi lễ để lan truyền rộng rãi và lưu truyền cho các thế hệ tiếp sau. 

Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, sau một thời gian dài bị ảnh hưởng của Phật Giáo và Đạo giáo, một phần bị thu hẹp (ví dụ như tín ngưỡng thờ Tứ Pháp), một phần phát triển đạt đến mức "Đạo" vào thế kỷ 17,18, thay thế dần Đạo giáo Trung Hoa. Đó là đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ gắn với vị Giáo chủ được người dân thần phục là Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Đạo Mẫu theo chân người Việt di cư vào Nam trong quá trình mở mang bờ cõi. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu của người Champa, người Khmer. Từ đó tạo nên các dạng thức địa phương của Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam ở cả ba miền Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. 

Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ là sự kết hợp giữa tôn giáo bản địa và tôn giáo du nhập, vươn tới tầm Thần đạo, thể hiện qua việc đã có Quan niệm về tự nhiên, Cách sắp đặt thờ tự và Thực hành tín ngưỡng… 

Quan niệm về tự nhiên thông qua Tam phủ, Tứ phủ
Hệ thống Tam phủ (hay quan niệm về tự nhiên và vũ trụ) bao gồm: Thiên phủ (miền trời); Nhạc phủ (miền rừng núi); Thủy phủ (miền sông nước). Đây là những lĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp.
Cai quản Thiên phủ có Mẫu Thượng Thiên, làm chủ các quyền năng mây, mưa, sấm, chớp (tương tự như Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện).  
Cải quản Nhạc phủ có Mẫu Thượng Ngàn, trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
Cai quản Thủy phủ có Mẫu Thoải, trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
Hệ thống Tứ phủ gồm Hệ thống Tam phủ có thêm Địa phủ. Cai quản Địa phủ là Mẫu Địa, quản lý đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống. Trong nhiều trường hợp Địa phủ và Nhạc phủ là một; Tứ phủ và Tam phủ là một.  

Hệ thống thần linh Tam phủ và Cách sắp đặt thờ tự
Đạo Mẫu là một trong những tín ngưỡng Thần Đạo Việt Nam đã dung hòa nhiều yếu tố của Phật giáo, Đạo giáo (tôn giáo ngoại nhập) và tín ngưỡng của các vùng miền nên Hệ thống thần linh trong Đạo Mẫu Tam phủ rất đông đảo, song được phân thành các cấp bậc thờ tự:
Hàng thứ nhất: Phía trên cùng là Phật Thích Ca, Quán Âm Bồ Tát (còn gọi là Phật Bà Quán Ấm), hai bên có Kim đồng, Ngọc nữ hầu cận.
Hàng thứ hai: Tam vị đức vua (còn gọi là Ba vị vua cha hay Tam phủ ba vua) gồm:
Vua Cha Thiên phủ, Ngọc Hoàng Thượng đế là cao nhất, có ban thờ riêng, hai bên Ngài là Quan Nam Tào và Quan Bắc Đẩu; Vua Cha Nhạc phủ, Tản viên Sơn Thánh; Vua Cha Thoải phủ, Bát Hải Long Vương.
Hàng thứ ba: Tam tòa Thánh Mẫu: Mẫu đệ nhất Thượng Thiên; Mẫu đệ nhị Thượng Ngàn; Mẫu đệ tam Thoải Cung.

Trong Đạo Mẫu, tín đồ thường tập trung thờ tự và sinh hoạt tín ngưỡng xoay quanh hàng thứ ba, Tam tòa Thánh Mẫu trở xuống.
 
