Tuần -7 - Ngày 14/06/2024
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em cảm thấy vô hướng quá  

Em chào thầy ạ, em là 1 sinh viên đang theo học tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội và cũng đang học trong lớp Kiến trúc Công nghiệp của thầy ạ. Em có 1 số vấn đề nội tâm rất mong muốn được thầy giúp đỡ và mách bảo ạ. 
Vấn đề chính em đang gặp phải là em cảm thấy rất vô hướng như trong tiêu đề ạ. Em thấy bản thân mình không có tý năng lực nào để mai sau có thể hành nghề kiến trúc sư. Hiện tại em bị nản chí và cũng lo sợ nữa. Em vào trường cũng vì ước mơ có thể xây ngôi nhà do chính mình thiết kế và hành nghề. Nhưng em cảm thấy mình không đủ năng lực để có thể hành nghề, kiến thức trên trường là vô cùng lớn mà dù e đã học rồi nhưng lại bị quên lãng chỉ sau 1 học kỳ. Em cũng không giỏi vẽ và vẽ rất xấu nếu vẽ tay thì nhìn rất trẻ con và thiếu chuyên nghiệp, nhìn các bạn khác em cảm thấy rất tự ti, Em cũng không biết mình còn có thể đủ trình độ để đi thực tập không nữa. Chuyên môn của em em tự đánh giá là khá tệ, em rất suy sụp và cố gắng học những gì có thể mà chuyên ngành cần. Thầy có thể cho em xin ý kiến và liệu có giải pháp khắc phục không ạ, em rất sợ rằng nếu hành nghề thì bản thân không giỏi giang thì kinh tế làm ra sẽ bị thấp, không đủ sống. Vậy em phải làm sao ạ. 


Trả lời:

Thày đã nhận được thư.

Năng lực tự thân thời điểm này là kết quả của năng lực tự rèn luyện giai đoạn trước. Như em nêu trong thư, năng lực tự thân yếu, trước hết thể hiện:
i) Kiến thức chuyên môn còn nhiều khoảng trống và ngày càng rộng ra, do việc học không chăm chỉ;
ii) Trình bày bản vẽ kiến trúc xấu, do không cẩn thận khi thiết kế;
iii) Mất niềm tin vào chính mình, nản chí và dẫn đến lo sợ cho tương lai. 
Phải thấy đó là điều không tốt đẹp do chính em gây ra, để có trách nhiệm mà sửa mình. 
Được gia đình hỗ trợ, có sức khỏe và năng lực để học đến năm thứ 3, là may mắn lắm, khi so sánh với rất nhiều thanh niên người Việt khác. 

Một số việc phải làm ngay: 
i) Thay đổi ngay nhận thức cũ: Ta phải trở thành người tài với cả kỹ năng cứng và mềm phù hợp để cạnh tranh và hợp tác, không chỉ trong kiến trúc mà cả lĩnh vực liên quan khác mà xã hội đang cần và tạo ra giá trị gia tăng;
ii) Sử dụng thời gian hợp lý: Một ngày ngủ đủ 6- 7 tiếng để tái tạo sức lao động. Thời gian còn lại dành cho: Học ngoại ngữ và chuyển đổi số; Đi học đầy đủ và lắng nghe bài giảng; Đọc sách và tài liệu bổ sung kiến thức; Chủ động trao đổi chuyên môn với giảng viên và bạn bè;
iii) Chăm chỉ tự học tập: Lời chê ghê gớm nhất là Kẻ lười nhác. Từ Kẻ lười nhác đến Kẻ hèn hạ và vô dụng rất gần nhau. Không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mà học hỏi, mà phải có kế hoạch tự học, từ trong sách vở đến mạng xã hội và thực tế;
iv) Mở ra với thế giới bên ngoài: Tìm người có đức, có tài mà chơi để học kiến thức và sự đồng thuận; Ra với môi trường tự nhiên mà hòa vào trong đó. Sẵn sàng trải nghiệm làm những điều tốt đẹp; 
v) Còn 2 năm nữa mới ra trường. Phải học để tốt nghiệp đại học, điểm khởi đầu sự nghiệp của một người tri thức. Đây là thời gian đủ để em tìm lại sự cân bằng cảm xúc và tận tâm thay đổi chính mình.

Nếu có vấn đề gì về việc học tập có thể trao đổi với thày. Thày sẵn sàng đồng hành.

Ngày 4/11/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Em kính chào thầy ạ.
Em đang đọc lần 2 quyển sách Nghĩ giàu làm giàu, xuất bản lần đầu năm 1937. Quyển sách được viết từ 90 năm trước nhưng nó vẫn đang phản ánh nhiều thực tế.
Em đã đọc được rằng "các cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm hơn nữa trong việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên".
Em nghĩ đó là việc các thầy đang làm không ngừng. 
Em viết mail này để cảm ơn công việc của thầy ạ.

