Tuần 10 - Ngày 28/10/2020
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Tháp Po Nagar, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
21/04/2020
 

Thông tin chung:
Công trình: Tháp Po Nagar, Nha Trang, Khánh Hòa
Địa điểm: Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa (12°15′55″B 109°11′44″Đ)
Thiết kế kiến trúc:
Quy mô:
Năm hoàn thành: Thế kỷ 10 -13
Giá trị:

Champa là một quốc gia cổ tồn tại liên tục từ năm 192 đến 1832 với lãnh thổ lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam; Từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào ngày nay, thuộc miền Trung Việt Nam. 
Văn hóa Champa tiếp nối từ văn hóa Sa Huỳnh, là văn hóa thuộc giai đoạn Sơ kỳ đồ sắt của cư dân nông nghiệp ven biển miền Trung và miền Nam, có niên đại từ giữa thiên niên kỷ thứ 1 trước Công nguyên (TCN ) đến đầu Công nguyên, chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ trong việc xây dựng hệ thống thần quyền trị quốc.
Người Chăm ngoài việc thờ các vị thần bản địa còn thờ các vị thần sơ khai của Hindu giáo và Phật giáo.
Dân tộc chính là tộc người Chăm được chia thành hai nhóm: Chăm ở phía Bắc (bộ tộc Dừa) và Chăm ở phía Nam (bộ tộc Cau). Ngôn ngữ là tiếng Champa bản địa và tiếng Phạn, ngôn ngữ tế lễ của Hindu giáo, Phật giáo Bắc Tông và Jaina giáo. 

Tại đây, văn minh Ấn Độ, du nhập vào theo tôn giáo, được sử dụng rộng rãi: Văn học và điển tích tôn giáo; lịch trong sản xuất nông nghiệp và đời sống; kiến trúc và điêu khắc... Tuy nhiên yếu tố ngoại nhập này đều hòa hợp với yếu tố nội sinh mạnh mẽ của dân tộc Chăm, từ tục thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, chữ viết Champa, kiến trúc và điêu khắc độc đáo, âm nhạc và ca múa sinh động (Thần đạo), đến phong tục cổ truyền như ăn trầu, nhuộm răng đen, hỏa táng và chôn tro xương trong các mộ vò…
Xã hội Champa mang đặc trưng cơ bản của khu vực Đông Nam Á, là xã hội của cư dân nông nghiệp. Quan hệ chủ yếu trong xã hội là quan hệ về ruộng đất, gắn với chế độ sở hữu và các hình thức sử dụng ruộng đất. Trong xã hội, vua có uy quyền tuyệt đối, tiếp đó là tầng lớp quý tộc, lãnh đạo tôn giáo và quan lại trung ương, địa phương. Người dân sống theo từng làng xã, là nơi duy trì mối quan hệ cộng đồng trong đời sống kinh tế và tinh thần.
Champa lần lượt trải qua các vương triều theo cùng một quá trình: Lập nước gắn với các vị vua khởi nghiệp; Xây dựng quốc gia hùng mạnh gắn với chống bành trướng phương Bắc, mở rộng bờ cõi về phía Tây và hội nhập với văn minh từ bên ngoài – Ấn Độ; Nội chiến giành quyền lực giữa các phe phái; Sụp đổ và bị thay thế bởi vương triều kế tiếp:   

Vương quốc Lâm Ấp (năm 192- 757): Đây được coi là giai đoạn khởi đầu cho lịch sử Champa độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của Trung Quốc, gắn liền với sự hấp thu văn minh Ấn Độ. Trong thời gian tồn tại, vương quốc Lâm Ấp trải qua 4 triều đại: 

Triều đại thứ nhất, từ năm 192-336: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên Khu Liên, lên ngôi năm 192. Trong giai đoạn này, lãnh thổ Việt bị đô hộ bởi các triều đại phương Bắc, được chia thành Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam (thuộc giai đoạn Bắc thuộc lần hai, năm 43- 541, dưới sự cai trị của nhà Đông Hán, Đông Ngô, Tào Ngụy, Tấn, Tề và Lương). Năm 192, nhân nhà Đông Hán suy yếu, người dân theo Khu Liên nổi dậy lập ra nước Lâm Ấp. Lãnh thổ Lâm Ấp bao gồm cả khu vực thành phố Huế hiện nay, chạy dài cho tới phía Nam của núi Bạch Mã (giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng). Kinh đô (từ năm 192- 605) là thành Lồi (thuộc thành phố Huế). Thời kỳ đầu, Vương quốc Lâm Ấp chịu ảnh hưởng nhiều của Trung Quốc. Về sau, nhằm thoát khỏi sự lệ thuộc, nhà nước Lâm Ấp đã thông qua các thương gia, tu sĩ mà tiếp thu văn minh Ấn Độ, bao gồm cả cách thức tổ chức xã hội, văn hóa và tôn giáo. Quốc thư trao đổi của Lâm Ấp với Trung Quốc thời đó đã được viết bằng chữ Phạn thay vì chữ Hán. 

