Tuần 22 - Ngày 27/11/2021
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Mạng lưới đường bộ Inca tại Argentina, Bolivia, Chile, Colombia, Ecuador, Peru
04/05/2017
 

Thông tin chung: 
Công trình: Mạng lưới đường bộ Inca (Inca road system/Qhapaq Nan, Andean Road System) 
Địa điểm: ArgentinaBoliviaChileColombiaEcuadorPeru 
Thiết kế kiến trúc: 
Quy mô: Diện tích khu vực Di sản 11.406,95ha; vùng đệm 663.069,68ha. 
Năm hình thành: Thế kỷ 15-16 
Giá trị: Di sản thế giới (2014; hạng mục ii, iii, iv, vi)  

Người Inca là một tộc người da đỏ tại miền Nam châu Mỹ. Nền văn minh Inca khởi phát từ vùng cao nguyên của Peru vào đầu thế kỷ 13. Đến thế kỷ 16, người Inca đã chinh phục các bộ tộc khác và làm chủ một vùng rộng lớn,  hình thành Đế chế Inca (Inca Empire, còn được gọi là Tawantinsuyu) với mức độ tổ chức cao, gồm trung tâm là thủ đô Cuzco (thuộc Peru ngày nay) và 4 phần bao quanh: Chinchaysuyu tại phía Bắc, Antisuyu và rừng Amazon tại phía Đông; Qullasuyu tại phía Nam và Kuntisuyu tại phía Tây. 
Trong thời điểm mở rộng nhất, ảnh hưởng của Vương quốc này trải dài từ Ecuador ngày nay cho đến Chile và Argentina, được coi là một trong những đế chế lớn nhất thế giới vào đầu thế kỷ 16 và là đế chế lớn nhất trong thời tiền Columbo Mỹ với diện tích đất khoảng 2.000.000 km² , dân số khoảng 10 triệu người (năm 1527), trong đó người Inca (thuật ngữ Inca có nghĩa là người cai trị, chúa tể) chỉ chiếm khoảng 15-40 ngàn người. 
Người Inca thờ thần Mặt trời. Vua của họ là “con trai Mặt trời”. 
Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và tế lễ của Đế chế Inca là thủ đô Cuzco (ngày nay nằm tại phía Đông Nam Peru, cũng là một Di sản thế giới). 
Người Inca nói tiếng Quechua, sử dụng số và chữ viết thông qua dùng gút thắt Quipu, như một dạng ký hiệu, được tạo trên các sợi dây vải. 
Nền kinh tế của Đế chế Inca hoạt động không có tiền và không có thị trường. Thay vào đó, việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ dựa trên sự tương hỗ giữa các cá nhân, giữa các cá nhân với các nhóm và các nhà cai trị của Inca, thông qua việc lưu lại rất chính xác và bao quát số liệu thống kê (trên hệ thống nút thắt Quipu) để điều hòa tất cả các năng lực và nhu cầu, tất cả các tài nguyên và cống lễ, cũng như việc phân chia chúng. 
Sản xuất ra các sản phẩm cần thiết cho quốc gia được thực hiện thông qua việc tổ chức lao động tập thể một cách chặt chẽ. 
Người Inca phân chia thời gian lao động: 1/3 thời gian cho Thần mặt trời, được đặt ngang hàng với những người thống trị vương quốc; 1/3 thời gian cho những người già, đau ốm, góa bụa, trẻ mồ côi và những người cần giúp đỡ, 1/3 thời gian còn lại dùng để mưu sinh cho gia đình. 
Để phòng nạn đói và cung cấp lương thực cho số dân khổng lồ trong môi trường sống là núi cao, gần như toàn bộ các sườn đồi, núi đều được tạo thành ruộng, vườn bậc thang để canh tác (trồng ngô…) và được tưới nước bằng kênh đào nối với suối, sông, hồ (lớn nhất là hồ Titicaca). Lương thực dư thừa được trữ trong các nhà kho đặc biệt, bảo vệ khỏi mưa và được thông gió tuần hoàn để chống hư thối.  
Đế chế Inca đã hình thành được một nguồn lao động cực lớn về năng lực, kinh nghiệm và công nghệ, là những nông dân, binh lính, kiến trúc sư, thợ đẽo và xây dựng đá (theo kiểu ghép đá không cần vữa, tạo ra những công trình tồn tại cho đến ngày nay tại khu vực thường xuyên có động đất), thợ xây dựng đường xá, kênh đào, ruộng bậc thang, những người thợ thủ công sản xuất hàng dệt, đồ nghệ thuật bằng đất sét và kim loại (đồ đồng); những nghệ sĩ thổi kèn..., cũng như các thày thuốc trong lĩnh vực y học (với khả năng mổ xẻ trên xương sọ…). 
Người Inca đã kiến tạo thủ đô Cuzco trở thành một quần thể kiến trúc mang tính biểu tượng, làm tất cả mọi người khi đến đây đều phải kinh ngạc. 
Phong cách và kiểu xây dựng từ đây lan truyền đi nhanh chóng trong khắp Vương quốc, một trong ví dụ nổi bật là thành phố Machu Picchu (Peru hiện tại), nơi kiến trúc đã hòa nhập với địa hình xung quanh (thành phố cũng được tôn vinh là Di sản thế giới). 
Năm 1532, người Tây Ban Nha đến, chinh phục Đế chế Inca. 

