Tuần 44 - Ngày 05/06/2020
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Khu di tích lịch sử Lam Kinh, Thanh Hóa, Việt Nam
08/03/2020

Thông tin chung: 
Công trình: Đền, miếu tại Khu di tích lịch sử Lam Kinh
Địa điểm: xã Xuân Lam, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân và xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Thiết kế kiến trúc:  
Quy mô: 
Thời gian hình thành: Thế kỷ 15
Giá trị: Di tích quốc gia đặc biệt (Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật, năm 2013) 

Sau 10 năm lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn (năm 1418 - 1428) đánh đuổi giặc nhà Minh, Lê Lợi lên ngôi vua  nước Đại Việt, hiệu là Lê Thái Tổ, trị vì từ năm 1428 đến năm 1433, đóng đô ở Đông Kinh (Thăng Long). Ông được coi là vị hoàng đế huyền thoại về tài năng quân sự, khả năng cai trị và lòng nhân ái đối với cả kẻ thù. 

Năm 1430, Lê Thái Tổ cho đổi vùng đất Lam Sơn, quê hương ông, thành Lam Kinh hay Tây Kinh để phân biệt với Đông Kinh - Hà Nội. Lam Kinh trở thành vùng đất cốt lõi của nước Đại Việt thời Lê.
Năm 1433, sau khi mất, vua Lê Thái Tổ được đem về an táng ở quê nhà Lam Kinh. Các điện, miếu nhà Hậu Lê cũng bắt đầu được xây dựng tại đây.

Năm 1448, vua Lê Nhân Tông (hoàng đế thứ 3 triều Hậu Lê, trị vì năm 1442 – 1459) xuống chiếu cho làm lại điện, miếu Lam Kinh, trong đó có cung điện Lam Kinh với chức năng là hành cung của các vua chúa nhà Hậu Lê mỗi lần về lễ bái tổ tiên.
Năm 1456, trong dịp hành lễ ở Lam Kinh, vua Lê Nhân Tông đã đặt tên cho 3 toà của Chính điện Lam Kinh là Quang Đức, Sùng Hiếu, Diễn Khánh với các triết lý theo như tên gọi các tòa cung điện tại kinh thành Thăng Long.
Kết quả khảo cổ và dấu tích còn lại cho thấy di lích Lam Kinh gồm: Thành ngoại được giới hạn bởi La thành và Thành nội; Bên trong Thành nội đã từng tồn tại Ngọ môn, Sân rồng, Chính điện, Thái miếu... nguy nga tráng lệ.
Năm 2008, một số đoạn của La thành phía Đông và phía Tây cầu Bạch đã được khôi phục (với tổng chiều dài 21m). 

Khu di tích lịch sử Lam Kinh có tổng diện tích là 141ha, nằm trên xã Xuân Lam, thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân và xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
Khu di tích lịch sử Lam Kinh gồm 50 hạng mục công trình chính, trong đó có: Thành nội, Lăng, Đền, Miếu… 


Sơ đồ vị trí Thành nội Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Phối cảnh khu vực Thành nôi Lam Kinh, Thanh Hóa

Thành nội Lam Kinh
Thành nội Lam Kinh xây dựng theo trục Bắc - Nam trên một khoảng đồi gò, phía Bắc dựa vào núi Dầu, phía Nam nhìn ra sông Chu, xa là núi Chúa làm tiền án, bên trái là rừng Phú Lâm, bên phải là núi Hương.
Phía trước Thành nội là một con sông đào, có tên là sông Ngọc. Sông bắt nguồn từ sông Chu và hồ nước phía Tây, chạy vòng qua trước thành. Theo sách xưa, nước sông trong veo, đáy sông có nhiều sỏi tròn trông rất đẹp. Trên sông bắc cầu Tiên Loan Kiều, còn có tên Cầu Bạch. Cầu có hình cánh cung, trên cầu có nhà, theo kiểu trên "Thượng gia hạ kiều" (trên là nhà, dưới là cầu).
Thành nội có mặt bằng hình chữ nhật, dài 314m, rộng 254m, diện tích khoảng 8ha. Xung quanh 4 mặt là hệ thống thành, hiện chỉ còn tàn tích móng dày 1,08m. Thành phía Bắc hình cánh cung.
Bên trong Thành nội, từ ngoài vào trong phân thành 3 lớp không gian với bệ nền cao dần lên. Lớp không gian thứ nhất có Giếng cổ, Nghi môn, Sân chầu; Lớp không gian thứ hai bố trí Chính điện; Lớp không gian thứ ba bố trí Thái miếu. 