Em cảm ơn thầy đã đọc ạ.
Sinh viên 60KD3


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Rất cám ơn về những dòng chia sẻ, động viên. 
Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên không chỉ liên quan đến việc đào tạo kỹ năng cứng mà còn phải là kỹ năng mềm, liên quan trước hết đến năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. 
Cuốn sách "Nghĩ giàu, làm giàu" chỉ là một trong những nội dung mà thế hệ trẻ quan tâm.
Điều lớn lao hơn là họ phải có năng lực tự thân và năng lực tự rèn luyện để hình thành sự nghiệp và trở thành người tốt cho gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với chuẩn mực chung của loài người trong thế kỷ 21. 
Sinh viên là tương lai của thày.
Thày cùng các thày cô giáo khác đang nỗ lực hết sức để biến tương lai tốt đẹp đó thành hiện thực. 
Thày đang viết một cuốn sách với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên (và cựu sinh viên) trong lĩnh vực xây dựng'. Dự kiến tháng 5/2023 xuất bản. 
Chúc mọi điều tốt lành. 
Ngày 8/3/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 

 
 
Hỏi:

 

Thưa thầy, em xin gửi kết quả bigfive mới của bản thân, qua đây em cũng xin cảm ơn thầy vì thông qua bài khảo sát bigfive và những lời thầy nói, em đã cố gắng khắc phục những yếu điểm của bản thân và cũng như trau dồi thêm kiến thức để khai phá bản thân, và thực tế đã có những chuyển biến tích cực trong cuộc sống và công việc của em, tuy vậy bản thân em cũng vẫn còn những thiếu sót, những điều em chưa thay đổi đc, em mong thầy thông cảm và trân thành cảm ơn thầy đã lắng nghe em.

 

Sinh viên Khóa 53KD, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, ĐHXD Hà Nội

 


Trả lời:

 

Đã nhận được kết quả Big Five. Nên ghép thêm kết quả của những sinh viên khác, người khác để có thể so sánh và rút ra được nhận xét ta là ai và từ đó tự sửa mình. 

Kết quả cho thấy: Tính cách (hay kỹ năng mềm) thuộc loại trung bình. Yếu về tính hướng ngoại. 

Từng bước, từng bước mà cố gắng hơn. 

 

Ngày 3/2/2023, thày Phạm Đình Tuyển 

 


Hỏi:  Em gửi thầy kết quả Big Five ạ.




Trả lời: Thày đã nhận được kết quả đánh giá Big Five của em. 
Sau một năm tự nhìn nhận mình là ai và đã có những thay đổi . 
Tính cách Tận tâm và Hướng ngoại được cải thiện so với trước. 
Tính cách Cân bằng cảm xúc vẫn yếu như cũ. Theo các nghiên cứu mà thày được biết, tính cách Cân bằng cảm xúc là cốt lõi. Mọi năng lực hoạt động chuyên môn, xã hội của một con người đều dựa vào đây mà ra cả. 
Ta có mặt trên đời này đều có nguyên cớ tốt đẹp nào đó.  Phải tự tin hơn nữa vào chính mình, trước hết là từ công việc chuyên môn, nay chính là đồ án tốt nghiệp. 
Thày sẽ hỗ trợ chuyên môn để em có kết quả tốt nhất trong việc thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 
Ngày 10/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển.  
 

Hỏi: E chào thầy ạ! E là Thắng ,sinh vien nhận đồ án tốt nghiệp nhóm thầy, nhóm mình có nhóm zalo riêng hay thế nào để trao đổi về đồ án k ạ ? Em tìm sđt thầy để add Zalo nhưng không được ạ! Em cảm ơn thầy.
Trả lời: Trao đổi trực tiếp với thày qua mail. 
 
Một số nội dung chính thực hiện trong 4 tuần đầu tiên: :
 
1) Đọc kỹ các yêu cầu về nội dung Học phần đồ án tốt nghiệp của Khoa và Bộ môn KTCN; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành ngay trong tuần thứ 1)  
2) Báo cáo về tên đề tài tốt nghiệp, vị trí cụ thể khu đất dự kiến theo tỷ lệ 1/500 (hoàn thành trong tuần thứ 1)
3) Chuản bị các quy định, tiêu chuẩn thiết kế có liên quan đến đề tài; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành trong tuần thứ 2)
4) Tìm 5 ví dụ trên thế giới về các công trình tương tự với loại hình dự kiến trong đề tài tốt nghiệp; nhận xét và đánh giá, kết luận rút ra để có thể ứng dụng cho đề tài (4 tuần phải hoàn thành); 
5) Đọc lại các nguyên lý thiết kế kiến trúc đã được học (phải làm ngay và liên tục cho đến khi bảo vệ đề tài);
6) Nên tự đánh giá Ta là ai. Đánh giá theo phần mềm  Big Five- tính cách sinh viên, để thày biết rõ hơn về sinh viên. 
Phần mềm đánh giá: http://talaai.com.vn/   (talaai.com.vn)
Sau đó gửi ngay kết quả đánh giá tính cách cho thày, để có thể hỗ trợ. 
 