Triều đại thứ hai, từ năm 336-420: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên là Phạm Văn. Ông là tể tướng của triều đại trước. Trong giai đoạn này miền Bắc Việt Nam vẫn bị đô hộ bởi các triều đại phương Bắc. Tại đây, văn minh Ấn Độ đã đi vào đời sống như tổ chức hệ thống quan lại, kỹ thuật luyện sắt…; Kinh đô – Thành Lồi tại Huế đã được xây dựng lại.
Với sức mạnh quân sự, nhà vua đã tấn công lên phương Bắc, giết thứ sử nhà Hán, mở rộng lãnh thổ đến tận đèo Ngang (ranh giới của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay).
Vị vua thứ 3 của triều đại thứ hai, vị vua Lâm Ấp đầu tiên được mô tả trong văn bia, là Phạm Hồ Đạt/ Dharmamaharaja (hiệu là Bhadravarman I), cai trị từ năm 380 đến 413. 
Dưới thời vua Phạm Hồ Đạt, nhiều nhà tu hành Hindu giáo, Phật giáo (Tiểu thừa) từ Ấn Độ sang truyền đạo. Thành Lồi (Huế) vẫn là trung tâm chính trị nhưng đổi tên là Kandapurpura, nghĩa là Phật Bảo Thành. Vua còn cho xây dựng thêm một trung tâm tôn giáo mới tại Amavarati, (thánh địa Mỹ Sơn, một thung lũng cách Đà Nẵng 69 km về phía Tây, thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Tại đây, nhiều đền Hindu giáo được xây dựng. Đền thờ thần Shiva (là một trong ba vị thần tối cao: Brahma là Đấng tạo hóa; Vishnu là Đấng bảo hộ; Shiva là Đấng hủy diệt) và linh vật Lingam (là một khối trụ tròn, đặt ở trung tâm một vật thể hình đĩa – Yoni; tổ hợp linh vật Lingam và Yoni tượng trưng cho sự kết hợp sức mạnh nam, nữ và toàn bộ sự tồn tại).

Triều đại thứ ba, từ năm 420-529: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên là Văn Địch, xưng hiệu là Phạm Dương Mại I, xuất thân là một người trong hoàng tộc. Năm 443, quân nhà Lưu Tống Trung Quốc (tồn tại 420- 479) đánh Lâm Ấp, phá hủy nhiều đền đài, cướp phá nhiều tượng vàng. Vua Lâm Ấp phải chạy về phía Nam.
 

Triều đại thứ tư, từ năm 529-757: Vị vua đầu tiên của triều đại có tên là Luật Đa La Bật Ma, hiệu là Rudravarman I, xuất thân là một người trong hoàng tộc. Năm 577, Luật Đa La Bật Ma mất, con là Prasastadharma lên kế nghiệp, hiệu Phạm Phạn Chi (Sambhuvarman).
Tại miền Bắc Việt Nam, Lý Bí (Lý Nam Đế, trị vì năm 544- 548), khởi binh chống nhà Lương (tồn tại năm 502- 557) và chính thức thành lập nhà Tiền Lý cùng nước Vạn Xuân vào năm 544. Năm 602, nhà Tùy Trung Quốc (tồn tại năm 581- 619) quay trở lại đánh chiếm miền Bắc Việt Nam (bắt đầu thời Bắc thuộc lấn thứ 3, từ năm 602- 905, dưới sự thống trị của nhà Tùy và nhà Đường).
Nhà Tùy cũng tấn công Lâm Ấp vào năm 598, phá hủy kinh thành Kandapurpura vào năm 605. Vua Phạm Phạn Chi dời kinh đô vào phía Nam, đặt tại Simhapura (làng Trà Kiệu, cạnh sông Thu Bồn, thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam ngày nay), đặt tên cho vương quốc là Champa, theo một tên một loài hoa đẹp mọc nhiều ở Nam Trung Bộ với ngỏ ý khai sáng thời đại mới (người Việt gọi là hoa sứ hay hoa đại).
Vào khoảng thời gian này, vua Phạm Phạn Chi bắt đầu cho dựng lại thánh địa Mỹ Sơn (đền Bhadresvara) bằng gạch kiên cố, thay thế ngôi đền gỗ đã bị hủy hoại trong chiến tranh.

Sau khoảng 10 năm từ khi mất cố đô Kandapurpura, thừa thế nhà Tùy suy yếu, vua Phạm Phạn Chi phát động một chiến dịch nhằm thu hồi các lãnh địa phương Bắc và thành công. Các vua nối nghiệp vua Phạm Phạn Chi tiếp tục mở rộng lãnh thổ về phía Tây Nam, thuộc vùng đất của vương quốc Khmer.
Thời vua Phạm Phạn Chi được coi là là thời kỳ quá độ giữa vương quốc Lâm Ấp và vương quốc Champa. Văn minh Lâm Ấp giai đoạn này đạt tới đỉnh cao, bắt đầu lan tỏa khắp Đông Nam Á. 
Trong giai đoạn này, văn hóa Ấn Độ trở thành văn hóa chính của vương quốc. Hindu giáo và Phật giáo cùng được truyền bá. Người Chăm đã bắt đầu có các văn bản bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đã có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm.

Vương quốc Hoàn Vương (Panduranga, năm 757 – 875): ban đầu là một tiểu quốc phía Nam Lâm Ấp, hình thành từ sự phân rã của vương triều Lâm Ấp, sau đó nổi lên lật đổ vương triều cũ, thành lập vương triều mới.
Miền Bắc Việt Nam giai đoạn này nằm dưới sự thống trị của nhà Tùy và nhà Đường (tồn tại từ năm 618 – 907).
Vương quốc Hoàn Vương trải qua 5 triều đại :

Triều đại thứ nhất, từ năm 757- 774
Vị vua của triều đại có tên là Prithi Indravarman, trị vì một tiểu vương nằm tại phía Nam Lâm Ấp. Sau khi dành quyền lãnh đạo từ vương triều Lâm Ấp, vua là dời kinh đô Simhapura (thành Trà Kiệu) về Virapura (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận ngày nay). 
Thánh địa tôn giáo của vương quốc cũng dịch chuyển từ Mỹ Sơn về thánh địa Po Nagar (Nha Trang ngày nay) để thờ nữ thần Yan Po Nagar, là thần mẫu của người Chăm.
Năm 774, quân Nam Đảo (người Java và Malaysia) từ ngoài khơi đổ bộ vào chiếm kinh đô Virapura, cướp phá đền Po Nagar. Vua bị chết trong đám loạn quân. 

