Tuần 37 - Ngày 21/04/2019
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
NCKH khác
Thực trạng đời sống CN các KCN ở HN và lân cận: Nhà ở, sinh kế và cộng đồng- Một số kiến nghị
11/02/2019
 

Thực trạng đời sống công nhân các KCN ở Hà Nội và các tỉnh lân cận: Nhà ở, sinh kế và cộng đồng- Một số kiến nghị, đề xuất

Môi trường sống và nhà ở cho người lao động trong các khu công nghiệp là một vấn đề nóng tại các khu vực phát triển nhanh ở Việt Nam. Bài viết này trình bày quan điểm của tác giả về các góc nhìn liên quan đến tình trạng nhà ở, môi trường sống, quan hệ cộng đồng của công nhân tại Khu công nghiệp Thăng Long (Đông Anh, Hà Nội) và các khu công nghiệp lân cận. 

Tóm tắt: Môi trường sống và nhà ở cho người lao động trong các khu công nghiệp là một vấn đề nóng tại các khu vực phát triển nhanh ở Việt Nam. Bài viết này trình bày quan điểm của tác giả về các góc nhìn liên quan đến tình trạng nhà ở, môi trường sống, quan hệ cộng đồng của công nhân tại Khu công nghiệp Thăng Long (Đông Anh, Hà Nội) và các khu công nghiệp lân cận. Tác giả tập trung vào những thách thức và đó là nguyên nhân liên quan đến sinh kế, nhà ở và điều kiện sống của người lao động tại khu công nghiệp. Bài viết đưa ra một số gợi ý về quy hoạch, xây dựng nhà ở, tạo môi trường sống và sinh kế phù hợp với nhu cầu của người lao động trong các khu công nghiệp ở Hà Nội và các khu vực lân cận. Ngoài ra, bài báo cũng chia sẻ một số thông tin và kinh nghiệm của Trường Cao đẳng Kỹ thuật - Kỹ thuật Bắc Thăng Long (BTL) thu được thông qua dự án hỗ trợ lao động nữ di cư do tổ chức Plan International tài trợ. Mục tiêu của dự án là tạo ra công ăn việc làm bền vững và nhà ở an toàn cho lao động nữ di cư đang làm việc tại Khu công nghiệp Thăng Long. Hy vọng rằng thông tin, kinh nghiệm và kiến ​​nghị được chia sẻ trong bài viết sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho hội thảo. 


Khu nhà ở công nhân KCN Bắc Thăng Long, Hà Nội  

Kính thưa hội thảo,  

Phải nói ngay tôi vốn là người không có chuyên môn liên quan đến lĩnh vực kiến trúc – xây dựng. Có lẽ do đặc thù công việc của tôi nhiểu năm nay có nhiều hoạt động gắn bó với cộng đồng dân cư – công nhân KCN Thăng Long (Đông Anh, Hà Nội) nên có ít nhiều hiểu biết về đời sống của CN các KCN ở Hà Nội và các tỉnh lân cận. Nhận lời mời của BTC có mặt trong Hội thảo này, tôi hy vọng có thể cung cấp thêm thông tin thực tiễn góp phần vào sự thành công của hội thảo, nhưng cũng mong được cảm thông bởi cách nhìn của một người ngoại đạo trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng.

Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Thăng Long (BTL) là một cơ sở GDNN công lập được thành lập từ 2002 trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Dạy nghề Bắc Thăng Long. Trung tâm này được xây dựng bởi nguồn tài trợ của KCN Thăng Long (Thanglong Industry Park- TLIP) nhằm mục tiêu đào tạo nghề cho thanh niên địa phương, cung cấp lao động cho các DN thuộc TLIP. BTL là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên ngay từ 2002 nên không hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước cấp mà nguồn thu hoàn toàn từ học phí của người học, các HĐ đào tạo cho DN, nguồn thu dịch vụ - SXKD liên quan đến các ngành nghề đào tạo của trường và các nguồn tài trợ khác. Chiến lược phát triển nhà trường là đào tạo gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của người học, nhu cầu tuyển dụng của DN. Trong nhiều năm, BTL đã vận hành hiệu quả mô hình đào tạo cho CN các KCN, tạo việc làm cho HSSV ngay từ khi nhập học. Qua đó trường đã giúp hơn 12.000 thanh niên trẻ có hoàn cảnh khó khăn có được việc làm tại các KCN đồng thời tiếp cận được các chương trình đào tạo chính quy, VLVH từ bậc TC đến CĐ-ĐH. Chính vì đối tượng đào tạo đặc biệt như vậy nên BTL cũng đã thu hút được một số dự án hỗ trợ từ các NGOs như: WUSC, CACC (Canada): Dự án nâng cao năng lực cơ sở dạy nghề nhằm hỗ trợ thanh niên có hoàn cảnh khó khăn tìm kiếm cơ hội học tập, việc làm và khởi nghiệp thành công; PLAN International: Dự án tạo việc làm bền vững và nơi ở an toàn cho nữ thanh niên nhập cư về Hà Nội. 
Từ những hoạt động thực tiễn trên cùng với quan sát cá nhân, tôi xin được nêu ra một số nhận định về thực trạng đời sống của CN các KCN tại Hà Nội và các tỉnh lân cận:  

1. VỀ SINH KẾ

Chúng ta có thể nhìn qua thực trạng về lao động và việc làm tại các KCN: 
- Hầu hết CN trong các KCN đều làm việc trên các dây chuyền lắp rắp thiết bị. Phần lớn được tuyển dụng với yêu cầu chuyên môn đơn giản: Tốt nghiệp THPT. Chỉ một số ít vị trí quản lý hoặc KTV bảo trì bảo dưỡng thiết bị mới cần LĐ qua đào tạo ở trình độ cao hơn (ĐH, CĐ, TC). Họ chỉ cần trải qua khóa ĐT ngắn và thực hành trực tiếp trên dây chuyền sản xuất dưới dự hướng dẫn của các Leaders là có thể đảm nhiệm công việc với mức lương ban đầu từ hơn 4 triệu đồng/tháng. Điều quan trọng nhất với người CN là ý thức, tác phong lao động công nghiệp: tuân thủ kỷ luật lao động, các quy trình quản lý chất lượng (ISO, 5S…) và các quy định, nội quy khác.
- 70% CN tại KCN Thăng Long (và các KCN lân cận) là nữ. CN nữ luôn được ưu tiên tuyển dụng vì nhiều lý do: chăm chỉ, kiên nhẫn, khéo léo, ít phản kháng…
- Độ tuổi tuyển dụng: 18-23 tuổi.
- Đa số CN tại các KCN là người nhập cư (di cư đến từ các địa phương khác).
- Thời gian làm việc tại các KCN của hầu hết LĐ chỉ khoảng 5-10 năm. Chỉ một số ít được tiếp tục đào tạo và thăng tiến trở thành quản lý, còn hầu hết họ sẽ phải tìm kiếm những cơ hội việc làm khác ngoài KCN do: không chịu được áp lực công việc, bị xa thải, hoặc xin nghỉ việc khi có con nhỏ… Văn phòng đăng ký trợ hưởng cấp thất nghiệp đặt tại chính trường BTL là một trong những điểm đăng ký thụ lý hồ sơ nhiều nhất thành phố.  