Sông Ngọc trước Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa
 


Tiên Loan Kiều trên sông Ngọc trước Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa; xưa kia phía trên cầu có nhà
 

Giếng cổ, Nghi môn, Sân Chầu.
Giếng cổ là công trình thuộc lớp không gian thứ nhất, nằm phía trước Nghi môn khoảng 10m, lệch về bên trái.  Tương truyền, giếng có từ thời cụ Lê Hối (cụ nội của Lê Lợi). Để tạo thành giếng, người xưa đã cho đắp ngăn đoạn suối chảy từ Tây sang Đông Nam để lấy nước sinh hoạt cho hàng nghìn người trong gia tộc. Năm 2003, giếng được tôn tạo với đường kính khoảng 35m, kè đá xung quanh. Giếng sâu 7,5m, mực nước dao động ở mức 3,5 - 4m.

Nghi môn Thành nội Lam Kinh đặt trên một nền rộng 11m, dài 14,1m, được phục dựng năm 2009, trên nền móng kiến trúc thời Lê Trung Hưng. Công trình gồm 3 gian, 4 mái. Bước gian giữa rộng 4,6m, bước gian hai bên rộng 3,5m. Cột bên trong Ngọ môn rất lớn, đường kính chân tảng đo được 78cm. Trước Nghi môn có hai con nghê bằng đá đứng chầu.

Sân Chầu hay sân Rồng có diện tích lớn, khoảng 3612m2 với chiều dài 64,5m, chiều rộng 56m. Hai đầu sân là tòa Tả vu và Hữu vu. Sân là nơi để các quan chầu khi vua thiết triều và tế lễ. Sân Rồng được phục hồi năm 2008, nền lát gạch, lối giữa sân lát đá đục nhám. Bên phải sân có một cây đa cổ hàng trăm năm tuổi.  


Giếng cổ bên trong Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa


Nghi môn với cây đa cổ, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa; phía sau là sân Rồng


Nghê đá phía trước Nghi môn Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa

Chính điện
Chính điện thuộc lớp không gian thứ hai, đặt trên một bệ nền cao 1,8m so với mặt sân Rồng. Đây là nơi các vua nhà Hậu Lê tổ chức gặp gỡ quan chức địa phương mỗi khi hành hương.

Từ sân Rồng lên Chính điện có một bậc thang rộng 5m với 9 bậc (cửu trùng) và 3 lối lên. Lối giữa rộng 1,8m, hai bên mỗi lối rộng 1,2m. Giữa các lối đi là lan can đá. Lan can hai bên bậc chính là hình tượng rồng uốn khúc. Trên thân rồng khắc hoa văn hình ngọn lửa; đầu rồng có bờm; mép rồng trang trí râu xoắn; dưới cằm có râu dài xoắn hình vặn thừng; tay rồng nắm gọn phần dưới râu, đặt trên một viên ngọc (hình tượng này được gọi là Long hí châu - rồng giỡn ngọc trai). Hai lan can ngoài cùng chạm hình mây cuộn.
Chính điện có bố cục hình chữ "công" hay chữ H, tạo thành 3 tòa: Tiền điện (có tên là điện Quang Đức), Trung điện (điện đặt dọc, có tên là điện Sùng Hiếu) và Hậu điện (có tên là điện Diên Khánh). Đây được cho là mô hình mẫu mực của các công trình hoàng cung thời bấy giờ.
Hai điện Quang Đức và Diên Khánh có cấu trúc xây dựng giống nhau gồm 7 gian, 2 dĩ. Điện Sùng Hiếu 5 gian. Tổng diện tích của Chính điện khoảng 1640m2.
Chính điện được xây dựng, cải tạo theo nhiều giai đoạn. Kiến trúc hiện nay thuộc thời Lê Trung Hưng (năm 15331789), được xây dựng trên nền của tòa nhà đã được xây dựng vào thời Lê Sơ (năm 14281527). 