Một trong những thành tựu vĩ đại của người Inca là Hệ thống đường bộ
Inca. 
Hệ thống đường bộ Inca (còn gọi là Hệ thống đường bộ Andean hay Qhapaq Ñan, có nghĩa là "con đường đẹp") là một mạng lưới giao thông, thông tin, thương mại và quân sự, đi qua một trong những nơi có điều kiện địa hình, địa lý khắc nghiệt nhất thế giới, liên kết các đỉnh núi tuyến phủ của dãy núi Andes ở độ cao 5000 - 6.000m, chạy qua rừng mưa nhiệt đới, thung lũng mầu mỡ và các sa mạc. Hệ thống này đạt đến quy mô tối đa vào thể kỷ 15, trong quá trình hợp nhất Đế chế Inca, trải dài khoảng 40.000km trên suốt chiều dài và chiều rộng của dãy núi Andes, liên kết 616 địa điểm cư trú, thể hiện thành tựu về xã hội, chính trị, kiến trúc và kỹ thuật xây dựng đường, cầu, mương cùng với công trình hạ tầng có liên quan như các điểm thương mại, kho tàng, lưu trú…
Hệ thống đường bộ Inca được sử dụng trong nhiều thế kỷ bởi các đoàn lữ hành, người đưa tin, quân đội và các nhóm dân cư lên tới 40.000 người. Một số điểm trên các tuyến đường đường (đầu cầu) có cả chế độ thu lệ phí. 
Công trình vĩ đại này được xây dựng bởi tất cả cộng đồng dân cư bản địa vùng dãy núi Andean thời kỳ tiền Columbo (Andean Prehispanic/Pre-Columbian) qua nhiều thế kỷ. 
Mạng lưới đường bộ Inca gồm: 
- Tuyến đường chính chạy dọc ven biển (Main Roads on Coast Side), bắt đầu từ khu đô thị hiện đại của người Inca (Modern City Upon Inca Site) ở Tumbes, Ecuador tại phía Bắc kéo dài tới khu đô thị hiện đại của người Inca ở Santiago, Chile tại phía Nam. Tuyến có chiều dài khoảng 4000km, chiều rộng đường khoảng 8m. 
- Tuyến đường chính chạy dọc dãy núi Andes với độ cao tới 5000m (Main Roads on Mountain Side), bắt đầu từ thị trấn cổ của người Inca (Inca Cities) ở Quito, Ecuador tại phía Bắc, đi qua Cuzco, Peru (thủ đô xưa của Đế chế Inca), kéo dài tới thị trấn cổ của người Inca Ranchillos và thành phố hiện đại Mendoza của Argentina tại phía Nam. Tuyến có chiều dài khoảng 5200km, chiều rộng đường khoảng 6m. 
- Các tuyến đường thứ cấp nối hai tuyến đường chính trên tới các thị trấn cổ, thị trấn hiện đại của người Inca và một số đô thị hiện đại ngày nay. Tuyến đường có chiều rộng 1-4m. 
Hệ thống các tuyến đường trên tạo thành một mạng lưới đường bộ liên kết và kết nối chéo tới các thị trấn, làng mạc, trung tâm sản xuất, tôn giáo…phù hợp với các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa và kiểm soát quyền lực của Đế chế Inca. 


Sơ đồ Hệ thống đường bộ Inca


Hệ thống đường bộ Inca đi qua thành phố cổ Cuzco, Peru (thủ đô xưa của Đế chế Inca


Tuyến đường bộ Inca đi qua các vùng đồng bằng trong các thung lũng 


Tuyến đường bộ Inca chạy dọc ven Thái Bình Dương, quanh hồ Titica


Tuyến đường bộ Inca đi qua các các ngọn núi tuyết phủ của dãy núi Andes


Tuyến đường bộ Inca đi qua các hoang mạc


Tuyến đường bộ Inca kết nối các điểm dân cư

Mạng lưới tuyến đường chính Inca, một phần của Hệ thống đường bộ Inca tại dãy núi Andean,
chạy qua 137 địa điểm của 6 quốc gia: Argentina (13 địa điểm), Bolivia (3 địa điểm), Chile (34 địa điểm, Colombia (9 địa điểm), Ecuador (24 địa điểm), Peru (54 địa điểm) được UNESCO tôn vinh là Di sản thế giới (năm 2014) với các tiêu chí:

Tiêu chí (ii):
Mạng lưới đường bộ Inca thể hiện quá trình giao lưu hàng hóa, truyền thông và văn hóa quan trọng trong một khu vực của thế giới với phạm vi lên đến 4200km2 vào thế kỷ 15, để tạo ra một đế chế rộng lớn.
Mạng lưới được hình thành trên sự tích hợp các kiến thức và văn hóa từ xa xưa của các cộng đồng dân cư thuộc dãy núi Andean, tạo thành một hệ thống tổ chức nhà nước cho phép trao đổi các giá trị xã hội, chính trị và kinh tế phục vụ chính sách phát triển của Đế chế. Tại đây cung cấp bằng chứng về việc khai thác các nguồn tài nguyện; việc buôn bán dọc theo các tuyến đường như kim loại quý, vỏ sò, thực phẩm, vật tư quân sự, lông vũ, gỗ, coca và hàng dệt may; việc vận chuyển từ nơi thu gom nguyên liệu đến nơi sản xuất, tới các thị trấn và thành phố của người Inca.
Ngày nay, một số cộng đồng dân cư vẫn giữ lại được các hoạt động kinh tế, truyền thông, văn hóa và ngôn ngữ gắn với mạng lưới đường bộ Inca.