Gặp nhau 2 tuần/lần. Mỗi lần gặp cần chuẩn bị sẵn câu hỏi để có thể trao đổi tối đa những vấn đề liên quan đến đề tài tốt nghiệp mà không tự trả lời được. 
Địa điểm gặp: Chiều thứ tư hàng tuần, từ 16h - 17h30 tại Văn phòng Bộ môn KTCN. 
 
Đồ án tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng của đời người lao động trí óc. 
Phải nỗ lực hết sức và dành tất cả thời gian, nguồn lực cho đồ án. Từ đây mới có kết quả tốt nhất, để trải nghiệm, hình thành năng lực cần thiết chuẩn bị cho việc ra trường và làm việc với vô số những người tài khác trong xã hội. 
 
2/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển. 
 

Hỏi:  Em chào bộ môn ạ, em là Hoàng Đức Dương lớp 66XD8 msv-0013966 đang làm bài tiểu luận về công trình dân dụng ạ em thấy bộ môn có đăng bài về công trình galaxy soho ở Trung Quốc vậy em muốn xin bộ môn cho em bài đăng đó được không ạ, em xin cảm ơn bộ môn,em chào bộ môn ạ.


Trả lời: Trang WEB bmktcn.com được thành lập với mục tiêu chính là phục vụ sinh viên. Đương nhiên là em được đăng lại các bài viết trên trang WEB này. 
Chủ  biên: TS. Phạm ĐÌnh Tuyển 

Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Bộ Xây dựng cung cấp 37 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4
+ NĐ 109/2022/NĐ-CP quy định về hoạt động KHCN trong cơ sở giáo dục ĐH
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Truyền thuyết Kiến trúc kho báu Chùa Một Cột
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Khu di tích lịch sử Lam Kinh, Thanh Hóa, Việt Nam
08/03/2020

Thông tin chung: 
Công trình: Đền, miếu tại Khu di tích lịch sử Lam Kinh
Địa điểm: xã Xuân Lam, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân và xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Thiết kế kiến trúc:  
Quy mô: 
Thời gian hình thành: Thế kỷ 15
Giá trị: Di tích quốc gia đặc biệt (Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, năm 2013) 

Sau 10 năm lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn (năm 1418 - 1428) đánh đuổi giặc nhà Minh, Lê Lợi lên ngôi vua  nước Đại Việt, hiệu là Lê Thái Tổ, trị vì từ năm 1428 đến năm 1433, đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long). Ông được coi là vị hoàng đế huyền thoại về tài năng quân sự, khả năng cai trị và lòng nhân ái đối với cả kẻ thù. 

Năm 1430, Lê Thái Tổ cho đổi vùng đất Lam Sơn, quê hương ông, thành Lam Kinh hay Tây Kinh để phân biệt với Đông Kinh - Hà Nội. Lam Kinh trở thành vùng đất cốt lõi của nước Đại Việt thời Lê.
Năm 1433, sau khi mất, vua Lê Thái Tổ được đem về an táng ở quê nhà Lam Kinh. Các điện, miếu nhà Hậu Lê cũng bắt đầu được xây dựng tại đây.

Năm 1448, vua Lê Nhân Tông (hoàng đế thứ 3 triều Hậu Lê, trị vì năm 1442 – 1459) xuống chiếu cho làm lại điện, miếu Lam Kinh, trong đó có cung điện Lam Kinh với chức năng là hành cung của các vua chúa nhà Hậu Lê mỗi lần về lễ bái tổ tiên.
Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, vua Lê Nhân Tông đã đặt tên cho 3 toà của Chính điện Lam Kinh là Quang Đức, Sùng Hiếu, Diễn Khánh với các triết lý theo như tên gọi các tòa cung điện tại kinh thành Thăng Long.
Kết quả khảo cổ và dấu tích còn lại cho thấy di lích Lam Kinh gồm: Thành ngoại được giới hạn bởi La thành và Thành nội; Bên trong Thành nội đã từng tồn tại Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện, Thái miếu... nguy nga tráng lệ.
Năm 2008, một số đoạn của La thành phía Đông và phía Tây cầu Bạch đã được khôi phục (với tổng chiều dài 21m). 

Khu di tích lịch sử Lam Kinh có tổng diện tích là 141ha, nằm trên xã Xuân Lam, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân và xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Khu di tích lịch sử Lam Kinh gồm 50 hạng mục công trình chính, trong đó có: Thành nội, Lăng, Đền, Miếu… 


Sơ đồ vị trí Thành nội Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Phối cảnh khu vực Thành nôi Lam Kinh, Thanh Hóa