Triều đại thứ hai, từ năm  774 - 786
Vị vua của triều đại có tên là Satyavarman, thuộc dòng tộc của vương triều trước. Vua tổ chức quân đội tấn công quân Nam Đảo và đánh bại giặc trong một trận thủy chiến. Năm 781, vua cho dựng bia kỷ niệm chiến thắng và xây dựng lại thánh địa Po Nagar bằng gạch, năm 784 thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. 

Triều đại thứ ba, từ năm  786 - 801
Năm 786, vua Satyavarman qua đời, em trai ông có tên là Indravarman I (Nhân Đà La Bạt Ma) lên ngôi.
Năm 787, quân Java từ ngoài khơi lại tràn vào kinh đô Virapura, cướp phá tháp Hòa Lai thờ thần Bhadradhipatisvara  (tại phía Tây thành Virapura, gần Phan Rang ngày nay). Đến năm 799, vua mới đuổi được quân xâm lược, xây lại tháp Hòa Lai với ba tháp mới gọi là Kalan Ba Tháp, thờ các thần Hindu giáo. 

Triều đại thứ tư, từ năm 801 - 817
Năm 801, vua Indravarman I mất, em rể lên ngôi có tên là Deva Rajadhiraja, hiệu là Harivarman I (Kha Lê Bạt Ma). Năm 817, vua cho trùng tu lại tháp Po Nagar và xây dựng thêm hai tháp cạnh tháp chính. Tượng nữ thần Bhagavati, được tạc lại bằng đá hoa cương. Dưới triều vua Deva Rajadhiraja, vương quốc Hoàn Vương hưng thịnh trở lại. Vua tổ chức nhiều cuộc tấn công ra các quốc gia xung quanh, trong đó có các cuộc tấn công lên phía Bắc (châu Ái, châu Hoan – Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay) vào các năm 803, 808 và 809. 

Triều đại thứ năm, từ năm 817 - 875
Năm 817, con trai vua Harivarman I, có hiệu là Vikrantavarman III (Thích Lợi Tì Kiên Đà Bạt Ma) lên kế vị. Vì vua còn nhỏ tuổi nên bên cạnh vua có phụ chính tên là Senapati Par. Ông cho tổ chức nhiều cuộc tấn công vào lãnh thổ Khmer và 
cho xây dựng thêm một số tháp xung quanh tháp chính trong khuôn viên tháp Po Nagar. Mặc dù vậy, trung tâm chính trị và tôn giáo của vương quốc vẫn là kinh đô Virapura. Dưới thời Vikrantavarman III, vương quốc Hoàn Vương là một đất nước phồn thịnh với quân đội hùng mạnh.  

Vương quốc Chiêm Thành (năm 875 - 1471): là triều đại tiếp nối vương quốc Hoàn Vương với kinh đô đặt tại Indrapura (từ năm 875 – 982, làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay). 
Tại miền Bắc Việt Nam, năm 905, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt nhân khi nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho nền độc lập của Việt Nam. Từ đây, nhà nước phong kiến độc lập của Việt Nam trải qua các quốc hiệu và vương triều : Đại Cồ Việt: thời nhà Đinh – nhà Tiền Lê và đầu thời nhà Lý (từ năm 968–1054); Đại Việt: thời nhà Lý – nhà Trần (từ năm 1054–1400); Đại Ngu: thời nhà Hồ (từ năm 1400–1407) ; Đại Việt: thời nhà Hậu Lê- Nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn (từ năm 1428–1804; Việt Nam: thời nhà Nguyễn (từ năm 1804–1839); Đại Nam: thời Nhà Nguyễn (từ năm 1839–1945).

Vương quốc Chiêm Thành trải qua 9 triều đại, kế tục Vương quốc Hoàn Vương, nên được gọi là triều đại thứ 6 đến triều đại thứ 14. Các vị vua đầu tiên của vương quốc Chiêm Thành theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức. Ở trung tâm của kinh đô Indrapura (Đồng Dương), một thiền viện Phật giáo (Vihara), bên trong thờ Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteśvara) đã được xây dựng.
Thời kỳ Phật giáo ảnh hưởng ở Champa kết thúc vào đầu thế kỷ thứ 10 (năm 925) với sự phục hồi của Hindu giáo, thờ thần 
Shiva. Trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở lại về Mỹ Sơn. Đây là thời kỳ văn minh Champa đạt đến đỉnh cao. Dân số của vương quốc lên đến 0,6 triệu người. 
Vương quốc Chiêm Thành dần suy yếu dưới sức ép của vương quốc Đại Cồ Việt từ phía Bắc và các cuộc chiến tranh với vương quốc Khmer từ phía Tây.
Vào khoảng cuối thế kỷ 10, do kinh đô Indrapura (Đồng Dương) bị quân đội Đại Cồ Việt tấn công phá hủy (năm 982), Chiêm Thành chuyển kinh đô xuống Vijaya ở phía Nam (từ năm 982- 1471, thuộc xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, Bình Định ngày nay, còn có tên là Chà Bàn/Trà Bàn).
Trong 5 thế kỷ tiếp theo, giữa Chiêm Thành và Đại Việt đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh.
Vị vua hùng mạnh cuối cùng của người Chăm là Chế Bồng Nga (Che Bonguar, năm 1360 – 1389, lên ngôi từ năm 1360). Ông tổ chức nhiều cuộc tấn công ra kinh đô Thăng Long và đã chết trong lần tấn công cuối cùng vào năm 1389.
Sau thời kỳ Chế Bồng Nga, Chiêm Thành liên tục bị các vương triều Đại Việt tấn công. Năm 1471, Champa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất phần lớn lãnh thổ phía Bắc. Phần lãnh thổ còn lại bị chia nhỏ thành các tiểu quốc, và tiếp tục dần bị các chúa Nguyễn thôn tính. Đến năm 1832, toàn bộ vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng (vị hoàng đế thứ 2 của triều Nguyễn, trị vì năm 1820 – 1841).   