Giải quyết việc làm ổn định, bền vững cho CN KCN sau khi mất việc đang ngày càng trở thành một thách thức rất lớn đối với các nhà hoạch định chính sách và với xã hội. Điều này càng trở nên đặc biệt đáng quan tâm trong bối cảnh tác động của Cách mạng 4.0 với sự gia tăng tự động hóa trong các dây chuyền sản xuất nhằm cắt giảm chi phí nhân công (đang ngày một tăng ở VN) và giảm phụ thuộc vào nguồn cung lao động trong nước (hiện nay DN đang rất thiếu lao động – cả lao động phổ thông và lao động qua đào tạo). 
Có thể thấy rõ rằng, việc làm đối với các lao động phổ thông, trình độ tay nghề thấp tại các KCN đang tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ bất ổn định cho chính bản thân họ và cho xã hội. Họ có nguy cơ mất việc cao ở độ tuổi 30-35. Đây lẽ ra là độ tuổi trưởng thành trong nghề nghiệp (với những người lao động làm việc ở những vị trí việc làm đòi hỏi kiến thức, kỹ năng, tay nghề cao). Mất việc ở độ tuổi này không những làm lãng phí năng lực của người lao động mà còn đặt người lao động vào hoản cảnh khó khăn: rất khó học nghề và tìm kiếm nghề mới do năng lực nhận thức, sức khỏe và sức ép gánh nặng tài chính cho gia đình, con cái…
Câu hỏi đặt ra là CN trong các KCN có nhận thức được nguy cơ này với họ không? CÓ – họ và gia đình họ nhận thức được điều đó.
Vậy tại sao họ không chủ động lựa chọn một hướng đi tốt hơn? Tại sao họ không bắt đầu bằng việc học một nghề phù hợp để tìm kiếm việc làm bền vững hơn? Câu trả lời, theo tôi, nằm ở tương quan năng lực cạnh tranh giữa các DN FDI và các DN trong nước. Làm việc cho các DN FDI tại các KCN thì không cần học nghề, có ngay mức lương 4-5 triệu/ tháng (thậm chí thu nhập có thể đạt 5-7 triệu/ tháng); các chế độ về bảo hiểm, khám sức khỏe, môi trường làm việc, danh tiếng của DN… cơ bản đều tốt hơn DN trong nước. Trong khi đó, phải học nghề (1-2 năm) để làm việc cho DN trong nước (hầu hết là các DN nhỏ và vừa, sản xuất – kinh doanh trong một số lĩnh vực ngành nghề cụ thể) với mức lương khởi điểm thấp hơn (3-3,5 triệu/tháng) với nhiều thua thiệt hơn về môi trường làm việc, chế độ phúc lợi, danh tiếng của DN… Tất nhiên sau 10 năm thì thu nhập có thể sẽ cao hơn khi làm cho DN FDI và công việc ổn định hơn, nhưng nếu chúng ta là người mới tốt nghiệp THPT ra trường (với điều kiện kinh tế không mấy khá giả) thì ta sẽ lựa chọn hướng đi nào khi các DN FDI lớn đưa xe đến tận nhà mời chúng ta đi làm?! 
Quay lại vấn đề giải quyết việc làm bền vững cho LĐ sau khi mất việc/ sắp mất việc tại các KCN? Cách nào để đem đến cơ hội học nghề mới cho họ? Cơ hội việc làm nào trong cho họ ở các DN trong nước? Đây là những câu hỏi lớn đạt ra cho chúng ta. Lưu ý rằng, rất nhiều LĐ sau khi nghỉ việc tại KCN đã và đang việc làm trong chuỗi cung ứng các dịch vụ xung quanh các KCN; nhiều người cũng đã nỗ lực học tập để theo đuổi ngành nghề mà họ yêu thích để tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơn (dự án của PLAN tại BTL có nhiều minh chứng cho điều này); Và cũng có không ít người quay về quê hương, tìm lại cơ hội nghề nghiệp trên chính vùng quê của họ. 