Tiêu chí (iii): Mạng lưới đường bộ Inca là bằng chứng độc đáo về nền văn minh Inca, nền văn minh dựa trên các giá trị và nguyên tắc về sự tương hỗ và phân phối lại tài sản, được thực hiện trong hệ thống quản trị quốc gia - Đế chế Inca. Mạng lưới đường bộ Inca gắn liền với phong cảnh dãy núi Andean, là một bằng chứng về sự có mặt của Đế chế Inca, minh họa sự tiến hóa về văn hóa, biểu tượng cho sức mạnh và sự mở rộng của Đế chế khắp vùng Andean. Mạng lưới đường bộ Inca còn ảnh hưởng đến các cộng đồng dân cư dọc theo các tuyến đường cho đến tận ngày nay, đặc biệt là liên quan đến cơ cấu xã hội, triết lý văn hóa về mối quan hệ giữa con người với con người và đặc biệt là con người với tự nhiên.

Tiêu chí (iv): Mạng lưới đường bộ Inca là một ví dụ nổi bật về một tổ hợp công nghệ, mặc dù điều kiện địa lý khó khăn, đã tạo ra một hệ thống giao tiếp và thương mại liên tục, hiệu quả với kỹ thuật, công nghệ cho phép vươn tới các vùng nông thôn và vùng xa, ví dụ như công nghệ xây dựng đường xá, bậc thang, cống rãnh thoát nước, kè đá…phù hợp với sự thay đổi theo vị trí và bối cảnh địa hình tự. Nhiều nhân tố kỹ thuật, công nghệ còn được tiêu chuẩn hóa bởi Nhà nước Inca, cho phép kiểm soát các vấn đề nảy sinh dọc theo Hệ thống đường bộ Inca.

Tiêu chí (vi): Mạng lưới đường bộ Inca đóng một vai trò thiết yếu trong việc tổ chức không gian và xã hội trong một khu vực địa lý rộng lớn dọc theo dãy Andes, nơi các con đường được sử dụng như một phương tiện để chia sẻ các giá trị văn hóa với ý nghĩa phi vật thể xuất sắc. Các tuyến đường này ngày nay vẫn tiếp tục cung cấp cho cộng đồng một cảm nhận về truyền thống văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác và tiếp tục được kế thừa.
Sự tồn tại của các cộng đồng dựa trên một hệ thống thế giới quan (Cosmovision) gắn với Hệ thống đường bộ Ina tại khu vực núi Andean, một địa điểm duy nhất trên thế giới. Thế giới quan này tác động lên tất cả các mặt đời sống xã hội của cộng đồng cho đến tận hiện tại. 
Hệ thống đường bộ Inca tạo lập và kết nối trực tiếp với các giá trị phi vật thể mà các cộng đồng trong khu vực Andean ngày nay chia sẻ, như thương mại truyền thống, nghi lễ thực hành và công nghệ thời Cổ đại. Trong đó, truyền thống và tín ngưỡng đã hình thành nên bản sắc văn hóa của từng cộng đồng dân cư nơi đây.
Hệ thống đường bộ Inca vẫn tiếp tục phục vụ theo các chức năng ban đầu của nó về hội nhập, truyền thông, trao đổi và luân chuyển hàng hóa, tri thức, mặc dù đã xuất hiện thương mại hiện đại và thay đổi xã hội; vẫn luôn giữ được sự quan trọng trong suốt nhiều thế kỷ với vai trò bản sắc văn hóa của toàn bộ khu vực Andean. 

Bảng thống kê Mạng lưới tuyến đường chính Inca chạy qua 137 địa điểm của 6 quốc gia:

ID

Tên và địa điểm

Quốc gia

Tọa độ

Diện tích Di sản

Diện tích vùng đệm

1459-001

AR-QGE-01/C-2011

Argentina

S23 22 0
W64 58 0

18.179 ha

0.494 ha

1459-002

AR-SRT-02/CS-2011

Argentina

S24 27 10
W65 57 40

423.73 ha

15.18 ha

1459-003

AR-ACHC-03/CS-2011

Argentina

S24 35 35
W66 02 07

165.04 ha

16.25 ha

1459-004

AR-PPG-05/CS-2011

Argentina

S24 49 60
W66 9 0

51.61 ha

3.51 ha

1459-005

AR-LLU-07/CS-2011

Argentina

S24 42 60
W68 31 30

14,787.839 ha

266.1 ha

1459-006

AR-CAC-08/CS-2011

Argentina

S27 10 48
W66 0 27

27.389 ha

6.19 ha

1459-007

AR-PA-09/CS-2011

Argentina

S27 42 30
W66 0 0

379.48 ha

40.75 ha

1459-008

AR-LCLP-10/CS-2011

Argentina

S28 52 30
W67 56 30

6,477.28 ha

225.3 ha

1459-009

AR-ANC-13/CS-2011

Argentina

S30 3 0
W69 10 30

374.08 ha

15.63 ha

1459-010

AR-LLL-16/CS-2011

Argentina

S29 5 30
W69 20 30

106.91 ha

9.74 ha

1459-011

AR-CYSA-17/CS-2011

Argentina

S32 6 0
W69 21 60

1,216.969 ha

24.03 ha

1459-012

AR-RAN-18/CS-2011

Argentina

S32 36 20
W69 28 10

43.768 ha

7.7 ha

1459-013

AR-PIN-20/CS-2011

Argentina

S32 49 35
W69 54 40

32.49 ha

2.51 ha

1459-014

BO-DV-01/CS-2011

Bolivia Plurinational State of)

S16 33 0
W69 1 0

132.207ha

9,950.171 ha

1459-015

BO-DV-02/CS-2011

Bolivia Plurinational State of)

S16 33 35
W68 40 58

523.036ha

52,147.175 ha

1459-016

BO-DV-03/CS-2011

Bolivia Plurinational State of)