Vương quốc Champa vào khoảng năm 1100.

Màu xanh: Phạm vi vương quốc Đại Việt (kinh đô Đại La - Hà Nội) ; Màu vàng : Vương quốc Champa (kinh đô Indrapura – Đồng Dương); Màu đỏ : Vương quốc Khmer (kinh đô Angkor) 

Đền tháp Champa
Nhóm tháp theo niên đại
Đền tháp Champa theo niên đại được phân thành 23 nhóm tháp. Đền tháp Mỹ Sơn là nhóm đầu tiên với niên đại sớm nhất từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13.

TT

Tên di tích

Địa điểm

Niên đại

1

Nhóm tháp Mỹ Sơn

xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ IV - XIII

2

Nhóm tháp Po Sah Inư

phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận

thế kỷ VIII

3

Nhóm tháp Mỹ Khánh

xã Phú Diên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế

thế kỷ VIII

4

Nhóm tháp Hòa Lai

làng Tam Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận

thế kỷ IX

5

Nhóm tháp Po Dam

làng Tuy Tịnh, xã Phong Phú, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận

thế kỷ IX

6

Nhóm tháp Đồng Dương

Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình. tỉnh Quảng nam

thế kỷ IX

7

Nhóm tháp Bằng An

làng Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ IX - X

8

Nhóm tháp Khương Mỹ

làng Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ X

9

Nhóm tháp Po Nagar

thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà

thế kỷ X - XIII

10

Nhóm tháp Chiên Đàn

làng Chiên Đàn, xã Tam An, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

thế kỷ XI - XII

11

Nhóm tháp Bánh Ít

thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

thế kỷ XI - XII

12

Nhóm tháp Bình Lâm

xã Phước Hoà, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII

13

Nhóm tháp Đôi

thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII

14

Nhóm tháp Nhạn

thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

thế kỷ XII

15

Nhóm tháp Phú Lốc

xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII

16

Nhóm tháp Cánh Tiên

xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII - XIII

17

Nhóm tháp Thủ Thiện

xã Bình nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII - XIII

18

Nhóm tháp Dương Long

xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XII - XIII

19

Nhóm tháp Liễu Cốc

xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế

thế kỷ XIII

20

Nhóm tháp Mẫm

xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷ XIII

21

Nhóm tháp Yang Praong

Bản Đôn, huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk

thế kỷ XIII

22

Nhóm tháp Po Klong Garai

phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

thế kỷ XIII - XIV

23

Nhóm tháp Po Rome

làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

thế kỷ XVII

Đặc trưng chung của các ngôi đền tháp Champa
Đền Champa thường được đặt tại các vị trí thoáng, gò đồi, không gần nơi dân cư sinh sống, xây dựng thành cụm, theo trục Đông – Tây, được thiết kế bằng sự kết hợp các hình thức trừu tượng và hình học cụ thế. Trong ngôi đền Champa có nhiều công trình dạng tháp.
Tháp Champa là một khối kiến trúc xây dựng bằng gạch hoặc có bổ sung một số cấu trúc đá, phía trên dật cấp hoặc thu nhỏ dần vào tạo thành hình tháp.
Mặt bằng tháp đa số là hình vuông. Không gian bên trong hẹp thường có cửa mở về hướng Đông - Tây, các phía còn lại là cửa giả, được bố trí đối xứng với cửa chính. Trần được cấu tạo vòm cuốn.
Gạch xây tháp có màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương. Gạch được nung, vừa đạt được độ cứng nhất định vừa tạo điều kiện cho việc chạm khắc, tương tự như đá sa thạch (là một loại đá được hình thành nhờ sự tích tụ của những đá cát, đá trầm tích, tương đối mềm và dễ gia công). Nghệ nhân chạm khắc trực tiếp lên các bức tường gạch thành phẩm. 
Gạch xây không có mạch vữa, được liên kết với nhau bằng một loại keo đặc biệt. Có giả thuyết cho rằng đó là  loại keo được tinh chế từ một loại thực vật tại địa phương. Giả thuyết khác là vữa xây làm từ đất sét tạo ra chính viên gạch. Giả thuyết này được củng cố sau khi thí nghiệm hóa học đã không tìm ra dấu vết của bất kỳ chất hữu cơ nào từ giữa các viên gach, mà tìm thấy các khoáng chất tương tự như các chất có trong lõi viên gạch.
Nghệ thuật chạm khắc của các ngôi đền tháp Champa là tiêu biểu cho Di sản nghệ thuật Champa. Các tác phẩm điêu khắc bằng gạch, đá sa thạch rất công phu với các trang trí hình hoa lá, chim, thú, vũ nữ, thần thánh (Hindu giáo, Phật giáo, tôn giáo bản địa) thể hiện trên mặt tường ngoài của tháp. Phổ biến và cũng hấp dẫn nhất trong nghệ thuật Champa là các vũ nữ (apsara, là một dạng tiên nữ múa hát trong các nghi lễ Hindu giáo và thần thoại Phật giáo).