Hàng Quan: Từ 5- 10 vị, gồm Ngũ vị Tôn quan: Quan đệ nhất Thượng Thiên, Quan đệ nhị Thượng Ngàn, Quan đệ Tam Thoải Cung, Quan đệ Tứ Khâm sai, Quan đệ ngũ Tuần tranh; Lục phủ Tôn quan.
Hàng Chầu bà: Từ 4- 12 vị, trong đó có: Chầu đệ nhất Thượng Thiên, Chầu đệ nhị Thượng Ngàn, Chầu đệ tam Thoải Cung, Chầu đệ tứ Khâm Sai…
Hàng ông Hoàng: Từ 5 - 10 vị, trong đó có: Hoàng Cả Thượng Thiên, Hoàng Đôi Thượng Ngàn, Hoàng Bơ Thoải phủ, Hoàng Bảy, Hoàng Mười…
Hàng Cô: 12 vị, trong đó có: Cô Cả Thượng Thiên, Cô Đôi Thượng Ngàn, Cô Bơ Thoải Cung, Cô Chín Sòng Sơn, Cô bé Đông Cuông …
Hàng Cậu: 12 vị, trong đó có: Cậu Hoàng Cả, Cậu Hoàng Đôi, Cậu Hoàng Bơ, Cậu Hoàng Tư Địa Phủ, Cậu Bé Bản Đền.…
Hàng Ngũ Hổ và ông Lốt: 5 ông Hổ với màu sắc tượng trưng ngũ hành và 2 vị Thanh xà, Bạch xà Đại tướng quân. 

Sự khác nhau về số lượng các vị thần trong từng hàng (quan, chầu bà, ông hoàng, cô, cậu) do khác biệt trong quan niệm ở các vùng miền.
Các thần linh Tứ phủ có nguồn gốc không chỉ là người Kinh mà còn thuộc các dân tộc ít người như Tày, Nùng, Dao, Champa, Khmer, Hoa…. Bên cạnh đó có nhiều vị vốn là những nhân vật lịch sử được thần thánh hóa như Lý Nam Đế, Trần Hưng Đạo… 

Thực hành tín ngường thờ Mẫu Tam phủ
Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ không chỉ là các hoạt động nghi thức nhằm duy trì và lan truyền Đạo Mẫu Tam Phủ, mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc, được cộng đồng trao truyền qua nhiều thế hệ. Cùng với Quan niệm về tự nhiên và Cách sắp đặt thờ tự, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ thể hiện triết lý về ứng xử giữa con người với con người, con người với tự nhiên. Trong đó, không chỉ đề cao vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống gia đình và xã hội, mà còn phản ánh sự tích hợp và dung hòa nhiều loại hình, sắc thái văn hóa truyền thống của các dân tộc. Từ đây, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững văn hóa cộng đồng và góp phần xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam.
Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ có rất nhiều nghi thức, từ lễ phục, âm nhạc, hầu đồng, rước Mẫu, thỉnh kinh, rước đuốc đến lễ hội (gắn với nghi lễ cầu mưa thuận, gió hòa, quốc thái dân an đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, quốc gia; cầu tài, cầu lộc, cầu sức khỏe đáp ứng nhu cầu của đời sống thường nhật)…là một trong những thành tố đặc sắc của văn hóa Việt Nam.


Năm 2016, Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Practices related to the Viet beliefs in the Mother Goddesses of Three Realms). 


Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2016).


Biểu diễn Chầu văn tại phủ Tiên Hương, Di tích Phủ Dầy,
Vụ Bản, Nam Định 


Lễ Rước Mẫu và Thỉnh kinh tại phủ Vân Cát,
Di tích Phủ Dầy, Vụ Bản, Nam Định

Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Liễu Hạnh là vị Thánh đứng đầu Đạo Mẫu Tam Phủ.
Bà vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng đế, 3 lần giáng trần. Bà đã được các triều đại phong kiến từ thời nhà Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều sắc, tôn phong là "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân","Chế Thắng Hoà Diệu đại Vương" và đã quy y Phật giáo.
Trong Điện thờ Tam phủ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh luôn đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên, ngồi chính giữa (trang phục màu đỏ), bên trái là Mẫu Thoải (trang phục màu trắng) và bên phải là Mẫu Thượng Ngàn (trang phục màu xanh).