S16 38 2
W68 32 51

134.558ha

6,752.186 ha

1459-017

CH-PS-01/C-2009

Chile

S18 15 0
W69 34 60

0.9751 ha

19 ha

1459-018

CH-SS-02/CS-2009

Chile

S18 17 24.28
W69 35 42.71

1.1876 ha

18 ha

1459-019

CH-SS-03/CS-2009

Chile

S18 19 26.18
W69 35 33.22

9.9544 ha

70 ha

1459-020

CH-SS-04/S-2009

Chile

S18 21 25.01
W69 37 13.62

14.8162ha

84 ha

1459-021

CH-IN-05/CS-2009

Chile

S22 6 8.16
W68 37 40.06

2.3423 ha

763 ha

1459-022

CH-IN-06/CS-2009

Chile

S22 8 39.21
W68 37 50.10

0.1819 ha

1,107 ha

1459-023

CH-LN-07/CS-2009

Chile

S22 11 1.64
W68 37 47.91

0.374 ha

1,175 ha

1459-024

CH-LN-08/CS-2009

Chile

S22 12 45.17
W68 37 45.88

0.046 ha

1,243 ha

1459-025

CH-LN-09/CS-2009

Chile

S22 15 13.50
W68 37 56.18

0.4379 ha

943 ha

1459-026

CH-CT-10/CS-2010

Chile

S22 9 4.37
W68 18 10.82

9.7067 ha

93 ha

1459-027

CH-TN-11/CS-2009

Chile

S22 13 22.83
W68 16 53.6

30.1994ha

90 ha

1459-028

CH-CN-12/CS-2009

Chile

S22 50 12.32
W68 13 30

15.0803ha

17 ha

1459-029

CH-CS-13/CS-2010

Chile

S23 25 0
W67 59 24.56

2.3956 ha

34 ha

1459-030

CH-CS-14/C-2010

Chile

S23 26 20.86
W67 59 36.49

1.2319 ha

24 ha

1459-031

CH-CS-15/CS-2010

Chile

S23 28 22.96
W68 0 5.43

0.9723 ha

54 ha

1459-032

CH-CS-16/CS-2010

Chile

S23 32 49.42
W68 1 20.46

1.4628 ha

17 ha

1459-033

CH-PN-17/CS-2010

Chile

S23 35 31.73
W68 2 14.35

1.0073 ha

46 ha

1459-034

CH-PN-18/CS-2010

Chile

S23 38 51.25
W68 3 25.96

1.6825 ha

34 ha

1459-035

CH-PR-19/C-2010

Chile

S26 18 42.54
W69 35 51.91

0.2301 ha

15 ha

1459-036

CH-PR-20/CS-2010

Chile

S26 20 6.44
W69 36 13.51

0.1858 ha

14 ha

1459-037

CH-PR-21/C-2010

Chile

S26 21 26.33
W69 36 11.43

0.205 ha

16 ha

1459-038

CH-PR-22/C-2010

Chile

S26 22 34.17
W69 36 13.76

0.202 ha

15 ha

1459-039

CH-PR-23/CS-2010

Chile

S26 22 37.99
W69 37 26.37

0.5614 ha

17 ha

1459-040

CH-RP-24/CS-2010

Chile

S26 23 15.98
W69 38 47.65

0.3332 ha

7 ha

1459-041

CH-RP-25/C-2010

Chile

S26 24 5.51
W69 39 35.97

0.3344 ha

16 ha

1459-042

CH-RP-26/S-2010

Chile

S26 25 39.89
W69 40 59.55

0.1336 ha

11 ha

1459-043

CH-RP-27/S-2010

Chile

S26 26 52.7
W69 41 58.29

0.0555 ha

13 ha

1459-044

CH-RP-28/CS-2010

Chile

S26 28 35.7
W69 43 25

0.7402 ha

18 ha

1459-045

CH-RP-29/CS-2010

Chile

S26 30 5.4
W69 44 39.81

1.6636 ha

36 ha

1459-046

CH-RP-30/CS-2010

Chile

S26 31 36.71
W69 45 56.11

0.8763 ha

18 ha

1459-047

CH-RP-31/CS-2010

Chile

S26 33 12.33
W69 47 16.13

0.8675 ha

20 ha

1459-048

CH-RP-32/CS-2010

Chile

S26 34 51.57
W69 48 35.51

0.5154 ha

20 ha

1459-049

CH-PF-33/CS-2010

Chile

S26 36 28.67
W69 50 0.26

0.206 ha

21 ha

1459-050

CH-PF-34/CS-2010

Chile

S26 38 2.69
W69 51 1.12

35.7465ha

91 ha

1459-051

CO-RP-01-C-2011

Colombia

N0 48 0
W77 39 0

0.002 ha

0.114 ha

1459-052

CO-RP-02-C-2011

Colombia

N0 49 53
W77 33 16

0.044 ha

1.296 ha

1459-053

CO-RP-03-C-2011

Colombia

N0 54 48
W77 34 4

0.065 ha

1.15 ha

1459-054

CO-RP-04-C-2011

Colombia

N0 54 52
W77 33 18

0.426 ha

4.891 ha

1459-055

CO-RP-05-C-2011

Colombia

N0 54 44
W77 27 53

0.54 ha

7.883 ha

1459-056