Điện Quang Đức hay Tiền điện, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa


Mặt bên điện
Sùng Hiếu (Trung điện), nối điện Quang Đức (Tiền điện) với điện Diên Khánh (Hậu điện), Thành nội, Lam Kinh, Thanh Hóa

Thái miếu
Thái Miếu thuộc lớp không gian thứ ba, đặt trên một bệ nền cao hơn từ 0,4m - 1m so với nền của Chính điện.
Lớp không gian này kéo dài khoảng 135m theo hình bán nguyệt, ôm lấy tòa Chính điện.
Thái Miếu gồm 9 tòa nhà. Mỗi tòa có mặt bằng hình chữ nhật, tương đối giống nhau, dài từ 13,5m đến 16m, rộng từ 10,4m đến 12,9m, gồm 3 gian, 2 dĩ, 4 mái. Có tòa tường mặt trước lùi vào phía trong tạo thành hàng hiên.
Đây là nơi các vua nhà Hậu Lê và hoàng gia tổ chức lễ bái yết và suy tôn tổ tiên.
Tòa 5 (chính giữa) có nền cao nhất, thấp dần về hai bên. Mỗi toà đều có bậc lên xuống, lan can được tạc hình rồng và trang trí hoa lá tinh xảo.
Toà chính giữa thờ 3 vị: Thái tổ Cao hoàng đế (Lê Lợi), Hiển tổ Trạch hoàng đế (Lê Đinh, ông nội của Lê Lợi), Tuyên tổ Phúc hoàng đế (Lê Khoáng, cha của Lê Lợi). 8 tòa còn lại thờ các vị vua Lê đời sau.  


Bậc đá từ khu vực Chính điện lên khu vực Thái miếu, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa




Phối cảnh khu vực Thái Miếu, Thành nội Lam Kinh, Thanh Hóa

Lăng mộ tại Lam Kinh
Lam Kinh là nơi an táng 6 vị vua và 2 Hoàng Thái hậu.
Hiện nay còn lại 5 mộ vua và 1 bà Hoàng Thái hậu: Lăng vua Lê Thái Tổ (còn gọi là Vĩnh Lăng); Lăng vua Lê Thái Tông (Hựu Lăng); Lăng vua Lê Thánh Tông (Chiêu Lăng); Lăng Lê Hiến Tông (Dụ Lăng); Lăng Lê Túc Tông (Kính Lăng) và lăng mộ Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao (mẹ vua Lê Thánh Tông, Lăng Khôn Nguyên).
Hai ngôi mộ chưa tìm thấy là lăng mộ vua Lê Nhân Tông và lăng Hoàng Thái hậu Nguyễn Ngọc Huyên.
Mỗi khu lăng mộ có diện tích khoảng 400m2 và đều có một nhà bia.
Các nhà bia tại Lam Kinh đều được dựng phục dựng lại những năm gần đây.
5 trong 6 tấm bia trong các nhà bia tại Khu lăng mộ nhà Hậu Lê tại Lam Kinh được công nhận là Bảo vật quốc gia; tấm bia còn lại (tại Hựu Lăng) hiện không còn.   