Phong cách nghệ thuật của các đền tháp Champa
Người ta cho rằng, di tích đền tháp Champa tại Việt Nam có tới 7 phong cách nghệ thuật :
Phong cách Mỹ Sơn E11 (Style of Mỹ Sơn E1) hay phong cách Cổ đại : có niên đại thế kỷ 7 – 8, được khái quát hóa từ đền tháp Mỹ Sơn E1 tại Di sản Thánh địa Mỹ Sơn. Phong cách này được thể hiện đầy đủ nhất tai ngôi tháp Mỹ Sơn E1.
Phong cách Hoà Lai (Style of Hoa Lai) : có niên đại cuối thế kỷ 8 - đầu thế kỷ 9, được khái quát hoá từ đền tháp Hoà Lai. 
Phong cách Đồng Dương (Đồng Dương style): có niên đại cuối thế kỷ 9 - đầu thế kỷ 10, được khái quát hoá từ đền tháp Đồng Dương. 
Phong cách Mỹ Sơn A1 (Mỹ Sơn A1 style): có niên đại thế kỷ 10, được khái quát hoá từ tháp Mỹ Sơn A1, thuộc  Di sản Thánh địa Mỹ Sơn. Phong cách này thể hiện đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất là ở ngôi tháp Mỹ Sơn A1.
Phong cách chuyển tiếp Mỹ Sơn A1- Bình Định: có niên đại đầu thế kỷ 11 - giữa thế kỷ 12.
Phong cách Bình Định (style of Bình Định): có niên đại cuối thế kỷ 11 - đầu thế kỷ 14.
Phong cách muộn : có niên đại từ đầu thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 17.

Tháp Po Nagar
Trong 23 nhóm tháp của Đền tháp Champa, nhóm tháp Po Nagar đứng thứ 9.
Tháp Po Nagar (Yang Po Inư Nagar hay Yang Pô Ana Gar) là ngôi đền Champa nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 10-12m so với mực nước biển, ở cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Inư, Ana trong tiếng Chăm có nghĩa là Mẹ.
Tháp Po Nagar là một trong những thánh đường trung tâm của các vương triều Champa từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ 15). Công trình được xây dựng từ khi hình thành Vương quốc Hoàn Vương (Panduranga, năm 757 – 875, tồn tại qua 5 triều đại). Ngay từ triều đại thứ nhất (757- 774), khi Thánh địa tôn giáo của vương quốc  dịch chuyển từ Mỹ Sơn về thánh địa Po Nagar (Nha Trang ngày nay), tháp Po Nagar đã được xây dựng để thờ nữ vương Jagadharma (Prakasadharma, vị vua thuộc triều đại thứ 4 của Vương Quốc Lâm Ấp, trị vì từ năm 646- 653). Tháp được dựng bằng gỗ.   
Năm 774, quân Nam Đảo (người Java và Malaysia) từ ngoài khơi đổ bộ vào chiếm kinh đô Virapura, phá hủy đền Po Nagar.
Năm 784, sau khi đánh thắng giặc Nam Đảo, vua triều đại thứ hai (774- 786) Vương quốc Hoàn Vương đã cho xây dựng lại thánh địa Po Nagar bằng gạch, tồn tại cho tới ngày nay. 
Năm 817, dưới thời của vua Hoàn Vương triều đại thứ tư (801 - 817) và thứ năm (817 - 875), tháp Po Nagar được trung tu lại và xây dựng thêm các tháp khác cạnh tháp chính trong khuôn viên tháp. Đến thế thế kỷ thứ 10, quần thể tháp Po Nagar vẫn tiếp tục được xây dựng bổ sung một số tháp nhỏ khác. Tháp chính được xây dựng lại vào thế kỷ 11. 

Về nữ thần Yan Po Nagar có nhiều truyền thuyết.
Theo Hindu giáo, nữ thần được thờ trong đền là Parvati, hiện thân của nữ thần sáng thế tối cao và là vợ của thần Shiva. Tượng thờ được bố cục và tạc theo Hindu giáo gắn với linh vật Linga - Yoni. Về sau, nữ thần Hindu giáo được chuyển hóa thành nữ thần bản địa Yan Po Nagar.
Theo tín ngưỡng của người Chăm, nữ thần Yan Po Nagar là nữ thần biển với nhiều phép thuật. Bà giáng trần, dùng phép biến hóa ra cung điện nguy nga, lúa gạo, trầm hương. Trong kiếp trần thế bà trở thành nữ vương Jagadharma, có nhiều hầu nam trong hậu cung và sinh ra nhiều con. Các con bà sau này đều thành thần, được người dân tôn thờ.
Người Việt sau khi chinh phục Champa cũng đã Việt hóa sự tích về bà Yan Po Nagar gắn liền với linh vật trầm hương, thể hiện sự giao lưu và bồi đắp văn hóa của hai dân tộc Việt và Champa.
Nhà Nguyễn xếp bà Yan Po Nagar vào bậc Thượng đẳng thần (Thần hoàng hay Phúc thần theo Thần đạo Việt Nam được phân thành ba hạng: Thượng đẳng thần, gồm thiên thần như Tứ bất tử...,nhân thần như Trần Hưng Đạo..; Trung đẳng thần và Hạ đẳng thần). Việc thờ cúng Thiên Y A Na có nhiều yếu tố hòa hợp với đạo Mẫu Tam phủ. Nữ thần Yan Po Nagar trở thành Thiên Y A Na hay Bà Thánh Mẫu Chúa Ngọc (Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ), được người Chăm và cả người Việt tôn thờ. 