2. VỀ NHÀ Ở

Tại KCN Bắc Thăng Long, TP. Hà Nội đã đầu tư ngân sách xây dựng một tổ hợp chung cư phục vụ nhu cầu ở cho CN của TLIP. Và đây là một trong những dự án chung cư cho CN KCN hiếm hoi mà nhà nước đầu tư xây dựng. Ban đầu dự án này có chủ trương xã hội hóa bằng việc dành ra 30% (?) quỹ đất dành cho thương mại đổi lấy 70% (?) quỹ đất xây chung cư, nhưng 2 lần khởi công mà vẫn không triển khai được. Cuối cùng, TP. Hà Nội quyết định đầu tư ngân sách xây dựng và giao cho Cty Nhà HN quản lý, khai thác. 
Về cơ bản, các chung cư này cũng đã được một số công ty thuộc TLIP thuê cho CN ở, nhưng cũng nhiều diện tích hiện nay còn bỏ trống mặc dù giá cho thuê không cao (120.000/ người/ tháng). Nguyên nhân chính là: i) Kết cấu các căn hộ không phù hợp với cuộc sống của các gia đình công nhân: phòng được thiết kế kiểu KTX với sức chứa 6 – 18 – 24 người/ phòng, có gian khách, vệ sinh và bếp dùng chung cho mỗi phòng ở. Kết cấu này không phù hợp với mô hình gia đình nhỏ (3-5 người); ii) Dịch vụ điện, nước, vệ sinh không được tốt do xuống cấp và chậm sửa chữa (cơ chế DN nhà nước, không được giao quyền chủ động); iii) Cơ chế quản lý chưa phù hợp với nhu cầu thực tế…
Theo tôi được biết, sau dự án này, TP. Hà Nội không tiếp tục đầu tư ngân sách xây chung cư cho các KCN nữa. Thay vào đó, Nhà nước khuyến khích các DN FDI dành quỹ đất tự đầu tư chung cư cho CN của mình. 
Một số DN lớn có cách làm thông minh hơn như Samsung. Ban đầu, họ cũng xây một khu chung cư cho CN (không lớn lắm tính theo quy mô lao động) tại Bắc Ninh. Sau này, khi nhu cầu tuyển dụng LĐ gia tăng rất lớn, họ xây dựng hệ thống xe bus đưa đón CN với số lượng hàng ngàn xe chạy khắp các tỉnh lân cận 2 nhà máy lớn ở Bắc Ninh, Thái Nguyên để dễ dàng tuyển dụng thêm rất nhiều lao động từ các địa phương khác về làm việc (mà không phải di cư à không phải xây thêm chung cư). Chi phí đi lại được công ty đài thọ. 
Xung quanh KCN Thăng Long và các KCN lân cận khác đã từ lâu hình thành dịch vụ cho thuê nhà được cung cấp bởi người dân địa phương (trước cả các dự án chung cư cho CN các KCN do nhà nước/ DN đầu tư). Về cơ bản, hiện nay dịch vụ này đã đáp ứng đủ nhu cầu thuê nhà của CN các KCN. Tuy nhiên mô hình này cũng có nhiều bất cập như: thiếu quy chuẩn trong xây dựng ảnh hưởng lớn đến quy hoạch dân cư nông thôn (sắp tới cũng trở thành đô thị); nhiều khu trọ không gian sinh hoạt chật hẹp, chưa đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn cháy nổ; giá cả, chất lượng các dịch vụ điện, nước, vệ sinh môi trường, an ninh, môi trường sống còn nhiều bất cập; thiếu hụt không gian phục vụ cho các nhu cầu của đời sống tinh thần: học tập, TDTT, vui chơi giải trí, tâm linh… 

Từ những quan sát trên có thể rút ra mấy nhận xét:
- Đầu tư ngân sách nhà nước để xây dựng chung cư cho CN các KCN là cách làm chưa đem lại hiệu quả cao.
- Cần xây dựng các tiêu chuẩn riêng cho việc xây dựng nhà trọ/ chung cư dành cho CN các KCN phù hợp với thực tế điều kiện thu nhập và nhu cầu sinh hoạt của đối tượng thuê nhà.
- Nên chăng có cơ chế hỗ trợ (vay vốn lãi xuất thấp, cho thuê đất…) cho người dân cung cấp dịch vụ nhà trọ cho CN các KCN nhằm mục tiêu: bảo tồn vốn nhà nước; dùng ngay quỹ đất thổ cư của người dân, tiết kiệm quỹ đất; tạo sinh kế cho người dân địa phương mất đất nông nghiệp xây dựng KCN; qua đó quản lý được tiêu chuẩn xây dựng nhà trọ, đảm bảo điều kiện sinh sống của CN KCN thuê nhà…
- Cần dành quỹ đất cho các không gian công cộng (giao thông, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, khu vui chơi giải trí, khu văn hóa tâm linh…) trên cơ sở dự báo chính xác quy mô phát triển dân số (cả tự nhiên và cơ học) để đảm bảo cơ sở hạ tầng không bị quá tải. Trong đó cần đặc biệt chú ý quy hoạch phát triển các trường học phục vụ nhu cầu học tập của con em CN KCN và nhu cầu học tập, chuyển đổi nghề nghiệp của chính họ sau khi kết thúc thời gian làm việc tại các KCN. 