CO-RP-06-C-2011

Colombia

N0 56 45
W77 27 15

0.444 ha

10.318 ha

1459-057

CO-RP-07-C-2011

Colombia

N1 3 7
W77 25 55

2.885 ha

35.349 ha

1459-058

CO-RP-08-C-2011

Colombia

N1 6 22
W77 24 26

3.405 ha

30.779 ha

1459-059

CO-RP-09-C-2011

Colombia

N1 8 19
W77 21 46

0.207 ha

1.481 ha

1459-060

EC-R-01/C-2011

Ecuador

N0 48 0
W77 39 0

0.004 ha

0.184 ha

1459-061

EC-PTA-02/CS-2011

Ecuador

N0 45 47.92
W77 41 54.78

1.048 ha

651.501 ha

1459-062

EC-PTB-03/CS-2011

Ecuador

N0 45 45.66
W77 41 45.64

0.484 ha

651.501 ha

1459-063

EC-ME-04/CS-2011

Ecuador

N0 35 26.85
W77 44 16

0.81 ha

6.302 ha

1459-064

EC-LQ-05/C-2011

Ecuador

N0 30 0
W77 50 60

0.215 ha

23.303 ha

1459-065

EC-LC-06/C-2011

Ecuador

N0 32 55.78
W78 4 23.53

0.324 ha

169.908 ha

1459-066

EC-JC-07/CS-2011

Ecuador

N0 35 10
W78 6 9.89

0.919 ha

1,053.75 ha

1459-067

EC-PC-08/CS-2011

Ecuador

N0 22 37.86
W78 5 2.29

0.303 ha

617.757 ha

1459-068

EC-CQ-09/CS-2011

Ecuador

S0 3 50.51
W78 12 8.97

1.346 ha

2,136.68 ha

1459-069

EC-AI-11/CS-2011

Ecuador

S2 20 40.89
W78 47 59.69

17.712 ha

15,632.3 ha

1459-070

EC-PGPC-12/C-2011

Ecuador

S2 19 58.59
W78 48 8.08

1.698 ha

15,632.3 ha

1459-071

EC-EH-13/CS-2011

Ecuador

S2 31 57.78
W78 55 45.64

0.21 ha

3.512 ha

1459-072

EC-CR-14/CS-2011

Ecuador

S2 47 12.87
W78 51 50.37

0.253 ha

58.5 ha

1459-073

EC-LL-16/CS-2011

Ecuador

S2 50 39.95
W79 9 15.5

0.057 ha

29,389.3 ha

1459-074

EC-MM-17/CS-2011

Ecuador

S2 49 33.81
W79 12 21.28

0.306 ha

29,389.3 ha

1459-075

EC-PP-18/CS-2011

Ecuador

S2 44 55.39
W79 26 18.57

0.203 ha

221.48 ha

1459-076

EC-HH-19/C-2011

Ecuador

S2 43 17.49
W79 25 54.72

0.512 ha

153.369 ha

1459-077

EC-SASA-20/CS-2011

Ecuador

S2 54 34.31
W79 24 27.52

0.224 ha

234.906 ha

1459-078

EC-SS-21/CS-2011

Ecuador

S2 55 11.63
W79 26 12.74

0.043 ha

0.807 ha

1459-079

EC-BP-22/C-2011

Ecuador

S2 41 28
W79 33 59.71

3.151 ha

13,481 ha

1459-080

EC-CT-23/CS-2011

Ecuador

S3 36 166.72
W79 13 16.42

1.821 ha

560.229 ha

1459-081

EC-CV-25/CS-2011

Ecuador

S3 44 19.6
W79 15 4

0.839 ha

973.064 ha

1459-082

EC-QS-26/CS-2011

Ecuador

S4 20 52.4
W79 20 16.16

2.94 ha

14,959.3 ha

1459-083

EC-SL-28/CS-2011

Ecuador

S4 31 6.7
W79 26 54.59

4.698 ha

3,787.84 ha

1459-084

PE-PH-01/CS-2011

Peru

S13 30 0
W71 58 0

8.24 ha

205.327 ha

1459-085

PE-CD-02/CS-2011

Peru

S13 37 48
W71 41 55

2.81 ha

4,546.334 ha

1459-086

PE-CD-03/C-2011

Peru

S13 57 10
W71 29 57

1.36 ha

6.758 ha

1459-087

PE-CD-04/CS-2011

Peru

S14 10 31
W71 21 57

3.65 ha

1,237.808 ha

1459-088

PE-CD-06/C-2011

Peru

S14 41 15
W70 45 24

11.24 ha

54.126 ha

1459-089

PE-CD-08/C-2011

Peru

S15 9 49
W70 17 17

13.69 ha

4,667.481 ha

1459-090

PE-CD-09/CS-2011

Peru

S15 46 46
W70 3 15

10.24 ha

45.207 ha

1459-091

PE-CD-10/C-2011

Peru

S15 52 23
W70 0 59

1.25 ha

6.184 ha

1459-092

PE-CD-11/C-2011

Peru

S15 52 54
W69 57 25

1.78 ha

8.635 ha

1459-093

PE-CD-12/C-2011

Peru

S16 12 17
W69 25 3

2.34 ha

11.435 ha

1459-094

PE-CD-13/C-2011

Peru

S16 15 57
W69 18 25

2.74 ha

13.316 ha

1459-095