Lần giáng trần đầu tiên
Lần đầu tiên, Bà giáng sinh vào gia đình ông Phạm Huyền Viên tại thôn Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Thái An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam (nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định), được cha mẹ đặt tên là Phạm Tiên Nga.
Bà giáng trần năm 1434 (thời vua Lê Thái Tông, vị hoàng đế thứ 2 triều Hậu Lê nước Đại Việt, trị vì 1433 - 1442) và trở về thượng giới năm 1473, vào năm 40 tuổi.
Sau khi Bà mất, dân đã lập đền thờ, gọi là phủ Quảng Cung (phủ Nấp), nay thuộc xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, Nam Định.

Lần giáng trần thứ hai
Lần thứ hai, Bà giáng sinh vào gia đình ông Lê Thái Công (Lê Đức Chinh) tại thôn An Hải, xã Thiên Hương - Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ (nay là xã Kim Thái, huyện Vụ BảnNam Định), được cha mẹ đặt tên là Lê Giáng Tiên. Lần giáng trần này cách lần trước vào khoảng 120 năm.
Lần này, Bà kết duyên với ông Trần Đào Lang, sinh được một người con trai tên là Nhân, một con gái tên là Hoà.
Bà giáng trần năm 1557 (thời vua Lê Anh Tông, vị hoàng đế thứ 14 của nhà Hậu Lê, nước Đại Việt, trị vì 1556 -1572, thời Lê - Trịnh) và trở về thượng giới năm 1577, vào năm 21 tuổi.
Sau khi Bà mất, lăng mộ và đền thờ Bà được lập ở Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ BảnNam Định. 

Lần giáng sinh thứ ba
Lần thứ ba, Bà giáng sinh vào một gia đình họ Hoàng tại xã Phú Long, huyện Nho Quan, Ninh Bình, được cha mẹ đặt tên là Hoàng Thị Trinh. Lần này Bà kết duyên với ông Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai tên là Cổn. Nhưng chỉ hơn một năm sau đó, năm 19 tuổi, Bà trở về thượng giới.
Sau khi Bà mất, người dân lập phủ thờ Bà và con trai (phủ Đồi Ngang hay phủ Cậu bé Đồi Ngang) tại xã Phú Long, huyện Nho Quan, Ninh Bình.
Mỗi lần giáng sinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh đều dạy dân hành thiện, sống đời đạo đức. Từ lần thứ ba trở đi, Bà hóa thân cùng với hai hầu cận là Quỳnh Hoa và Quế Hoa đi chu du khắp nước, không chỉ nhiều lần thi triển thần thông giúp đỡ người lành, trừng trị kẻ ác, mà còn để lại biết bao thần tích và giai thoại. Các triều đại từ thời Hậu Lê trở về sau đều có ghi sự tích của Bà. 

Mẫu Liễu Hạnh một trong bốn vị thánh Tứ bất tử
Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh Tứ bất tử:
Tản viên Sơn Thánh là vị thần núi Tản Viên Ba Vì, tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự nhiên;
Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Gióng tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh của tuổi trẻ;
Chử Đồng Tử hay Chử Đạo Tử tượng trưng cho lòng hiếu nghĩa, hôn nhân và sự giàu có;
Mẫu Thượng thiên hay Mẫu Liễu Hạnh tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, đức hạnh, trí tuệ.

Ba vị thánh đầu tiên đều xuất hiện vào thời vua Hùng (vương triều Văn Lang, truyền được 18 đời). Vị thánh Tứ bất tử thứ ba là Chử Đồng Tử xuất hiện vào đời vua Hùng thứ 18 (tồn tại đến năm 258 TCN).
Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1434, vào thời vua Lê Thái Tông (vị hoàng đế thứ 2 của triều Lê nước Đại Việt, trị vì năm 1433 – 1442). Như vậy, phải sau 1700 năm, người Việt mới bổ sung thêm cho mình một vị thánh Tứ bất tử thứ tư. Để lý giải cho câu chuyện này đã có rất nhiều giai thoại.

Tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa đã có từ thời xa xưa gắn với sự tích: Lạc Long Quân (nòi Rồng, Lạc Việt) và Âu Cơ (giống Tiên, Âu Việt) có phúc lành sinh trăm con trai, nở ra từ “Bọc trăm trứng”. Khi các con trưởng thành, 50 người con theo Cha Lạc Long Quân xuống biển, 50 người con theo Mẹ Âu Cơ lên núi.
Mẹ Âu Cơ đưa người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đóng đô tại Bạch Hạc (Hạc trắng), Phú Thọ. Đó là vào thế kỷ thứ 7 TCN. Mẹ Âu Cơ được gọi là Quốc mẫu Âu Cơ.

Thời bấy giờ, nước Văn Lang ngoài tín ngưỡng thờ Mẫu, có lẽ chỉ cần 3 vị thánh bất tử.
Vào cuối thời Hùng Vương, thế kỷ 3 – thế kỷ 2 TCN, Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam.
Vào thời kỳ Bắc thuộc (3 lần: năm 179TCN – 39; năm 43- 541; năm 602- 905), các triều đại Trung Quốc không ngừng thực hiện đồng hóa người Việt, nhằm biến Việt Nam thành quận huyện thông qua việc truyền bá văn minh Trung Hoa: Chữ nho, Đạo giáo (Đạo Khổng và Đạo Lão).
Thời nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Đạo Phật ngày càng có vai trò quan trọng, được coi là Quốc giáo.
Các tôn giáo ngoại nhập như Đạo Phật, Đạo giáo đã dần lấn át tôn giáo bản địa – Thần đạo Việt Nam.
Song lịch sử cũng cho thấy, Đạo Phật, Đạo giáo ít có vai trò khi đất nước bị nạn ngoại xâm.
Vào thời Hậu Lê, truyền thuyết về việc Rùa Thần cho mượn kiếm để đánh giặc Minh Trung Quốc là ví dụ tiêu biểu cho nhu cầu phục hưng Thần đạo Việt Nam để gắn kết cộng đồng, khơi dậy nguyên khí và sức mạnh quốc gia.
Tiếp đó, Thần đạo Việt Nam (cùng với ngôn ngữ - chữ Nôm) cũng phải đủ mạnh, tương xứng với sức mạnh quân sự để mở mang bờ cõi về phương Nam; không chỉ thống nhất về đất đai mà còn phải thống nhất cả về văn hóa.
Có lẽ từ nhu cầu xã hội to lớn đó mà các vị tinh hoa của dân tộc Việt đã sáng tạo ra một vị thánh Tứ bất tử mới - Thánh Liễu Hạnh. Đây không phải là một vị thánh mang tính cá nhân như 3 vị thánh trước, mà là vị Giáo chủ của một tổ chức - Đạo Mẫu, khởi nguồn từ một tín ngưỡng bản địa mạnh mẽ, để phục hưng và mở rộng văn hóa nước nhà.

Các vị tinh hoa của dân tộc Việt cũng gửi gắm vào Thánh Mẫu Liễu Hạnh các triết lý văn hóa đương thời mà chính họ đang hướng tới:
Trước hết, Bà là vị Thánh linh thiêng do kết nối được các quyền lực: Quyền lực Phật giáo, Bà quy y cửa Phật, trở thành Mã Vàng Bồ Tát; Quyền lực Đạo giáo, Bà được cho là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế; Quyền lực Vương triều, Bà được các triều đại phong kiến từ thời Hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều sắc, tôn phong là  "Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân","Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương".

Bà là người trải qua các cung bậc của đời người để hiểu nỗi vui khổ của chúng sinh, sự thịnh suy của chính thể và hết lòng hành thiện giúp đời qua 3 lần giáng trần ở các kiếp khác nhau và các lần giáng trần khác.