Vĩnh Lăng
Vĩnh Lăng là lăng vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) nằm phía sau Thái miếu, cách khoảng 60m.
Khu vực Lăng được giới hạn bởi một hàng 4 trụ biểu, tạo thành tam quan vào Lăng, như tại các công trình đình đền truyền thống.
Trước Lăng có hai hàng tượng quan hầu và linh vật bằng đá (2 nghê, 2 ngựa, 2 tê giác, 2 hổ). Giữa hai hàng tượng là một lối vào lăng mộ rộng 2,3m.

Lăng mộ đắp đất hình lập phương, xung quanh xây chèn bằng đá ở bên ngoài, có kích thước mặt bằng 4,4m x 4,4m, cao 1m. Lăng không có mái che. Mặt trên lăng mộ để cỏ mọc.

Nhà bia Vĩnh Lăng được dựng cách lăng 300m, ở Tây Nam Thành nội Lam Kinh.
Nhà bia có mặt bằng gần vuông, mỗi cạnh là 8,8m với 16 cột đỡ mái 2 tầng, 8 mái. Xung quanh Nhà bia còn có nhiều tượng rồng tạc bằng đá với hình thức độc đáo.
Bia bằng đá nguyên khối cao 2,97m, rộng1,94m, dày 0,27m; đặt trên lưng một con rùa lớn bằng đá với chiều dài 3,46m; rộng 1,9m; cao 0,94m kể cả đế. Nghệ thuật trang trí trên mặt bia tinh xảo. Văn bia do Nguyễn Trãi soạn, ca ngợi công lao của vua Lê Thái Tổ.
 


Lối vào Vĩnh Lăng (Lăng Lê Lợi), Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Hàng tượng quan hầu và linh vật phía trước mộ, tại Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Mộ vua Lê Thái Tổ tại Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Phối cảnh Nhà bia Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Vĩnh Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Hựu Lăng
Hựu Lăng là lăng mộ vua Lê Thái Tông (hoàng đế thứ 2 triều Hậu Lê, trị vì năm 1433- 1442).

Hựu Lăng ở bên trái, cách Vĩnh Lăng khoảng 800m và nằm trên một gò thuộc núi Phú Lâm, xã Xuân Lâm, huyện Thọ Xuân.

Nhà bia Hựu Lăng được dựng cách lăng khoảng 20m. Hiện nay, bia đã bị mất, chỉ còn lại rùa đá nằm nguyên ở vị trí ban đầu.  

Chiêu Lăng
Chiêu Lăng là lăng mộ vua Lê Thánh Tông (hoàng đế thứ 5 của triều Hậu Lê, trị vì 1460- 1497), nằm phía bên trái điện Lam Kinh, thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân.
Cách bố cục mặt bằng và những hiện vật tại Chiêu Lăng đều giống Vĩnh lăng (Lăng Lê Thái Tổ), nhưng kích thước nhỏ hơn, chung quanh không có tường bao.
Phía trước mộ có các tượng quan hầu, tê giác, ngựa, lân và voi. Nét chạm khắc được cho là tỉ mỉ và trau chuốt hơn so với tượng tại Vĩnh Lăng.

Nhà bia Chiêu Lăng, nằm cách lăng khá xa, kích thước gần như nhà bia Vĩnh lăng, cao 2,80m, rộng 1,90m, dày 0,27m.
Bia được tạo dựng năm 1498, cùng với thời điểm xây dựng lăng. Trên mặt bia có nhiều trang trí, song không tinh xảo bằng bia Vĩnh Lăng. Bia Chiêu Lăng khắc chữ Hán cả hai mặt. Mặt trước tên bia được chạm theo lối chữ Triện gồm 7 chữ: Đại Việt Lam Sơn Chiêu Lăng Bi. Nội dung văn bia nói về thân thế, sự nghiệp của vua Lê Thánh Tông. Mặt sau bia còn khắc một bài thơ của vua Lê Hiến Tông (hoàng đế thứ 6 triều Hậu Lê, trị vì từ năm 1479- 1504) và 35 bài thơ của các văn thần, danh nho nổi tiếng thời bấy giờ ca ngợi công đức của vua Lê Thánh Tông.
 


