Tuần 50 - Ngày 19/07/2024
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em cảm thấy vô hướng quá  

Em chào thầy ạ, em là 1 sinh viên đang theo học tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội và cũng đang học trong lớp Kiến trúc Công nghiệp của thầy ạ. Em có 1 số vấn đề nội tâm rất mong muốn được thầy giúp đỡ và mách bảo ạ. 
Vấn đề chính em đang gặp phải là em cảm thấy rất vô hướng như trong tiêu đề ạ. Em thấy bản thân mình không có tý năng lực nào để mai sau có thể hành nghề kiến trúc sư. Hiện tại em bị nản chí và cũng lo sợ nữa. Em vào trường cũng vì ước mơ có thể xây ngôi nhà do chính mình thiết kế và hành nghề. Nhưng em cảm thấy mình không đủ năng lực để có thể hành nghề, kiến thức trên trường là vô cùng lớn mà dù e đã học rồi nhưng lại bị quên lãng chỉ sau 1 học kỳ. Em cũng không giỏi vẽ và vẽ rất xấu nếu vẽ tay thì nhìn rất trẻ con và thiếu chuyên nghiệp, nhìn các bạn khác em cảm thấy rất tự ti, Em cũng không biết mình còn có thể đủ trình độ để đi thực tập không nữa. Chuyên môn của em em tự đánh giá là khá tệ, em rất suy sụp và cố gắng học những gì có thể mà chuyên ngành cần. Thầy có thể cho em xin ý kiến và liệu có giải pháp khắc phục không ạ, em rất sợ rằng nếu hành nghề thì bản thân không giỏi giang thì kinh tế làm ra sẽ bị thấp, không đủ sống. Vậy em phải làm sao ạ. 


Trả lời:

Thày đã nhận được thư.

Năng lực tự thân thời điểm này là kết quả của năng lực tự rèn luyện giai đoạn trước. Như em nêu trong thư, năng lực tự thân yếu, trước hết thể hiện:
i) Kiến thức chuyên môn còn nhiều khoảng trống và ngày càng rộng ra, do việc học không chăm chỉ;
ii) Trình bày bản vẽ kiến trúc xấu, do không cẩn thận khi thiết kế;
iii) Mất niềm tin vào chính mình, nản chí và dẫn đến lo sợ cho tương lai. 
Phải thấy đó là điều không tốt đẹp do chính em gây ra, để có trách nhiệm mà sửa mình. 
Được gia đình hỗ trợ, có sức khỏe và năng lực để học đến năm thứ 3, là may mắn lắm, khi so sánh với rất nhiều thanh niên người Việt khác. 

Một số việc phải làm ngay: 
i) Thay đổi ngay nhận thức cũ: Ta phải trở thành người tài với cả kỹ năng cứng và mềm phù hợp để cạnh tranh và hợp tác, không chỉ trong kiến trúc mà cả lĩnh vực liên quan khác mà xã hội đang cần và tạo ra giá trị gia tăng;
ii) Sử dụng thời gian hợp lý: Một ngày ngủ đủ 6- 7 tiếng để tái tạo sức lao động. Thời gian còn lại dành cho: Học ngoại ngữ và chuyển đổi số; Đi học đầy đủ và lắng nghe bài giảng; Đọc sách và tài liệu bổ sung kiến thức; Chủ động trao đổi chuyên môn với giảng viên và bạn bè;
iii) Chăm chỉ tự học tập: Lời chê ghê gớm nhất là Kẻ lười nhác. Từ Kẻ lười nhác đến Kẻ hèn hạ và vô dụng rất gần nhau. Không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mà học hỏi, mà phải có kế hoạch tự học, từ trong sách vở đến mạng xã hội và thực tế;
iv) Mở ra với thế giới bên ngoài: Tìm người có đức, có tài mà chơi để học kiến thức và sự đồng thuận; Ra với môi trường tự nhiên mà hòa vào trong đó. Sẵn sàng trải nghiệm làm những điều tốt đẹp; 
v) Còn 2 năm nữa mới ra trường. Phải học để tốt nghiệp đại học, điểm khởi đầu sự nghiệp của một người tri thức. Đây là thời gian đủ để em tìm lại sự cân bằng cảm xúc và tận tâm thay đổi chính mình.

Nếu có vấn đề gì về việc học tập có thể trao đổi với thày. Thày sẵn sàng đồng hành.

Ngày 4/11/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Em kính chào thầy ạ.
Em đang đọc lần 2 quyển sách Nghĩ giàu làm giàu, xuất bản lần đầu năm 1937. Quyển sách được viết từ 90 năm trước nhưng nó vẫn đang phản ánh nhiều thực tế.
Em đã đọc được rằng "các cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm hơn nữa trong việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên".
Em nghĩ đó là việc các thầy đang làm không ngừng. 
Em viết mail này để cảm ơn công việc của thầy ạ.