Bà xuất thân là công chúa con vua, song con của Bà tại hai lần giáng trần đều không được nhiều người biết tới. Điều này cho thấy, không phải nguồn gốc xuất xứ mà chính là công tích hay điều tốt đẹp làm cho đời mới quyết định vị thế của mỗi con người. 

Bà giáng sinh hay hóa tại vùng đất nào đều như là sự chỉ báo về sự xuất hiện hoặc suy tàn của một dòng họ quyền lực, cũng như sự xuất hiện vị minh chủ mới của quốc gia.

Bà không chỉ giúp đỡ những người dân nghèo khó, trừng trị bọn quan tham tàn ác, mà còn gặp gỡ giới tinh hoa, để hiểu học vấn và khả năng làm những điều tốt đẹp của họ, qua việc Bà gặp 2 lần và xướng họa thơ với vị tiến sĩ Phùng Khắc Khoan (năm 1528 -1613, tục gọi là Trạng Bùng)...Giới hiền tài - nguyên khí quốc gia sau này đã lập phủ Tây Hồ thờ Mẫu Liễu Hạnh tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội. Đây cũng là minh chứng về sự tự do sáng tạo đặc sắc của người Việt. Trong hệ thống Thần đạo Việt Nam, có đủ chỗ để những kẻ sĩ muốn làm quan phát tài cho bản thân đến cầu xin Khai ấn như tại đền Trần Nam Định và cũng có đủ chỗ để những kẻ sĩ muốn làm điều tốt đẹp cho dân đến cầu xin Thức tỉnh như tại phủ Tây Hồ, Hà Nội.  

Khu Di tích Phủ Dày
Phủ Dầy là một quần thể di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, trong đó có 3 công trình chính: Phủ Vân Cát, Phủ Tiên Hương, Lăng Bà Chúa Liễu.
Phủ Dầy xưa kia nằm trên địa bàn làng Kẻ Dầy. Năm 1557, dưới triều vua Lê Anh Tông, làng Kẻ Dầy được đổi thành xã Anh Thái. Năm 1861, dưới triều vua Tự Đức, xã An Thái đổi tên thành xã Tiên Hương.
Năm 1557 triều vua Lê Anh Tông, làng Kẻ Dầy lấy tên chữ là xã An Thái, sau này chia thành 2 xã nhỏ là Tiên Hương và Vân Cát, cách nhau 2 km. Mỗi nơi có phủ thờ Liễu Hạnh riêng là phủ Tiên Hương và phủ Vân Cát.
Ngày nay, xã An Thái đổi tên lại là xã Kim Thái.
Hội Phủ Dầy được tổ chức hàng năm vào ngày 3 tháng 3 âm lịch – ngày giỗ của Bà, lần giáng trần thứ hai.  

Phủ Tiên Hương 
Phủ Tiên Hương như hiện nay được xây dựng vào thế kỷ 17, thời Lê Cảnh Trị (1663 – 1671) và đã qua nhiều lần trùng tu.
Phủ Tiên Hương hướng Tây, về dãy núi Tiên Hương (một trong 6 ngọn núi đất, đá của huyện Vụ Bản: núi Ngăm, núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi và núi Hổ).  
Năm 1996, phủ Tiên Hương đã được sửa chữa lớn để thờ phụ thân của Mẫu Liễu Hạnh và Đức Thánh Trần.
Phía Bắc phủ Tiên Hương là đền Đức Thánh Trần, phía Nam là chùa Tiên Hương, đền thờ Đức vua (Lý Nam Đế), tạo thành một quần thể phủ - đền - chùa.  


Mặt bằng phủ Tiên Hương,
Khu Di tích Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định




Phối cảnh tổng thể p
hủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định

Phủ Tiên Hương là một quần thể gồm: Nghi môn, Phương đình, hồ Bán nguyệt, Điện phủ và các công trình phụ trợ.