Mộ vua Lê Thánh Tông tại Chiêu Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Nhà bia Chiêu Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Chiêu Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Dụ Lăng
Dụ Lăng là lăng mộ vụa Lê Hiến Tông (hoàng đế thứ 6 triều Hậu Lê, trị vì 1497 – 1504).
Dụ Lăng nằm cách Vĩnh Lăng gần 300m, trên một thế đất rộng mở. Phía trước Dụ Lăng là 4 trụ biểu tạo thành tam quan. Phía trước mộ là các tượng quan hầu và tê giác, ngựa, lân, voi.

Nhà bia Dụ Lăng dựng trên một gò núi cách Dụ Lăng 80m về phía Tây Nam. Nhà bia có 4 cột phía trong, 4 cột phía ngoài, 4 mái. Bia là một tấm đá nguyên khối rộng 1,90m, cao 2,78m, dày 27cm; dựng trên lưng một con rùa đá dài 2,64m, rộng 1,83m, cao 67cm.  


Trụ biểu tạo thành Tam quan phía trước Dụ Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Nhà bia Dụ Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Kính Lăng
Kính Lăng là lăng mộ vua Lê Túc Tông (hoàng đế thứ 7 triều Hậu Lê, trị vì 1504 -1505).
Kính Lăng được xây dựng trên đỉnh núi Hổ, cách Vĩnh Lăng 4km về phía Đông Bắc.
Lăng xây theo hướng Nam chếch Đông với các tượng quan hầu và các con giống sắp đặt như ở Dụ Lăng.

Nhà bia Kính Lăng được dựng vào năm 1505, trên một mảnh đất bằng cách Kính Lăng 300m về phía Đông Nam. Bia làm bằng đá nguyên khối, rộng 1,90m, cao 2,64m, dày 30cm, được đặt trên lưng một con rùa đá dài 3,35m, rộng 2,05m, cao 43cm.


Nhà bia Kính Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Kính Lăng, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Lăng Khôn Nguyên Chí Đức
Lăng Khôn Nguyên Chí Đức là lăng mộ của Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao (1421- 1496, phi tần của vua Lê Thái Tông, mẹ đẻ của vua Lê Thánh Tông, triều Hậu Lê). Lăng được xây ở một khu đất thấp phía Đông Vĩnh Lăng 700m, phía Nam Hựu Lăng 100m. Điều khác biệt với lăng vua là tượng quan hầu đặt ở hai bên tả hữu là tượng nữ quan. Tượng con giống cũng tương tự như ở các lăng vua, chỉ khác biệt là đều có thân mập.

Nhà bia lăng Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao cách Lăng Khôn Nguyên Chí Đức khoảng 150m.
Bia làm bằng đá nguyên khối cao 2,76m, rộng 1,90m, dày 0,28m, được đặt trên lưng một con rùa đá dài 2,65m, rộng 1,84m, cao 0,69m. Bia hai mặt đều khắc chữ với 36 bài thơ ca ngợi công đức của Hoàng Thái hậu. Bia được dựng vào năm 1498.  


Nhà bia Lăng Khôn Nguyên Chí Đức, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Bia Lăng Khôn Nguyên Chí Đức, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Đền thờ tại Lam Kinh
Lam Kinh hiện có hai đền thờ, được được phục hồi tôn tạo năm 1997: Đền thờ Lê Thái Tổ (Lê Lợi) tại xã Xuân Lam và đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai tại xã Kiên Thọ – Ngọc Lặc, cách di tích Lam Kinh 5km về phía Bắc.  