Thành nội Lam Kinh
Thành nội Lam Kinh xây dựng theo trục Bắc - Nam trên một khoảng đồi gò, phía Bắc dựa vào núi Dầu, phía Nam nhìn ra sông Chu, xa là núi Chúa làm tiền án, bên trái là rừng Phú Lâm, bên phải là núi Hương.
Phía trước Thành nội là một con sông đào, có tên là sông Ngọc. Sông bắt nguồn từ sông Chu và hồ nước phía Tây, chạy vòng qua trước thành. Theo sách xưa, nước sông trong veo, đáy sông có nhiều sỏi tròn trông rất đẹp. Trên sông bắc cầu Tiên Loan Kiều, còn có tên Cầu Bạch. Cầu có hình cánh cung, trên cầu có nhà, theo kiểu trên "Thượng gia hạ kiều" (trên là nhà, dưới là cầu).
Thành nội có mặt bằng hình chữ nhật, dài 314m, rộng 254m, diện tích khoảng 8ha. Xung quanh 4 mặt là hệ thống thành, hiện chỉ còn tàn tích móng dày 1,08m. Thành phía Bắc hình cánh cung.
Bên trong Thành nội, từ ngoài vào trong phân thành 3 lớp không gian với bệ nền cao dần lên. Lớp không gian thứ nhất có Giếng cổ, Nghi môn, Sân chầu; Lớp không gian thứ hai bố trí Chính điện; Lớp không gian thứ ba bố trí Thái miếu. 


Sông Ngọc trước Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa
 


Tiên Loan Kiều trên sông Ngọc trước Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa; xưa kia phía trên cầu có nhà
 

Giếng cổ, Nghi môn, Sân Chầu.
Giếng cổ là công trình thuộc lớp không gian thứ nhất, nằm phía trước Nghi môn khoảng 10m, lệch về bên trái.  Tương truyền, giếng có từ thời cụ Lê Hối (cụ nội của Lê Lợi). Để tạo thành giếng, người xưa đã cho đắp ngăn đoạn suối chảy từ Tây sang Đông Nam để lấy nước sinh hoạt cho hàng nghìn người trong gia tộc. Năm 2003, giếng được tôn tạo với đường kính khoảng 35m, kè đá xung quanh. Giếng sâu 7,5m, mực nước dao động ở mức 3,5 - 4m.

Nghi môn Thành nội Lam Kinh đặt trên một nền rộng 11m, dài 14,1m, được phục dựng năm 2009, trên nền móng kiến trúc thời Lê Trung Hưng. Công trình gồm 3 gian, 4 mái. Bước gian giữa rộng 4,6m, bước gian hai bên rộng 3,5m. Cột bên trong Ngọ môn rất lớn, đường kính chân tảng đo được 78cm. Trước Nghi môn có hai con nghê bằng đá đứng chầu.

Sân Chầu hay sân Rồng có diện tích lớn, khoảng 3612m2 với chiều dài 64,5m, chiều rộng 56m. Hai đầu sân là tòa Tả vu và Hữu vu. Sân là nơi để các quan chầu khi vua thiết triều và tế lễ. Sân Rồng được phục hồi năm 2008, nền lát gạch, lối giữa sân lát đá đục nhám. Bên phải sân có một cây đa cổ hàng trăm năm tuổi.  


Giếng cổ bên trong Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa


Nghi môn với cây đa cổ, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa; phía sau là sân Rồng


Nghê đá phía trước Nghi môn Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa

Chính điện
Chính điện thuộc lớp không gian thứ hai, đặt trên một bệ nền cao 1,8m so với mặt sân Rồng. Đây là nơi các vua nhà Hậu Lê tổ chức gặp gỡ quan chức địa phương mỗi khi hành hương.

Từ sân Rồng lên Chính điện có một bậc thang rộng 5m với 9 bậc (cửu trùng) và 3 lối lên. Lối giữa rộng 1,8m, hai bên mỗi lối rộng 1,2m. Giữa các lối đi là lan can đá. Lan can hai bên bậc chính là hình tượng rồng uốn khúc. Trên thân rồng khắc hoa văn hình ngọn lửa; đầu rồng có bờm; mép rồng trang trí râu xoắn; dưới cằm có râu dài xoắn hình vặn thừng; tay rồng nắm gọn phần dưới râu, đặt trên một viên ngọc (hình tượng này được gọi là Long hí châu - rồng giỡn ngọc trai). Hai lan can ngoài cùng chạm hình mây cuộn.
Chính điện có bố cục hình chữ "công" hay chữ H, tạo thành 3 tòa: Tiền điện (có tên là điện Quang Đức), Trung điện (điện đặt dọc, có tên là điện Sùng Hiếu) và Hậu điện (có tên là điện Diên Khánh). Đây được cho là mô hình mẫu mực của các công trình hoàng cung thời bấy giờ.
Hai điện Quang Đức và Diên Khánh có cấu trúc xây dựng giống nhau gồm 7 gian, 2 dĩ. Điện Sùng Hiếu 5 gian. Tổng diện tích của Chính điện khoảng 1640m2.
Chính điện được xây dựng, cải tạo theo nhiều giai đoạn. Kiến trúc hiện nay thuộc thời Lê Trung Hưng (năm 15331789), được xây dựng trên nền của tòa nhà đã được xây dựng vào thời Lê Sơ (năm 14281527). 