Nghi môn là một hàng trụ biểu, giới hạn tượng trưng giữa sân ngoài và sân trong của phủ. Phía trước Nghi môn là một hồ tròn. Giữa hồ là một bệ hình vuông, bên trên đặt một đỉnh đồng lớn.
Sau Nghi môn là sân trong. Trong sân có lầu Chuông, Trống và Chiêng, đồng thời cũng là nhà bia. Chính giữa là lầu Chuông, cũng là Phương du đón khách hành hương, 3 gian, 2 tầng mái, 8 mái.
Sau lầu Chuông là hồ Bán nguyệt. Hồ có lan can đá thấp bao quanh và một bức bình phong đá nằm chính giữa. Đối xứng hai bên, bên phải là lầu Cậu, bên trái là lầu Cô.


Hồ Bán Nguyệt; cạnh hồ là lầu Chuông và lầu Chiêng, phía xa là hệ thống các trụ biểu của Nghi môn


Lầu Chuông, phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Lầu Chiêng và nơi đặt bia,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban thờ tại lầu Cậu, bên trái tòa Đệ tứ cung,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban thờ tại lầu Cô, bên phải tòa Đệ tứ cung, phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định

Điện phủ gồm 4 tòa nhà đặt song song với nhau theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”: Đệ tứ cung, Đệ tam cung, Đệ nhị cung, Đệ nhất cung (tòa trong cùng).
Đệ tứ cung (Tiền đường) nằm sát hồ Bán nguyệt, là tòa nhà lớn nhất của Điện phủ, gồm 5 gian, 2 chái, đầu hồi bít đốc, 2 mái. Bên trong thờ Tứ phủ công đồng hay còn gọi là ban Công Đồng.
Đệ tam cung thấp và hẹp hơn Đệ tứ cung, gồm 5 gian, đầu hồi bít đốc, 2 mái. Bên trong thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và Ngũ vị vương quan.
Đệ nhị cung hẹp như kiểu nhà cầu, rộng 2,5m, dài 11m, nối mái Đệ tam cung với mái Đệ nhất cung. Bên trong thờ Tứ vị Chầu Bà và ba bộ long ngai.
Đệ nhất cung (Hậu cung) 3 gian, đầu hồi bít đốc, 2 tầng mái, cao hơn hẳn so với Đệ tam cung và Đệ nhị cung. Bên trong thờ Tam Tòa Thánh Mẫu. Hậu cung có khám kính đặt tượng đồng Mẫu Liễu Hạnh và cùng với hai hầu cận là Mẫu Quang cung Quế Anh phu nhân và Quỳnh cung Duy Tiên phu nhân.

Bên cạnh Điện phủ còn có các tòa, bên trong đặt ban thờ Ban Trần Triều (thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo) và Ban Đức Vương Phụ, Vương Mẫu. Đằng sau Hậu cung là Động Sơn Trang, nơi thờ bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn và mười hai cô Sơn Trang.
Các hệ thống kèo, xà ngang, xà dọc của các tòa nhà trong phủ Tiên Hương đều được chạm khắc công phu với nhiều họa tiết sinh động hình tứ linh, tứ quý. Một số khám thờ khảm trai, bề thế và tinh xảo.
Phủ Tiên Hương còn lưu giữ được một số sắc phong đầu thế kỷ 18, tôn vinh Thánh Mẫu là  “Mẫu nghi thiên hạ”. 