Đền thờ Lê Lợi
Đền thờ Lê Lợi nằm cách Thành nội Lam Kinh 150m về phía Đông Nam.
Năm 1996, đền được tôn tạo theo kiến trúc đền truyền thống, gồm: Nghi môn ngoại, Nghi môn nội, Tiền đường, Trung đường và Hậu cung….
Nghi môn ngoại nằm tại phía Tây của đền, gồm 4 trụ biểu xây gạch theo kiểu truyền thống: Hai trụ biểu tại giữa cao, đỉnh trụ trang trí tứ phượng; Hai trụ biểu hai bên thấp, đỉnh trụ trang trí con nghê chầu. 4 thân trụ biểu phía  trên trang trí các ô lồng đèn, phía dưới trang trí câu đối, đế thắt dạng cổ bồng. 
Nghi môn nội hướng về phía Nam. Phía trước là hồ nước hình chữ nhật thả sen. Nghi môn nội tạo thành tam quan. Khối chính giữa là một tòa cổng với mái 2 tầng, 8 mái. Hai bên có hai trụ biểu với đỉnh trụ trang trí con nghê chầu. Giữa trụ biểu và khối tòa cổng là một cổng vòm tường.
Sau Nghi môn nội là sân đền và Điện thờ gồm 3 tòa: Tiền đường, Trung đường và Hậu cung. Tiền đường và Trung đường được nối với nhau bởi tòa Thiêu hương (ống muống) tạo thành hình “chữ công” hay chữ H.
Kết cấu của đền là khung gỗ lim.  


Nghi môn ngoại, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Nghi môn nội, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Hồ sen trước Nghi môn nội, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Tòa Tiền đường, Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Ban thờ bên trong Đền thờ Lê Lợi, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Đền thờ Lê Lai
Đền thờ Lê Lai (Trung Túc Vương Lê Lai, một vị Khai quốc công thần của triều Hậu Lê, năm 1355 -1419), thuộc địa bàn xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, cách Khu di tích Lam Kinh 6km về phía Tây Bắc.
Vào thế kỷ 15, tương truyền rằng một lần Lê Lợi đi chiêu binh qua dòng suối trước làng, vì nóng quá xuống rửa chân thì tép bám đầy chân. Vì vậy, Lê Lợi đặt tên là làng Tép. Làng Tép ngày nay là một bản nhỏ của xã Kiên Thọ, dân tộc Mường chiếm 80% dân số. Đây là nơi sinh ra Lê Lai, một tấm gương về sả thân cứu chúa.
Lê Lai được sử gia miêu tả là có tính cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt.
Năm 1416, tại hội thề Lũng Nhai, Lê Lai là người đứng thứ 2 sau Lê Lợi.
Năm 1419, khi nghĩa quân bị giặc Minh vây hãm trên núi Chí Linh, tình hình cấp bách, Lê Lai phải đổi áo bào cho Lê Lợi, liều mình cưỡi voi xông ra phá vòng vây và bị giặc bắt. Quân Minh, sau khi chém Lê Lai (nghĩ là Lê Lợi), liền thu quân.
Lê Lợi thoát khỏi vòng vây, phục dựng quân đội và đánh đuổi quân Minh, thu lại giang sơn.
Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) mất ngày 22 tháng 8 âm lịch, năm 1433, trước khi mất có dặn lại đời sau phải làm giỗ Lê Lai trước một ngày, tức là ngày 21 tháng 8. Từ đó dân gian truyền lại câu: 21 Lê Lai, 22 Lê Lợi.
Các sử gia đời sau cho rằng: Vua nhà Lê (Lê Lợi) có tài, lại có bề tôi trung liệt (Lê Lai) thì làm gì mà chẳng làm nên nghiệp lớn ngàn năm.
Đền thờ Phúc Quốc công Lê Lai còn có tên gọi là đền Tép, hay đền ở làng Tép. Đền được xây dựng vào năm 1450, được trùng tu vào năm 1939. Năm 1971, 1997 đền được trung tu có diện mạo như ngày nay.
Đền thờ Lê Lai nằm trong khuôn viên rộng 828m2, có tường bao quanh.
Đền hướng về phía Đông Nam. Trước đền là một hồ bán nguyệt.
Quần thể đền gồm: Nghi môn, Tiền đường, Hậu cung và đền Mẫu.
Nghi môn là một tam quan. Tòa giữa cao và lớn, hai bên thấp và nhỏ, có cấu trúc xây dựng giống nhau gồm một bức tường với các trụ tường cuốn vòm thành cổng, phía trên là khối mái dạng 4 mái.
Tiền đường được trùng tu vào năm 1997, trên nền móng cũ xưa, dài 12m, rộng 9,5m, gồm 3 gian, 2 dĩ, mái 2 tầng, 8 mái. Kết cấu gỗ bên trong theo kiểu chồng rường, giá chiêng truyền thống. Bên trong, các cấu kiện gỗ được chạm khắc hình tượng mây, sóng nước, hoa lá. Năm 2013, Tiền đường bị hỏa hoạn, ngay sau đó đã được phục dựng.
Hậu cung là một tòa nhà nằm dọc so với Tiền đường,. Công trình được trùng tu lần cuối vào năm 1944. Kiến trúc hậu cung là “Thượng sàng hạ mộ” (dưới là mộ, trên là ban thờ).
Phần móng nhà tương đương với phần mộ Lê Lai. Phần nhà bên trên dài 9,5m, rộng 9m, gồm 3 gian, 4 mái.
Ban thờ bên trong xây gạch theo hình vòm cuốn, trên đặt tượng Lê Lai tạc bằng gỗ mít ngồi trong ngai, chân đặt lên 2 con sư tử. Phía trên ban thờ là bức đại tự “Thiên cổ anh linh”.
Đền Mẫu nằm bên cạnh Hậu cung, là nơi thờ Đức bà A Thiện, vợ Lê Lai. Đền hướng về Nam, có kiến trúc hình “chữ đinh” hay chữ T. Tòa Tiền đường 3 gian, phía trước xây vòm cuốn với các trang trí lưỡng long chầu nguyệt, rồng bay phượng múa, xen lẫn các họa tiết vân mây sóng nước. Bên đầu hồi đắp nổi hình hổ phù. Hậu cung phía sau là nơi đặt ban thờ Đức bà.  