Tháp Po Nagar được xây dựng theo Phong cách Hoà Lai (Style of Hoa Lai), có niên đại cuối thế kỷ 8 - đầu thế kỷ 9, được khái quát hoá từ đền tháp Hoà Lai (Ninh Hải, Ninh Thuận).
Tháp Po Nagar cũng tương tự như các quần thể đền tháp Champar điển khác (có thể thấy ngay tại nhóm tháp Mỹ Sơn, Quảng Nam, là tháp Champa được xây dựng sớm nhất, vào thế kỷ 4 – 8) với đặc điểm: bố cục theo hướng Đông Tây, có tường bao quanh tạo thành một khu vực hình vuông; có một Tháp cổng ra vào (đặt tại giữa của đoạn tường phía Đông hoặc Tây, phụ thuộc vào hướng đền); tiếp đến là tòa Bái đường, là một ngôi nhà dài, nơi chuẩn bị nghi lễ (trong một số trường hợp nhà lại nằm bên ngoài khu vực đền, song vẫn trên trục chính của đền); trung tâm của quần thể là Tháp chính, nơi đặt linh vật thờ thần chính; nhiều quần thể đền có hai Tháp chính; xung quanh các Tháp chính có các Tháp phụ là nơi thờ hoặc làm kho đồ lễ, bếp nấu đồ cúng tế, kho sách… 

Quần thể đền Po Nagar nằm trên đồi thấp, theo hướng từ Đông sang Tây gồm:
Bái đường, Tháp cổng, Tháp chính phía Bắc, Tháp chính phía Nam và các tháp phụ trợ khác.  
Các công trình trong quần thể được phân bố theo 3 bậc nền : Bậc nền dưới cùng, Bậc nền giữa, Bậc nền trên cùng. 


Tháp Po Nagar, Nha Trang, Khánh Hòa


Sơ đồ mặt bằng, mặt cắt ngang
Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Phối cảnh mặt phía Đông Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Phối cảnh mặt phía Bắc Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Phối cảnh mặt phía Tây Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa

Tòa Bái đường
Bái đường (Meditation hall) được phục dựng lại vào thế kỷ 11, nằm trên bậc nền giữa. Bậc nền dưới cùng là khoảng sân, phía trước đền. Từ đây có bậc thang bằng đá lên bậc nền giữa.
Bái đường là nơi sắp xếp lễ vật và thực hiện các nghi thức hành lễ (nhảy múa, chơi nhạc).
Công trình dạng nhà dài với mặt bằng hình chữ nhật, nằm trên một nền bằng gạch cao hơn 1m, hiện chỉ còn tàn tích nền với hai dãy cột chính bằng gạch hình bát giác, mỗi bên 5 cột có đường kính hơn 1m và cao hơn 3m. Ở hai bên các dãy cột lớn có 12 cột nhỏ và thấp hơn. Dựa vào cấu trúc cột này, người ta cho rằng đây vốn là một tòa nhà rộng lớn.
Từ bậc nền giữa, có một dãy bậc thang bằng gạch dẫn lên bậc nền trên cùng nơi bố trí khu vực đền. 




Tàn tích cột còn lại của tòa Bái đường, Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa

Tháp cổng và hệ thống tường bao quanh
Toàn bộ khu vực đền đặt tại bậc nền trên cùng, có mặt bằng hình vuông được giới hạn bởi các bức tường đá. Hiện chỉ còn tàn tích một số đoạn tường phía Tây và Nam.
Chính giữa đoạn tường phía Đông là Tháp cổng (gopura/ gatehouse), hiện cũng chỉ còn tàn tích nền. 