Tòa Đệ tứ cung hay Tiền đường,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban Công đồng tại Đệ tứ cung,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế và Ngũ vị vương quan tại Đệ tam cung, phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Bộ Long ngai tại Đệ nhị cung,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban thờ Tứ vị Chầu Bà tại Đệ nhị cung,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Phía sau tòa Đệ nhất cung (Hậu cung),
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban Tam Tòa Thánh Mẫu thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và hai vị phu nhân hầu cận,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban Bà Chúa Đệ Nhị Thượng ngàn tại Động Sơn Trang,
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban Trần Triều, thờ Trần Hưng Đạo, tại
phủ Tiên Hương, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định

Phủ Vân Cát 
Phủ Vân Cát nằm ở phía Bắc thôn Vân Cát thuộc xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hương chừng 1 km về phía Tây Nam.
Phủ được xây dựng trên một khu đất rộng khoảng 1h, mặt quay về hướng Tây, về núi Ngăm.
Bên phải phủ Vân Cát là đền thờ Đức Vua cha (Lý Nam Đế), bên trái phủ là chùa Vân Hùng, tạo thành quần thể phủ - đền - chùa tương tự như phủ Tiên Hương.


Mặt bằng phủ Vân Cát,
Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định




Phối cảnh tổng thể phủ Vân Cát, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định

Phủ Vân Cát là một quần thể bao gồm: Nghi môn và Lầu chuông, Hồ và Thủy lâu, Điện phủ và các công trình phụ trợ.
Nghi môn là một dãy với 5 gác lầu, là gác chuông, được xây dựng vào thế kỷ 19, thời vua Tự Đức (hoàng đế thứ 4 triều Nguyễn, trị vì năm 1847- 1883).
Phía ngoài Nghi môn là một hồ nước. Trên hồ có một tòa Thủy lâu (Phương đình) để thoáng 4 mặt, nối với bờ bằng 2 cây cầu đá. Thủy lâu được xây dựng vào năm 1900, là tòa 3 gian, 4 mái, 4 góc là 4 cột đá. Lan can xung quanh bằng đá với các mảng phù điêu chạm khắc hoa văn.
Phía trong Nghi môn là khoảng sân rộng trước khi vào Điện phủ.


Nghi môn phủ Vân Cát, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Tòa Thủy Lâu trên hồ phía trước Nghi môn, phủ Vân Cát, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định

Điện phủ có cấu trúc kiểu “nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc”, gồm 4 tòa nhà đặt song song với nhau: Đệ tứ cung, Đệ tam cung, Đệ nhị cung, Đệ nhất cung (tòa trong cùng) gắn liền với hệ thống các tòa Tả mạc, Hữu mạc như hành lang bao quanh.
Đệ tứ cung, còn gọi là tòa Tiền đường, 5 gian, mái 2 tầng, 8 mái; bộ cách cửa chạm vân mây, rồng, hoa lá… đường nét rất tinh xảo. Các xà, kẻ, bẩy được gia công chạm khắc, soi chỉ công phu với nhiều hình tứ linh, tứ quý.
Đệ tứ cung thờ Quan Giám sát. Hai bên sập thờ có giá để những đồ bát bửu. Trong Đệ tứ cung có những bức y môn và đại tự chạm khắc cầu kỳ và sơn son thếp vàng rực rỡ.
Trong sân, bên trái tòa Đệ tứ cung là lầu Cô, bên phải là lầu Cậu, là tòa tháp với mái 2 tầng, 8 mái.
Đệ tam cung, còn gọi là tòa Bái đường, 5 gian, đầu hồi bít đốc, 2 mái. Đệ tam cung thờ Công đồng tứ Phủ, Bà Chúa Bản Đền.
Đệ tứ cung và Đệ tam cung được tôn tạo và mở rộng vào năm 1879. Cả hai cung này bị giặc Pháp ném bom phá hủy. Năm 1959, dân làng dựng lại Đệ tứ cung. Còn Đệ tam cung được dựng lại sau này vào năm 1992.
Đệ nhị cung 3 gian, đầu hồi bít đốc, 2 mái. Đệ nhị cung thờ Tứ vị Chầu bà và Ngũ vị Quan lớn, đặc biệt có hai khám hai bên thờ Ông Hoàng Mười (bên phải) và Ông Hoàng Ba (bên trái).
Đệ nhất cung hay Hậu cung 3 gian, mái 2 tầng, 4 mái, cao vượt hơn hẳn so với Đệ tam cung và Đệ nhị cung. Đệ nhất cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu, tượng bằng đồng gồm có Mẫu Thượng Thiên ngồi giữa, Mẫu Thượng Ngàn bên trái, Mẫu Thoải bên phải.
Trong Phủ còn lưu giữ được nhiều câu đối, đại tự, hoành phi và hệ thống văn bia có giá trị.
 