3. VỀ CỘNG ĐỒNG

Với đặc thù đa số CN làm việc trong các KCN là người nhập cư, nên việc tạo ra một môi trường sống an toàn, thân thiện, bình đẳng cho họ cùng với người dân địa phương là hết sức cần thiết. 
Với quy định của Pháp luật hiện hành, việc quản lý nhân thân vẫn căn cứ nhiều vào Hộ khẩu thường trú, thì địa vị pháp lý của người dân phụ thuộc rất nhiều vào chính quyền địa phương nơi họ đăng ký HKTT. Điều này cũng gây không ít khó khăn cho những CN di cư đến làm việc tại các KCN xa quê. 
Các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch kết cấu hạ tầng, các chính sách an sinh xã hội của các địa phương thường chưa quan tâm nhiều đến lực lượng lao động di cư này, mặc dù họ có đóng góp không nhỏ với sự phát triển của địa phương. 
Tại BTL đã và đang triển khai dự án “Tạo việc làm bền vững và nơi ở an toàn cho nữ thanh niên nhập cư về Hà Nội” với sự tài trợ của PLAN Australia. Mục tiêu của dự án là dạy nghề và các kỹ năng sẵn sàng làm việc cho 600 nữ thanh niên nhập cư về HN trong độ tuổi 18-30 nhằm giúp họ tìm kiếm được việc làm bền vững và có được nơi ở an toàn tại Hà Nội. Dự án cũng hỗ trợ khởi nghiệp cho 100 HV tham gia các khóa học nghề.
Đối tượng chính mà dự án hướng đến là các nữ CN nhập cư tại TLIP và các KCN lân cận – những người đang phải đối mặt đến nguy cơ mất việc làm, nơi ở không an toàn tại các KCN trên địa bàn HN. Mặc dù việc dạy nghề và kỹ năng sẵn sàng làm việc là hoàn toàn miễn phí nhưng dự án đã phải trải qua giai đoạn đầu hết sức khó khăn khi nhiều HV không cam kết dành đủ thời gian học nghề và quyết tâm chuyển sang nghề nghiệp mà mình yêu thích trong khi áp lực thu nhập vẫn đang đeo bám họ. Đồng hành cùng dự án gần 3 năm, trường BTL cũng đã có nhiều đóng góp tích cực với dự án và bước đầu hình thành một hướng đi mới: triển khai các dự án vì cộng đồng, đặc biệt chú trọng hỗ trợ đối tượng lao động di cư, trong đó số đông là các CN đã và đang làm việc tại các KCN của Hà Nội.  

Kính thưa hội thảo,  

Quy hoạch kết cấu hạ tầng cho lao động nhập cư tại các KCN luôn là vấn đề nóng không chỉ của Hà Nội mà đã trở thành vấn đề nóng của tất cả các địa phương thu hút nhiều đầu tư FDI. 
Nói rộng hơn nữa, vấn đề lao động di cư đã vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ, quốc gia. Hiện nay nhiều nước phát triển đang phải xem xét điều chỉnh lại các chính sách thắt chặt nhập cư để tạo động lực phát triển cho nền kinh tế (Đức, Nhật, Hàn Quốc…). Để khai thác được sức mạnh của nguồn lực to lớn này, cần một hệ thống đồng bộ các giải pháp, trong đó bao gồm các chính sách quy hoạch kết cấu hạ tầng phục vụ cho đời sống của người dân nhập cư. 
Những ý kiến nêu trên hoàn toàn là quan điểm cá nhân. Với ý thức mong muốn được học hỏi, chia sẻ, tôi rất mong có được sự quan tâm góp ý của các nhà khoa học, chuyên gia.

Xin trân trọng cảm ơn!  

TS. Phạm Quang Vinh,
Hiệu trưởng trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Thăng Long,
Bài viết tại Hội thảo”Nơi ở CN KCN: Nhà ở, Sinh kế và Cộng đồng”, Hà Nội, 12/12/2018

 
Cập nhật ( 15/02/2019 )
 
Tin đã đưa:

“Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là Tà.

Một người phải Cần, Kiệm, Liêm nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn.

Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc Chính và việc Tà.

Làm việc Chính là người Thiện”.

 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com