Điện Quang Đức hay Tiền điện, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa


Mặt bên điện
Sùng Hiếu (Trung điện), nối điện Quang Đức (Tiền điện) với điện Diên Khánh (Hậu điện), Thành nội, Lam Kinh, Thanh Hóa

Thái miếu
Thái Miếu thuộc lớp không gian thứ ba, đặt trên một bệ nền cao hơn từ 0,4m - 1m so với nền của Chính điện.
Lớp không gian này kéo dài khoảng 135m theo hình bán nguyệt, ôm lấy tòa Chính điện.
Thái Miếu gồm 9 tòa nhà. Mỗi tòa có mặt bằng hình chữ nhật, tương đối giống nhau, dài từ 13,5m đến 16m, rộng từ 10,4m đến 12,9m, gồm 3 gian, 2 dĩ, 4 mái. Có tòa tường mặt trước lùi vào phía trong tạo thành hàng hiên.
Đây là nơi các vua nhà Hậu Lê và hoàng gia tổ chức lễ bái yết và suy tôn tổ tiên.
Tòa 5 (chính giữa) có nền cao nhất, thấp dần về hai bên. Mỗi toà đều có bậc lên xuống, lan can được tạc hình rồng và trang trí hoa lá tinh xảo.
Toà chính giữa thờ 3 vị: Thái tổ Cao hoàng đế (Lê Lợi), Hiển tổ Trạch hoàng đế (Lê Đinh, ông nội của Lê Lợi), Tuyên tổ Phúc hoàng đế (Lê Khoáng, cha của Lê Lợi). 8 tòa còn lại thờ các vị vua Lê đời sau.  


Bậc đá từ khu vực Chính điện lên khu vực Thái miếu, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa




Phối cảnh khu vực Thái Miếu, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa

Lăng mộ tại Lam Kinh
Lam Kinh là nơi an táng 6 vị vua và 2 Hoàng Thái hậu.
Hiện nay còn lại 5 mộ vua và 1 bà Hoàng Thái hậu: Lăng vua Lê Thái Tổ (còn gọi là Vĩnh Lăng); Lăng vua Lê Thái Tông (Hựu Lăng); Lăng vua Lê Thánh Tông (Chiêu Lăng); Lăng Lê Hiến Tông (Dụ Lăng); Lăng Lê Túc Tông (Kính Lăng) và lăng mộ Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (mẹ vua Lê Thánh Tông, Lăng Khôn Nguyên).
Hai ngôi mộ chưa tìm thấy là lăng mộ vua Lê Nhân Tông và lăng Hoàng Thái hậu Nguyễn Ngọc Huyên.
Mỗi khu lăng mộ có diện tích khoảng 400m2 và đều có một nhà bia.
Các nhà bia tại Lam Kinh đều được dựng phục dựng lại những năm gần đây.
5 trong 6 tấm bia trong các nhà bia tại Khu lăng mộ nhà Hậu Lê tại Lam Kinh được công nhận là Bảo vật quốc gia; tấm bia còn lại (tại Hựu Lăng) hiện không còn.   

Vĩnh Lăng
Vĩnh Lăng là lăng vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) nằm phía sau Thái miếu, cách khoảng 60m.
Khu vực Lăng được giới hạn bởi một hàng 4 trụ biểu, tạo thành tam quan vào Lăng, như tại các công trình đình đền truyền thống.
Trước Lăng có hai hàng tượng quan hầu và linh vật bằng đá (2 nghê, 2 ngựa, 2 tê giác, 2 hổ). Giữa hai hàng tượng là một lối vào lăng mộ rộng 2,3m.

Lăng mộ đắp đất hình lập phương, xung quanh xây chèn bằng đá ở bên ngoài, có kích thước mặt bằng 4,4m x 4,4m, cao 1m. Lăng không có mái che. Mặt trên lăng mộ để cỏ mọc.

Nhà bia Vĩnh Lăng được dựng cách lăng 300m, ở Tây Nam Thành nội Lam Kinh.
Nhà bia có mặt bằng gần vuông, mỗi cạnh là 8,8m với 16 cột đỡ mái 2 tầng, 8 mái. Xung quanh Nhà bia còn có nhiều tượng rồng tạc bằng đá với hình thức độc đáo.
Bia bằng đá nguyên khối cao 2,97m, rộng1,94m, dày 0,27m; đặt trên lưng một con rùa lớn bằng đá với chiều dài 3,46m; rộng 1,9m; cao 0,94m kể cả đế. Nghệ thuật trang trí trên mặt bia tinh xảo. Văn bia do Nguyễn Trãi soạn, ca ngợi công lao của vua Lê Thái Tổ.
 


Lối vào Vĩnh Lăng (Lăng Lê Lợi), Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Hàng tượng quan hầu và linh vật phía trước mộ, tại Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Mộ vua Lê Thái Tổ tại Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Phối cảnh Nhà bia Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Hựu Lăng
Hựu Lăng là lăng mộ vua Lê Thái Tông (hoàng đế thứ 2 triều Hậu Lê, trị vì năm 1433- 1442).