Nghi môn Đền thờ Lê Lai, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Tòa Tiền đường, Đền thờ Lê Lai, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa


Hậu cung Đền thờ Lê Lai; phía dưới là lăng mộ Lê Lai; Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa



Đền Mẫu thờ Đức bà A Thiện, vợ Lê Lai, thuộc Đền thờ Lê Lai, Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa

Khu di tích Lam Kinh, huyện Thọ Sơn, tỉnh Thanh Hóa với các công trình Thành nội, Lăng, Đền là địa điểm mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa thiêng liêng, gắn liền với nơi sinh Anh hùng dân tộc Việt Nam Lê Lợi, nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và sự ra đời của triều đại Hậu Lê nước Đại Việt kéo dài gần 360 năm. Các công trình trong Khu di tích lịch sử Lam Kinh có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật thời Hậu Lê, thế kỷ 15- 18. 

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD 
Nguồn : 

https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_t%C3%ADch_qu%E1%BB%91c_gia_%C4%91%E1%
BA%B7c_bi%E1%BB%87t
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lam_Kinh
http://www.ditichlamkinh.vn/vi/gioi-thieu-ve-khu-di-tich-lam-kinh-
367faa79216f5876b616a2ff6a7d4d5b.html

http://vietlandmarks.com/module/groups/action/view/id/972
http://www.ditichlamkinh.vn/m/vi/cac-di-tich-ve-tinh-1-
6A7C1F2CBBF15697A798F689A795EA18.html

Xem các bài viết về chùa Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về đình, đền Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về Di sản văn hóa thế giới tại đây


Cập nhật ( 08/03/2020 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:

“ Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng.”

 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com