Tháp chính phía Bắc
Tháp chính (kalan/sanctuarya) tại quần thể đền Po Nagar gồm hai tháp: Tháp chính phía Bắc và Tháp chính phía Nam.
Tháp chính phía Bắc là tháp lớn nhất, cao khoảng 23m, đặt tại trung tâm của quần thể, nằm trên trục chính với tòa Bái đường.
Ban đầu, theo Hindu giáo, đây là đền thờ nữ thần thần Parvati. Sau này, theo tín ngưỡng địa phương, đây là nơi thờ là nữ thần Yan Po Nagar hay Thiên Y A Na/Bà thánh mẫu Chúa Ngọc.
Tương tự như các ngôi đền Champa khác, tháp có mặt bằng hình vuông gồm 3 phần: đế tháp, thân tháp và mái tháp.
Đế Tháp chính phía Bắc được phân chia bởi các trụ, kết hợp với các vòm cong, tạo thành hình tượng hoa sen đỡ thân tháp.
Thân Tháp chính phía Bắc là một khối lập phương. Bề mặt tháp không phẳng mà có các trụ áp tường, dạng trụ kép, phân bố 1 trụ đôi tại góc tháp và 4 trụ đôi tại mặt tháp. Phía trên các trụ là các gờ tường nhô dần ra tạo thành diềm mái.
3 mặt Tây, Bắc, Nam của thân tháp có các cửa giả tạo bởi các mặt tường đắp nhô dần ra với dạng hình tháp. Bên trong mỗi ô cửa giả có những hình tam giác nhỏ khoét sâu vào tường. Đây là nơi đặt lễ vật, đèn dầu để thờ (sau này do thắp hương nên khói đã làm đen các bức tường).
Tại mặt phía Đông của thân tháp có một cửa ra vào, kéo dài như một khối tiền sảnh với hình dáng một ngôi tháp nhỏ mô phỏng theo hình dáng tháp chính. Cửa vào khối tiền sảnh được xây dựng bằng đá, gồm 2 trụ đứng và một dầm ngang. 2 trụ đứng còn là hai tấm bia ký khắ chữ Sancrit (Phạn) và chữ Chăm cổ. Phía trên cửa có một bức phù điêu đá hình lá đề miêu tả nữ thần Durga (vợ thần Shiva) 4 tay đang nhảy múa; chân đặt trên lưng bò thần Nandin (vật cưỡi của thần Shiva). Đây được đánh giá là một trong những bức phù điêu đẹp nhất của nghệ thuật Champa còn lưu giữ được tại Việt Nam.
Mái Tháp chính phía Bắc có bố cục tương tự như mái tháp Hòa Lai (Ninh Hải, Ninh Thuận): Nằm trong một khối lập phương với 3 tầng mái,
nhỏ dần về phía trên; trang trí tầng mái trên được mô phỏng theo tầng mái dưới ; mỗi góc của mỗi tầng mái đặt một tháp có hình dáng như của tháp chính thu nhỏ; tại các diềm phân cách thân và các tầng mái, khối tháp đều hơi choãi ra phía ngoài, là không gian để đặt các tượng trang trí ; trên đỉnh mái tháp là một khối chóp.


Phối cảnh mặt phía Tây Tháp chính phía Bắc (bên trái ảnh) và Tháp chính phía Nam (bên phải ảnh),
Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Trang trí trên bệ Tháp chính phía Bắc, Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Trang trí trụ đôi tại thân Tháp chính phía Bắc,
Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Lối vào Tháp chính phía Bắc,
Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Phù điêu bên trên lối vào Tháp chính phía Bắc, Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa


Phối cảnh phần mái Tháp chính phía Bắc, Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa

Bên trong Tháp chính phía Bắc đặt tượng thờ nữ thần Yan Po Nagar hay thánh mẫu Thiên Y A Na/ Bà Thánh Mẫu Chúa Ngọc. Tượng nữ thần cao 2,6m, được tạc bằng đá hoa cương màu đen (ban đầu được tạc bằng vàng) ngồi trên bệ đá hình đài sen, lưng tựa vào phiến đá lớn hình lá bồ đề. Tượng có 4 đôi tay cầm các linh vật khác nhau và đôi tay thứ 5 để xuôi trên đầu gối, bàn tay trái úp, bàn tay phải mở rộng. Tượng được cho thể hiện hình ảnh của một người mẹ đã nhiều lần sinh nở, người Mẹ của xứ sở. Đây được cho là một trong những kiệt tác về điêu khắc Champa, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi. Người Pháp đã lấy mất đầu tượng đá, nay chỉ còn đầu tượng phục chế lại bằng xi măng. Trên thân và mái Tháp chính phía Bắc còn có nhiều tượng và phù điêu bằng đất nung và đá, trong đó có hình tượng thần Po Nagar và một số vị thần Hinhdu giáo khác, các tiên nữ, vũ công, người chèo thuyền, đi săn, loài chim như thiên nga, các loài thú như voi, sư tử, dê, nai 




Tượng nữ thần Yan Po Nagar hay thánh mẫu Thiên Y A Na, Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa

Tháp chính phía Nam
Tháp chính phía Nam, nhỏ hơn so với Tháp chính phía Bắc, cao 18m, được xây dựng vào thế kỷ 13.
Ban đầu, theo Hindu giáo, đây là nơi thờ thần Shiva. Sau này, theo tính ngưỡng địa phương, đây là nơi thờ Đức ông.
Tháp chính phía Nam có cấu trúc mặt bằng, lối vào, đế và thân tháp tương tự như Tháp chính phía Bắc. Riêng phần mái không theo tầng mái mà là dạng chóp. Hiện phần mái Tháp chính phía Nam mới phục dựng lại được phần thô, không có trang trí trên bề mặt mái. Trên đỉnh mái đặt một trụ linga.
Cửa ra vào của Tháp chính phía Nam có quy mô nhỏ hơn và không có bức phù điêu trang trí trên cửa. 


Mặt phía Đông Tháp chính phía Nam (bên trái ảnh) và Tháp chính phía Bắc (bên phải ảnh),
Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa

Tháp phụ phía Tây
Trong các ngôi đền Hindu giáo, xung quanh tháp chính thường có tháp phụ nhỏ xung quanh. Có tháp là đền thờ  các vị thần Hindu giáo, có tháp là nơi để chứa các vật có giá trị thuộc về vị thần hoặc để nấu ăn cúng tế. Quần thể đền Po Nagar hiện còn lưu giữ được 2 Tháp phụ (Tháp phụ phía Tây và Tháp phụ phía Nam) cùng tàn tích móng của các tháp phụ khác.
Tháp phụ phía Tây cao 9m, là ngôi tháp còn khá nguyên vẹn về kiến trúc và trang trí. Tháp được xây dựng vào năm 817, song được trùng tu nhiều lần với lần trùng tu cuối vào khoảng thế kỷ 13.
Theo Hindu giáo đây là tháp thờ thần Ganesha, vị thần đầu voi mình người, con của thần Shiva, biểu tượng của tài trí, hạnh phúc và thành công. Linh vật thờ trong tháp là biểu tượng Linga và Yoni;
Theo tín ngưỡng của người dân địa phương, tháp thờ Cô, Cậu con của thánh Mẫu Thiên Y A Na.
Tháp có mặt bằng hình vuông.
Bệ tháp có cấu trúc như Tháp chính phía Bắc.
Thân tháp là một khối lập phương. Bề mặt tháp không phẳng mà có các trụ áp tường, dạng trụ kép, phân bố 1 trụ đôi tại góc tháp và 4 trụ đôi tại mặt tháp. Phía trên các trụ là các gờ tường nhô dần ra tạo thành diềm mái.Trên tường của thân tháp có hình điêu khắc thần chim, thần rắn, tiên nữ, sư tử.Thân tháp cũng có 3 ô cửa giả tại 3 mặt Bắc, Nam và Tây. Trên mỗi ô cửa giả đều có hoa văn trang trí hình các linh vật, được chạm trổ tinh xảo trên nền gạch nung. Trên ô cửa giả phía Nam là hình ảnh chim thần Garuda; ô cửa giả phía Bắc là hình ảnh thần Kala – vị thần thời gian; ô cửa giả phía Tây là hình tượng nữ thần cưỡi voi. Cửa vào đặt tại phía Đông của thân tháp.
Mái của tháp phụ có hình dáng như một khối tháp nhỏ đặt lên trên khối tháp to phía dưới với phần thân gồm các trụ tường và các gờ tường nhô dần ra phía ngoài để đỡ mái hình yên ngựa. 4 góc của mái tháp là 4 tháp nhỏ. 


Phối cảnh Tháp phụ phía Tây,
Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa

Tháp phụ phía Nam:
Đây là ngôi tháp có quy mô nhỏ nhất, cao 7,1m. Hình dáng bên ngoài tháp đã bị hư hại nhiều, chưa được phục dựng lại.
Tháp được xây dựng vào khoảng thế kỷ 11 – 12.
Theo Hindu giáo, đây là tháp thờ thần Skandha, con của thần Shiva, tượng trưng cho sức mạnh, chiến tranh.
Theo tín ngưỡng địa phương, đây là tháp thờ ông bà là cha mẹ nuôi của thánh Mẫu Thiên Y A Na. 
Đế và thân tháp đơn giản. Thân tháp thu nhỏ dần lại để đỡ mái dạng hình mui thuyền hay hình yên ngựa. 


Phối cảnh Tháp phụ phía Nam (bên phải ảnh) Quần thể đền Po Nagar, Nhà Trang, Khánh Hòa

Ngoài ra, tại Quần thể đền Po Nagar còn có các tháp phụ khác, hiện chỉ còn tàn tích nền móng. Người ta cho rằng, khi khảo sát Quần thể đền vào đầu thế kỷ 20, người Pháp đã phát hiện một kho chứa đồ của một tháp phụ và đã mang đi hết các đồ tế lễ bằng vàng và bạc trong đó. 

Tháp Po Nagar còn là nơi lưu giữ nhiều bia ký cổ của người Champa, từ thế kỷ thứ 8 - 13. Trên mặt các bia ghi lại các sự kiện tháp bị giặc biển đốt phá năm 774 và việc xây dựng tượng Sri Satya Mukhalinga (linh vật linga có điêu khắc mặt thần hay mặt vua Champa); ghi lại công lao xây dựng tháp của các tiên vương; ghi việc dựng pho tượng Po Nagar bằng vàng vào năm 918 và pho tượng này bị người Khmer cướp đi, sau đó được thay thế bằng tượng đá vào năm 905; bia đá ở hai bên cửa Tháp chính phía Bắc ghi lại các lễ vật dâng cúng chư thần như: cúng ruộng; 55 nô lệ; sách vàng và bạc; bình vàng và bạc; bia dựng năm 1064 ghi lại việc xây dựng tháp cổng rất tốn kém…Ngoài ra tại đây cũng có một số bia vào thế kỷ 19, thời Nguyễn, trong đó có ghi lại truyền thuyết Thiên Y A Na Thánh Mẫu của người Việt. 

Lễ hội Tháp Bà diễn ra từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 3 âm lịch hàng năm.
Tháp Po Nagar, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa được đánh giá là một trong những di tích tháp Champa cổ và đẹp nhất còn tồn tại, là một trong công trình kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa tiêu biểu của các đền tháp Champa, Việt Nam vào thế kỷ 10- 13.  

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD
Nguồn :
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1p_Po_Nagar
https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%C3%AAn_Y_A_Na
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A0n_V%C6%B0%C6%A1ng
https://ditichkhanhhoa.org.vn/index.php/2018/04/08/thap-ba-ponagar-nha-trang/

Di sản thế giới Thánh địa Mỹ Sơn (My Son Sanctuary), Duy Xuyên, Quảng Nam xem tại đây
- Xem bài viết về Tháp Hòa Lai, Thuận Bắc, Ninh Thuận tại đây
- Xem bài viết về Tháp Nhạn, Tuy Hòa, Phú Yên tại đây
- Xem bài viết về Tháp Po Klong Garai, Phan Rang – Tháp Chàm, Ninh Thuận tại đây
- Xem bài viết về Tháp Dương Long, Tây Sơn, Bình Định

Xem các bài viết về chùa Việt Nam tại đây 

Xem các bài viết về đình, đền Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về Di sản văn hóa thế giới tại đây

    
Cập nhật ( 21/04/2020 )
 
Tin đã đưa:
"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com