Hựu Lăng ở bên trái, cách Vĩnh Lăng khoảng 800m và nằm trên một gò thuộc núi Phú Lâm, xã Xuân Lâm, huyện Thọ Xuân.

Nhà bia Hựu Lăng được dựng cách lăng khoảng 20m. Hiện nay, bia đã bị mất, chỉ còn lại rùa đá nằm nguyên ở vị trí ban đầu.  

Chiêu Lăng
Chiêu Lăng là lăng mộ vua Lê Thánh Tông (hoàng đế thứ 5 của triều Hậu Lê, trị vì 1460- 1497), nằm phía bên trái điện Lam Kinh, thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân.
Cách bố cục mặt bằng và những hiện vật tại Chiêu Lăng đều giống Vĩnh lăng (Lăng Lê Thái Tổ), nhưng kích thước nhỏ hơn, chung quanh không có tường bao.
Phía trước mộ có các tượng quan hầu, tê giác, ngựa, lân và voi. Nét chạm khắc được cho là tỉ mỉ và trau chuốt hơn so với tượng tại Vĩnh Lăng.

Nhà bia Chiêu Lăng, nằm cách lăng khá xa, kích thước gần như nhà bia Vĩnh lăng, cao 2,80m, rộng 1,90m, dày 0,27m.
Bia được tạo dựng năm 1498, cùng với thời điểm xây dựng lăng. Trên mặt bia có nhiều trang trí, song không tinh xảo bằng bia Vĩnh Lăng. Bia Chiêu Lăng khắc chữ Hán cả hai mặt. Mặt trước tên bia được chạm theo lối chữ Triện gồm 7 chữ: Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng Bi. Nội dung văn bia nói về thân thế, sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông. Mặt sau bia còn khắc một bài thơ của vua Lê Hiến Tông (hoàng đế thứ 6 triều Hậu Lê, trị vì từ năm 1479- 1504) và 35 bài thơ của các văn thần, danh nho nổi tiếng thời bấy giờ ca ngợi công đức của vua Lê Thánh Tông.
 


Mộ vua Lê Thánh Tông tại Chiêu Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Nhà bia Chiêu Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Chiêu Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Dụ Lăng
Dụ Lăng là lăng mộ vụa Lê Hiến Tông (hoàng đế thứ 6 triều Hậu Lê, trị vì 1497 – 1504).
Dụ Lăng nằm cách Vĩnh Lăng gần 300m, trên một thế đất rộng mở. Phía trước Dụ Lăng là 4 trụ biểu tạo thành tam quan. Phía trước mộ là các tượng quan hầu và tê giác, ngựa, lân, voi.

Nhà bia Dụ Lăng dựng trên một gò núi cách Dụ Lăng 80m về phía Tây Nam. Nhà bia có 4 cột phía trong, 4 cột phía ngoài, 4 mái. Bia là một tấm đá nguyên khối rộng 1,90m, cao 2,78m, dày 27cm; dựng trên lưng một con rùa đá dài 2,64m, rộng 1,83m, cao 67cm.  


Trụ biểu tạo thành Tam quan phía trước Dụ Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Nhà bia Dụ Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Kính Lăng
Kính Lăng là lăng mộ vua Lê Túc Tông (hoàng đế thứ 7 triều Hậu Lê, trị vì 1504 -1505).
Kính Lăng được xây dựng trên đỉnh núi Hổ, cách Vĩnh Lăng 4km về phía Đông Bắc.
Lăng xây theo hướng Nam chếch Đông với các tượng quan hầu và các con giống sắp đặt như ở Dụ Lăng.

Nhà bia Kính Lăng được dựng vào năm 1505, trên một mảnh đất bằng cách Kính Lăng 300m về phía Đông Nam. Bia làm bằng đá nguyên khối, rộng 1,90m, cao 2,64m, dày 30cm, được đặt trên lưng một con rùa đá dài 3,35m, rộng 2,05m, cao 43cm.


Nhà bia Kính Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Kính Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Lăng Khôn Nguyên Chí Đức
Lăng Khôn Nguyên Chí Đức là lăng mộ của Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao (1421- 1496, phi tần của vua Lê Thái Tông, mẹ đẻ của vua Lê Thánh Tông, triều Hậu Lê). Lăng được xây ở một khu đất thấp phía Đông Vĩnh Lăng 700m, phía Nam Hựu Lăng 100m. Điều khác biệt với lăng vua là tượng quan hầu đặt ở hai bên tả hữu là tượng nữ quan. Tượng con giống cũng tương tự như ở các lăng vua, chỉ khác biệt là đều có thân mập.

Nhà bia lăng Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao cách Lăng Khôn Nguyên Chí Đức khoảng 150m.
Bia làm bằng đá nguyên khối cao 2,76m, rộng 1,90m, dày 0,28m, được đặt trên lưng một con rùa đá dài 2,65m, rộng 1,84m, cao 0,69m. Bia hai mặt đều khắc chữ với 36 bài thơ ca ngợi công đức của Hoàng Thái hậu. Bia được dựng vào năm 1498.  