PE-CD-14/C-2011

Peru

S16 18 13
W69 16 20

4.64 ha

22.502 ha

1459-096

PE-CD-15/C-2011

Peru

S16 25 55
W69 8 60

2.25 ha

11.016 ha

1459-097

PE-OL-16/CS-2011

Peru

S13 7 33
W72 5 36

1.2 ha

338.993 ha

1459-098

PE-OL-17/C-2011

Peru

S13 2 38
W72 2 31

0.35 ha

3,761.801 ha

1459-099

PE-OL-18/CS-2011

Peru

S13 1 6
W72 2 1

0.94 ha

1459-100

PE-OL-19/CS-2011

Peru

S12 57 17
W71 59 1

10.29 ha

1459-101

PE-OL-21/CS-2011

Peru

S12 43 8
W72 1 44

7.04 ha

3,075.416 ha

1459-102

PE-VCH-22/CS-2011

Peru

S13 9 42
W72 54 34

7.05 ha

514,025.937 ha

1459-103

PE-VCH-23/CS-2011

Peru

S13 12 27
W72 53 47

0.64 ha

1459-104

PE-VCH-24/CS-2011

Peru

S13 44 45
W72 53 36

1.18 ha

1459-105

PE-VCH-26/CS-2011

Peru

S13 21 50
W72 53 52

54 ha

1459-106

PE-PQ-27/C-2011

Peru

S14 22 53
W71 29 2

0.01 ha

1.176 ha

1459-107

PE-XP-30/CS-2011

Peru

S12 3 11
W75 58 21

159.09ha

3,530.268 ha

1459-108

PE-XP-31/S-2011

Peru

S12 4 29
W76 0 37

55.12 ha

1459-109

PE-XP-32/C-2011

Peru

S12 8 23
W76 13 25

3.26 ha

2,031.926 ha

1459-110

PE-XP-33/CS-2011

Peru

S12 4 34
W76 31 7

41.66 ha

279.709 ha

1459-111

PE-XP-34/C-2011

Peru

S12 1 34
W76 39 49

3.03 ha

103.511 ha

1459-112

PE-XP-35/S-2011

Peru

S12 1 30
W76 40 25

3.22 ha

6.238 ha

1459-113

PE-XP-36/S-2011

Peru

S12 2 11
W76 42 11

89.16 ha

1459-114

PE-XP-37/C-2011

Peru

S12 2 19
W76 43 15

1.79 ha

67.339 ha

1459-115

PE-XP-38/S-2011

Peru

S12 4 50
W76 46 28

10.26 ha

1459-116

PE-XP-39/S-2011

Peru

S12 5 1
W76 45 56

32.81 ha

1459-117

PE-XP-40/CS-2011

Peru

S12 15 01
W76 53 46

460.31 ha

1,829.26 ha

1459-118

PE-HH-41/CS-2011

Peru

S9 53 8
W76 48 29

796.32 ha

4,856.44 ha

1459-119

PE-HH-42/CS-2011

Peru

S9 51 29
W76 51 5

10.57 ha

504.01 ha

1459-120

PE-HH-43/CS-2011

Peru

S9 46 44
W76 53 24

4.23 ha

508.013 ha

1459-121

PE-HH-44/CS-2011

Peru

S9 40 57
W76 51 14

24.27 ha

1,743.418 ha

1459-122

PE-HH-45/CS-2011

Peru

S9 38 10
W76 57 52

32.96 ha

1459-123

PE-HH-46/CS-2011

Peru

S9 32 54
W76 59 10

13.29 ha

281.808 ha

1459-124

PE-HH-47/CS-2011

Peru

S9 30 52
W77 1 14

4.47 ha

85.039 ha

1459-125

PE-HH-48/CS-2011

Peru

S9 29 15
W77 2 8

3.45 ha

157.621 ha

1459-126

PE-HH-49/CS-2011

Peru

S9 27 55
W77 4 17

10.5 ha

4,262.694 ha

1459-127

PE-HH-50/C-2011

Peru

S9 26 4
W77 5 51

2.77 ha

1459-128

PE-HH-51/CS-2011

Peru

S9 16 8
W77 9 37

6.43 ha

1,516.547 ha

1459-129

PE-HH-52/CS-2011

Peru

S9 7 14
W77 12 29

19.99 ha

528.729 ha

1459-130

PE-HH-53/CS-2011

Peru

S9 4 10
W77 14 41

14.05 ha

1459-131

PE-HH-54/C-2011

Peru

S8 54 20
W77 19 42

4.94 ha

275.69 ha

1459-132

PE-HH-55/C-2011

Peru

S8 50 44
W77 22 49

6.15 ha

216.446 ha

1459-133

PE-HH-56/CS-2011

Peru

S8 45 59
W77 27 3

15.45 ha

486.691 ha

1459-134

PE-HH-57/CS-2011

Peru

S8 23 46
W77 46 21

15.25 ha

387.392 ha

1459-135

PE-HH-58/CS-2011

Peru

S8 19 48
W77 49 10

4.41 ha

246.522 ha

1459-136

PE-HH-59/CS-2011

Peru

S7 56 15
W78 0 44

3.98 ha

1,266.603 ha

1459-137

PE-ALP-60/CS-2011

Peru

S4 42 17
W79 34 27

37.22 ha

1,502.79 ha

Một số đặc điểm chính của Mạng lưới đường bộ Inca:

Truyền tin và vận chuyển hàng hóa


Việc truyền tin và vận chuyển hàng hóa trên Mạng lưới đường bộ Inca được đảm nhận bởi các nhóm đi bộ (hoặc chạy) Chasqui để truyền tin và nhóm sử dụng động vật như lạc đà (Llamas, lạc đà Nam Mỹ và Alpacas, lạc đà Nam Mỹ, hình dáng nhỏ hơn Llamas; là loại động vật có trọng lượng nhẹ, không thể mang theo nhiều, nhưng rất nhanh nhẹn) để vận chuyển hàng hóa. 
Những người làm việc trong nhóm Chasqui rất khỏe mạnh và được đào tạo. Họ phải chạy đến 240km mỗi ngày và có thể vận chuyển các hàng hóa nhẹ.
Mỗi Chasqui mang theo hai món đồ: Quipu và Pututu. 
Quipu là một đồ vật gồm các sợi, sợi màu với các nút thắt để miêu tả các dữ liệu liên quan đến hồ sơ, từ giám sát các nghĩa vụ thuế đến thông tin về lịch trình và tổ chức các hoạt động quân sự. Các sợi dây có số nút và vị trí của 10 nút theo chiều dài sợ dây dài ngắn khác nhau, thể hiện độ lớn của các con số theo hệ thống thập phân (ví dụ: số 40 là bốn nút đơn giản trong một hàng ở vị trí “hàng chục”…). Một Quipu có thể có tới 2000 sợi dây. Ngoài ra, một số nút có màu sắc, được cho là đại diện cho các thông tin không phải số mà có thể là ký hiệu về ngữ âm hay biểu tượng đại diện. Mỗi Chasqui đều được đào tạo để có đọc, dịch và chuyển các dữ liệu lưu trên Quipu. 
Pututu là một vỏ ốc xà cừ, được sử dụng như một cây kèn (tù và), được dùng để báo hiệu cho các Chasquis khác chuẩn bị tiếp nhận thông tin để chạy chuyển tiếp. 
Nhóm vận chuyển bằng lạc đà có thể vận chuyển với số lượng hàng hóa lớn hơn. Mỗi nhóm có 2 hoặc 3 người đi theo. 
Dọc đường bố trí các trạm dừng chân (Tampu/Tambo) cấp nước, vật dụng và nơi nghỉ cho những người truyền tin. Đây cũng là nơi cung cấp thông tin và nhu yếu phẩm cho quân đội khi xảy ra chiến tranh. 
Người Inca xây dựng nhiều Tambo khi họ bắt đầu nâng cấp hệ thống đường trong triều đại của vua Thupa Inka Yupanki (trị vị năm 1471 tới 1493), với ước tính khoảng 2000 công trình. 
Chức năng của Tambo rất đa dạng, từ chỗ nghỉ chân của nhóm truyền tin Chasqui có quy mô nhỏ, đến công trình có quy mô lớn là các cơ sở sản xuất, cơ sở giám sát của chính quyền, nơi thực hành tôn giáo, công trình dịch vụ hậu cần cho hoạt động săn bắn, khai thác mỏ, chế biến coca trong khu vực. …
Các công trình Tambo bố trí theo bán kính phục vụ, trong khoảng 10km đến 45km. 


Người truyền tin Chasqui với Quipu và Pututu (tù và vỏ ốc)


Nút thắt Quipu





Vận chuyển hàng hóa nhờ Llamas, lạc đà Nam Mỹ trên tuyến đường bộ Inca


Những người phụ nữ Inca với Alpacas, lạc đà Nam Mỹ


Một công trình Tampu tại Huilloc, Marcacocha, Cusco, Peru 



Một công trình Tampu trên đường bội Inca tới thành phố cổ Machu Picchu, Peru 


Hệ thống đường


Hệ thống tuyến đường bộ Inca được kế thừa một phần hệ thống đường xây dựng trước đó. 
Người Inca đã phát triển kỹ thuật xây dựng để hình thành các con đường vượt qua các khó khăn hiểm trở của địa hình dãy núi Andes. Trên các vách núi, để tránh sạt lở, họ xây dựng các bậc đá trông giống như nhà hát ngoài trời khổng lồ. Trong khu vực sa mạc gần bờ biển, người Inca xây dựng các bức tường thấp để giữ cát tạo nền đường…


Đường bộ Inca và cầu Inca (Puente del Inca) tại Mendoza, Argentina


Đường bộ Inca tại Collasuyu, Bolivia 


Đường bộ Inca tại Cerro El Plomo, một trung tâm Inca ở miền Trung Chile


Đường bộ Inca tại Nariño, Colombia (chủ yếu là hệ thống đường nhánh) 



Đường bộ Inca tới Đền thờ Mặt trời tại Ingapirca, Ecuador 


Đường bộ Inca tại 
Machu Picchu, Peru 

Hệ thống cầu

Mạng lưới đường bộ Inca có rất nhiều cầu để vượt qua các sông, suối, thũng lũng. 
Một số cầu được làm bằng gỗ đơn giản, một số được làm bằng đá hoặc bằng các mảng cây sậy để nổi trên vùng đất đầm lầy. 
Người Inca còn tạo ra các cây cầu treo, mang tên “Cầu dây cáp Inca” (Inca Rope Bridge) để bắc qua các hẻm núi suối, sông. Đây là loại cầu rất phù hợp, vì người Inca không sử dụng phương tiện giao thông bánh xe, mà chỉ giới hạn cho người đi bộ và gia súc. Người Inca dùng các sợi dây leo tự nhiên tìm thấy tại địa phương để làm cầu. Những sợi này được bện với nhau tạo ra thành các sợi dây thừng (dây chão) chắc chắn, được gia cố bằng gỗ tạo thành sàn cầu. Mỗi bên sàn cầu có gắn một sợi dây chão lớn kết nối các chân trụ cầu. Thêm vào cấu trúc này là hai dây chão làm lan can. Mỗi cầu có một nhóm khoảng 5 người dân địa phương duy trì và bảo dưỡng cầu, như một hoạt động dịch vụ hoặc nghĩa vụ. 
Cây cầu lớn nhất thuộc loại này là cầu treo trong khe núi Apurímac dọc theo con đường chính phía Bắc tới Cusco, dài đến 45m. 
Trụ cầu được xây bằng đá thô, trát vữa. Nhiều trụ cầu còn được xây dựng với kỹ thuật xây bằng đá không cần vữa.  