Phối cảnh tòa Đệ Tứ cung (Tiền đường), bên phải là lầu Cô, bên trái là lầu Cậu, phủ Vân Cát, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Ban Ngũ vị Quan lớn tại tòa Đệ nhị cung, phủ Vân Cát, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định

Lăng Bà Chúa Liễu 
Lăng Bà Chúa Liễu nằm ở thôn Tiên Hương trên cồn có hình cá chép, được xây gạch lát đá.
Vào năm 1938, vua Bảo Đại (hoàng đế thứ 13 triều Nguyễn, trị vì năm 1925 - 1945) cầu tự Thánh Mẫu được quý tử, đã cho trùng hưng lại lăng mộ với chất liệu bằng đá xanh và 60 búp sen đá như hiện tại.
Lăng có diện tích 625m2, gồm có cửa vào theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Hướng chính quay về phía Tây, về phía núi Tiên Hương.
Giữa lăng là ngôi mộ khối bát giác, mỗi cạnh chừng 1m.
4 góc lăng mộ là 4 trụ cột đá. Tại bốn cửa ở bậc cuối cùng đều có một bức bình phong bằng đá án ngữ. Phía sau cửa chính, nằm về hai phía góc đối diện với cửa ra vào là hai nhà bia.
Bên cạnh khu lăng mộ còn có một tòa thờ tự. Ban thờ Mẫu nằm chính giữa, bên trái ban thờ Bà Cai Bản mệnh, tiếp là ban thờ đức Thánh Trần; bên phải là ban thờ Quan lớn đệ nhất và ban thờ Nhị Vị Cô Nương.


Mặt bằng Lăng Bà Chúa Liễu, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định


Lăng mộ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Khu Di tích Phủ Dầy, Nam Định

Phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát và lăng Mẫu Liễu Hạnh tại Khu di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật phủ Giầy thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định là minh chứng sống động về Đạo Mẫu Liễu Hạnh, một trong tín ngưỡng quan trọng hàng đầu của Thần đạo Việt Nam  

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD
Nguồn :
https://vi.wikipedia.org/wiki/Li%E1%BB%85u_H%E1%BA%A1nh_c%C3%B4ng_ch%C3%BAa
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ADn_ng%C6%B0%E1%BB%A1ng_th%E1%BB%9D_
M%E1%BA%ABu_Vi%E1%BB%87t_Nam

https://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_ph%E1%BB%A7
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_ph%E1%BB%A7
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_gi%C3%A1o_Vi%E1%BB%87t_Nam
http://special.vietnamplus.vn/thomautamphu
https://ich.unesco.org/en/RL/practices-related-to-the-viet-beliefs-in-the-mother-goddesses
-of-three-realms-01064

https://www.youtube.com/watch?v=L8uG3kEJc48
https://www.youtube.com/watch?v=UlD4E4-mMeU
https://www.youtube.com/watch?v=wRu2jnv0fj0

- Xem Phủ Tây Hồ, Hà Nội tại đây
- Xem Phủ Quảng Cung, Ý Yên, Nam Định tại đây

Xem các bài viết về chùa Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về đình, đền Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về Di sản văn hóa thế giới tại đây

Cập nhật ( 26/03/2020 )
 
Tin mới đưa:
“ Chủ nghĩa xã hội là “ làm cho dân giàu nước mạnh”  là “ mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do””.
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com