Nhà bia Lăng Khôn Nguyên Chí Đức, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Lăng Khôn Nguyên Chí Đức, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Đền thờ tại Lam Kinh
Lam Kinh hiện có hai đền thờ, được được phục hồi tôn tạo năm 1997: Đền thờ Lê Thái Tổ (Lê Lợi) tại xã Xuân Lam và đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai tại xã Kiên Thọ – Ngọc Lặc, cách di tích Lam Kinh 5km về phía Bắc.  

Đền thờ Lê Lợi
Đền thờ Lê Lợi nằm cách Thành nội Lam Kinh 150m về phía Đông Nam.
Năm 1996, đền được tôn tạo theo kiến trúc đền truyền thống, gồm: Nghi môn ngoại, Nghi môn nội, Tiền đường, Trung đường và Hậu cung….
Nghi môn ngoại nằm tại phía Tây của đền, gồm 4 trụ biểu xây gạch theo kiểu truyền thống: Hai trụ biểu tại giữa cao, đỉnh trụ trang trí tứ phượng; Hai trụ biểu hai bên thấp, đỉnh trụ trang trí con nghê chầu. 4 thân trụ biểu phía  trên trang trí các ô lồng đèn, phía dưới trang trí câu đối, đế thắt dạng cổ bồng. 
Nghi môn nội hướng về phía Nam. Phía trước là hồ nước hình chữ nhật thả sen. Nghi môn nội tạo thành tam quan. Khối chính giữa là một tòa cổng với mái 2 tầng, 8 mái. Hai bên có hai trụ biểu với đỉnh trụ trang trí con nghê chầu. Giữa trụ biểu và khối tòa cổng là một cổng vòm tường.
Sau Nghi môn nội là sân đền và Điện thờ gồm 3 tòa: Tiền đường, Trung đường và Hậu cung. Tiền đường và Trung đường được nối với nhau bởi tòa Thiêu hương (ống muống) tạo thành hình “chữ công” hay chữ H.
Kết cấu của đền là khung gỗ lim.  


Nghi môn ngoại, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Nghi môn nội, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Hồ sen trước Nghi môn nội, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Tòa Tiền đường, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Ban thờ bên trong Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Đền thờ Lê Lai
Đền thờ Lê Lai (Trung Túc Vương Lê Lai, một vị Khai quốc công thần của triều Hậu Lê, năm 1355 -1419), thuộc địa bàn xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, cách Khu di tích Lam Kinh 6km về phía Tây Bắc.
Vào thế kỷ 15, tương truyền rằng một lần Lê Lợi đi chiêu binh qua dòng suối trước làng, vì nóng quá xuống rửa chân thì tép bám đầy chân. Vì vậy, Lê Lợi đặt tên là làng Tép. Làng Tép ngày nay là một bản nhỏ của xã Kiên Thọ, dân tộc Mường chiếm 80% dân số. Đây là nơi sinh ra Lê Lai, một tấm gương về sả thân cứu chúa.
Lê Lai được sử gia miêu tả là có tính cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt.
Năm 1416, tại hội thề Lũng Nhai, Lê Lai là người đứng thứ 2 sau Lê Lợi.
Năm 1419, khi nghĩa quân bị giặc Minh vây hãm trên núi Chí Linh, tình hình cấp bách, Lê Lai phải đổi áo bào cho Lê Lợi, liều mình cưỡi voi xông ra phá vòng vây và bị giặc bắt. Quân Minh, sau khi chém Lê Lai (nghĩ là Lê Lợi), liền thu quân.
Lê Lợi thoát khỏi vòng vây, phục dựng quân đội và đánh đuổi quân Minh, thu lại giang sơn.
Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) mất ngày 22 tháng 8 âm lịch, năm 1433, trước khi mất có dặn lại đời sau phải làm giỗ Lê Lai trước một ngày, tức là ngày 21 tháng 8. Từ đó dân gian truyền lại câu: 21 Lê Lai, 22 Lê Lợi.
Các sử gia đời sau cho rằng: Vua nhà Lê (Lê Lợi) có tài, lại có bề tôi trung liệt (Lê Lai) thì làm gì mà chẳng làm nên nghiệp lớn ngàn năm.
Đền thờ Phúc Quốc công Lê Lai còn có tên gọi là đền Tép, hay đền ở làng Tép. Đền được xây dựng vào năm 1450, được trùng tu vào năm 1939. Năm 1971, 1997 đền được trung tu có diện mạo như ngày nay.
Đền thờ Lê Lai nằm trong khuôn viên rộng 828m2, có tường bao quanh.
Đền hướng về phía Đông Nam. Trước đền là một hồ bán nguyệt.
Quần thể đền gồm: Nghi môn, Tiền đường, Hậu cung và đền Mẫu.
Nghi môn là một tam quan. Tòa giữa cao và lớn, hai bên thấp và nhỏ, có cấu trúc xây dựng giống nhau gồm một bức tường với các trụ tường cuốn vòm thành cổng, phía trên là khối mái dạng 4 mái.
Tiền đường được trùng tu vào năm 1997, trên nền móng cũ xưa, dài 12m, rộng 9,5m, gồm 3 gian, 2 dĩ, mái 2 tầng, 8 mái. Kết cấu gỗ bên trong theo kiểu chồng rường, giá chiêng truyền thống. Bên trong, các cấu kiện gỗ được chạm khắc hình tượng mây, sóng nước, hoa lá. Năm 2013, Tiền đường bị hỏa hoạn, ngay sau đó đã được phục dựng.
Hậu cung là một tòa nhà nằm dọc so với Tiền đường,. Công trình được trùng tu lần cuối vào năm 1944. Kiến trúc hậu cung là “Thượng sàng hạ mộ” (dưới là mộ, trên là ban thờ).
Phần móng nhà tương đương với phần mộ Lê Lai. Phần nhà bên trên dài 9,5m, rộng 9m, gồm 3 gian, 4 mái.
Ban thờ bên trong xây gạch theo hình vòm cuốn, trên đặt tượng Lê Lai tạc bằng gỗ mít ngồi trong ngai, chân đặt lên 2 con sư tử. Phía trên ban thờ là bức đại tự “Thiên cổ anh linh”.
Đền Mẫu nằm bên cạnh Hậu cung, là nơi thờ Đức bà A Thiện, vợ Lê Lai. Đền hướng về Nam, có kiến trúc hình “chữ đinh” hay chữ T. Tòa Tiền đường 3 gian, phía trước xây vòm cuốn với các trang trí lưỡng long chầu nguyệt, rồng bay phượng múa, xen lẫn các họa tiết vân mây sóng nước. Bên đầu hồi đắp nổi hình hổ phù. Hậu cung phía sau là nơi đặt ban thờ Đức bà.  