Cầu treo trong khe núi Apurímac dọc theo con đường chính phía Bắc tới Cusco, Peru

Hệ thống nhà kho lưu trữ (Qollcas)

Qollcas là nhà kho lưu trữ lâu dài, được sử dụng chủ yếu bởi quân đội, được phân bố đều và rộng khắp, cách xa nhau khoảng 22km, dọc theo các tuyến đường Inca. 
Nhà kho lưu trữ lương thực, thực phẩm gồm: khoai tây khô (chiếm 50-80% khối lượng lưu trữ); ngô (chiếm 5-7%, được bóc thành hạt và bảo quản trong các bình lớn); phần còn lại là Quinoa (một loại lương thực), đậu, rau và thịt khô. Các sản phẩm nông nghiệp trong kho được bảo quản trong khoảng thời gian 2- 4 năm, thậm chí đến 10 năm. 
Nhà kho cũng chứa các hàng hóa phi nông nghiệp, như hàng dệt may, len, bông, lông vũ, vũ khí, vàng bạc và các đồ xa xỉ khác. 
Việc kiểm đếm các hàng hóa trong kho theo nguyên tắc của Quipu (hệ thống tính bằng nút trên các sợi dây). 
Công trình được xây dựng bằng đá núi lửa, theo hình chữ nhật (để trữ khoai tây) hoặc hình tròn (để trữ ngô), thường được bố trí trên sườn đồi để tận dụng thoát nước và thông gió.
Không khí làm mát kho được hút vào từ tuyến kênh phía dưới sàn và thoát ra trên mái.
Một kho hình tròn có đường kính trung bình khoảng 3,23m, chứa được 3,7m3; kho lớn có đường kình 3,5- 4,0m, chứa được 5,5m3. Hầu hết các kho Qollcas đã biến mất do sự phát triển của đô thị qua nhiều thế kỷ.
Số kho còn lại nhiều nhất tập trung tại thung lũng sông Mantaro, nằm giữa các thành phố hiện nay Huancayo và Jauja, Peru. Đây là thung lũng rộng 60km, có diện tích đất trồng trọt lên đến 65.000ha (tại cao độ 3200 đến 4250m). Tại đây các nhà khảo cổ đã tìm thấy hơn 2550 Qollcas. Một nửa trong số đó nằm giữa khu vực sản xuất ngũ cốc, một nửa nằm rải rác trong 48 khu vực dọc theo dòng sông. Tổng diện tích kho chứa tại đây lên đến 170000 m2, có thể cung cấp một khối lượng lương thực và trang bị cho một đội quân 35 ngàn binh lính. 


Tổ hợp nhà kho (Qollcas) tại thị trấn Ollantaytambo, Peru 


Tổ hợp các nhà kho (Qollcas) tại thị trấn Cochabamba, Bolivia 

Ngày nay chỉ còn khoảng 25% của Mạng lưới đường bộ Inca còn tồn tại, tiếp tục được sử dụng, phần lớn còn lại bị phá hủy theo thời gian và do việc xây dựng các cơ sở hạ tầng hiện đại. 
Quy mô và vai trò thực sự của Di sản Mạng lưới đường bộ Inca vẫn tiếp tục được khám phá.  

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD 
Nguồn : 
http://whc.unesco.org/en/list/1459 
https://en.wikipedia.org/wiki/Inca_Empire
https://oc.wikipedia.org/wiki/Tawantinsuyu 
https://en.wikipedia.org/wiki/Chasqui
https://en.wikipedia.org/wiki/Quipu
https://en.wikipedia.org/wiki/Qullqa
https://en.wikipedia.org/wiki/Tambo_(Incan_structure)
https://en.wikipedia.org/wiki/Inca_road_system
https://en.wikipedia.org/wiki/Inca_rope_bridge

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Á và châu Đại Dương     

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Âu

Danh sách và bài viết  về Di sản thế giới tại châu Mỹ

Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Phi

  
Cập nhật ( 23/08/2020 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:

“ Lãnh đạo phải cụ thể, phải kịp thời, phải thiết thực, phải có trọng điểm và nắm điển hình. Phải chống tư tưởng ngại khó khăn, tư tưởng ý lại. Phải tuyên truyền rộng khắp các chính sách khuyến khích sản xuất. Cán bộ phải xem lãnh đạo sản xuất là công tác trung tâm bậc nhất”.

 
Gõ Big Five trên máy tính, trong 0,64 giây, có 2,620,000,000 kết quả; số lượng khổng lồ về một từ được tìm trên internet, thể hiện quan tâm sâu rộng của loài người tới một vấn đề. Khi muốn “Trở thành ai ?”, cần biết “Ta là ai ?”. Điều này có thể thức tỉnh qua tính cách hay tâm thức mỗi người; gồm 5 nhóm - Big Five: i) Cân bằng cảm xúc; ii) Đồng thuận; iii) Hướng ngoại; iv) Tận tâm; v) Sẵn sàng trải nghiệm. Phần trên có mục: Ta là ai ?– Big Five (talaai.com.vn), hướng dẫn cách tự cho điểm đánh giá. Khi đã biết "Ta là ai", có thể so sánh với giai đoạn trước hoặc người khác để tự sửa mình; Cơ sở đào tạo hình thành được chương trình dạy kỹ năng mềm và môi trường giúp SV học tập hiệu quả hơn. Các bạn SV trường ĐHXD tự nhận xét về Big Five:
 
 
Thông báo

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com