Nghi môn Đền thờ Lê Lai, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Tòa Tiền đường, Đền thờ Lê Lai, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Hậu cung Đền thờ Lê Lai; phía dưới là lăng mộ Lê Lai; Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa



Đền Mẫu thờ Đức bà A Thiện, vợ Lê Lai, thuộc Đền thờ Lê Lai, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Khu di tích Lam Kinh, huyện Thọ Sơn, tỉnh Thanh Hóa với các công trình Thành nội, Lăng, Đền là địa điểm mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa thiêng liêng, gắn liền với nơi sinh Anh hùng dân tộc Việt Nam Lê Lợi, nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và sự ra đời của triều đại Hậu Lê nước Đại Việt kéo dài gần 360 năm. Các công trình trong Khu di tích lịch sử Lam Kinh có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật thời Hậu Lê, thế kỷ 15- 18. 

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD 
Nguồn : 

https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_t%C3%ADch_qu%E1%BB%91c_gia_%C4%91%E1%
BA%B7c_bi%E1%BB%87t
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lam_Kinh
http://www.ditichlamkinh.vn/vi/gioi-thieu-ve-khu-di-tich-lam-kinh-
367faa79216f5876b616a2ff6a7d4d5b.html

http://vietlandmarks.com/module/groups/action/view/id/972
http://www.ditichlamkinh.vn/m/vi/cac-di-tich-ve-tinh-1-
6A7C1F2CBBF15697A798F689A795EA18.html

Xem các bài viết về chùa Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về đình, đền Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về Di sản văn hóa thế giới tại đây


Cập nhật ( 08/03/2020 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:
“ Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ.”
 
Trí thức trẻ là người tốt nghiệp đại học, tuổi từ 39 trở xuống. Do thu nhập sau ra trường hạn hẹp, thị trường nhà ở giá rẻ khan hiếm, nên điều kiện về an cư để lạc nghiệp còn khó khăn. Các bạn trí thức trẻ ước muốn gì về nơi ở của riêng mình (không phải do thừa kế, đi thuê):
 
 
 
Trong thời đại CMCN 4.0, Chuyển đổi số không còn là điều tốt đẹp nên có, mà là điều bắt buộc đối với tất cả tổ chức và doanh nghiệp, gắn với Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số. Trong bối cảnh đô thị hóa, ngành XD có vai trò tiên phong trong Chuyển đổi số đế nâng cao năng lực cạnh tranh. Người ta còn cho rằng "QH đô thị là bệ phóng cho Chuyển đổi số". Lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp XD phải chấp nhận và thích ứng dần với quá trình Chuyển đổi số. Các bạn SV, cựu SV trong lĩnh vực XD - Công dân kỹ thuật số trong tương lai, nghĩ gì về nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực Chuyển đổi số trong cơ sở đào tạo ĐH:
 
 
Thông báo
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K65
+ Kế hoạch "Thực tập cán bộ kĩ thuật đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Danh sách lớp nguyện vọng - Học kì 2 (2023-2024)
+ Nhiệm vụ thiết kế "Đồ án Kiến trúc 5 - K66" (2023-2024)
+ Phân công giảng dạy Bộ môn KTCN, Học kỳ 2, Năm học 2023 – 2024
+ Phân công giảng dạy HK3 (2023 - 2024)
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K64
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K64

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com