Em cảm ơn thầy đã đọc ạ.
Sinh viên 60KD3


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Rất cám ơn về những dòng chia sẻ, động viên. 
Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên không chỉ liên quan đến việc đào tạo kỹ năng cứng mà còn phải là kỹ năng mềm, liên quan trước hết đến năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. 
Cuốn sách "Nghĩ giàu, làm giàu" chỉ là một trong những nội dung mà thế hệ trẻ quan tâm.
Điều lớn lao hơn là họ phải có năng lực tự thân và năng lực tự rèn luyện để hình thành sự nghiệp và trở thành người tốt cho gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với chuẩn mực chung của loài người trong thế kỷ 21. 
Sinh viên là tương lai của thày.
Thày cùng các thày cô giáo khác đang nỗ lực hết sức để biến tương lai tốt đẹp đó thành hiện thực. 
Thày đang viết một cuốn sách với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên (và cựu sinh viên) trong lĩnh vực xây dựng'. Dự kiến tháng 5/2023 xuất bản. 
Chúc mọi điều tốt lành. 
Ngày 8/3/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 

 
 
Hỏi:

 

Thưa thầy, em xin gửi kết quả bigfive mới của bản thân, qua đây em cũng xin cảm ơn thầy vì thông qua bài khảo sát bigfive và những lời thầy nói, em đã cố gắng khắc phục những yếu điểm của bản thân và cũng như trau dồi thêm kiến thức để khai phá bản thân, và thực tế đã có những chuyển biến tích cực trong cuộc sống và công việc của em, tuy vậy bản thân em cũng vẫn còn những thiếu sót, những điều em chưa thay đổi đc, em mong thầy thông cảm và trân thành cảm ơn thầy đã lắng nghe em.

 

Sinh viên Khóa 53KD, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, ĐHXD Hà Nội

 


Trả lời:

 

Đã nhận được kết quả Big Five. Nên ghép thêm kết quả của những sinh viên khác, người khác để có thể so sánh và rút ra được nhận xét ta là ai và từ đó tự sửa mình. 

Kết quả cho thấy: Tính cách (hay kỹ năng mềm) thuộc loại trung bình. Yếu về tính hướng ngoại. 

Từng bước, từng bước mà cố gắng hơn. 

 

Ngày 3/2/2023, thày Phạm Đình Tuyển 

 


Hỏi:  Em gửi thầy kết quả Big Five ạ.




Trả lời: Thày đã nhận được kết quả đánh giá Big Five của em. 
Sau một năm tự nhìn nhận mình là ai và đã có những thay đổi . 
Tính cách Tận tâm và Hướng ngoại được cải thiện so với trước. 
Tính cách Cân bằng cảm xúc vẫn yếu như cũ. Theo các nghiên cứu mà thày được biết, tính cách Cân bằng cảm xúc là cốt lõi. Mọi năng lực hoạt động chuyên môn, xã hội của một con người đều dựa vào đây mà ra cả. 
Ta có mặt trên đời này đều có nguyên cớ tốt đẹp nào đó.  Phải tự tin hơn nữa vào chính mình, trước hết là từ công việc chuyên môn, nay chính là đồ án tốt nghiệp. 
Thày sẽ hỗ trợ chuyên môn để em có kết quả tốt nhất trong việc thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 
Ngày 10/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển.  
 

Hỏi: E chào thầy ạ! E là Thắng ,sinh vien nhận đồ án tốt nghiệp nhóm thầy, nhóm mình có nhóm zalo riêng hay thế nào để trao đổi về đồ án k ạ ? Em tìm sđt thầy để add Zalo nhưng không được ạ! Em cảm ơn thầy.
Trả lời: Trao đổi trực tiếp với thày qua mail. 
 
Một số nội dung chính thực hiện trong 4 tuần đầu tiên: :
 
1) Đọc kỹ các yêu cầu về nội dung Học phần đồ án tốt nghiệp của Khoa và Bộ môn KTCN; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành ngay trong tuần thứ 1)  
2) Báo cáo về tên đề tài tốt nghiệp, vị trí cụ thể khu đất dự kiến theo tỷ lệ 1/500 (hoàn thành trong tuần thứ 1)
3) Chuản bị các quy định, tiêu chuẩn thiết kế có liên quan đến đề tài; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành trong tuần thứ 2)
4) Tìm 5 ví dụ trên thế giới về các công trình tương tự với loại hình dự kiến trong đề tài tốt nghiệp; nhận xét và đánh giá, kết luận rút ra để có thể ứng dụng cho đề tài (4 tuần phải hoàn thành); 
5) Đọc lại các nguyên lý thiết kế kiến trúc đã được học (phải làm ngay và liên tục cho đến khi bảo vệ đề tài);
6) Nên tự đánh giá Ta là ai. Đánh giá theo phần mềm  Big Five- tính cách sinh viên, để thày biết rõ hơn về sinh viên. 
Phần mềm đánh giá: http://talaai.com.vn/   (talaai.com.vn)
Sau đó gửi ngay kết quả đánh giá tính cách cho thày, để có thể hỗ trợ. 
 
Gặp nhau 2 tuần/lần. Mỗi lần gặp cần chuẩn bị sẵn câu hỏi để có thể trao đổi tối đa những vấn đề liên quan đến đề tài tốt nghiệp mà không tự trả lời được. 
Địa điểm gặp: Chiều thứ tư hàng tuần, từ 16h - 17h30 tại Văn phòng Bộ môn KTCN. 
 
Đồ án tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng của đời người lao động trí óc. 
Phải nỗ lực hết sức và dành tất cả thời gian, nguồn lực cho đồ án. Từ đây mới có kết quả tốt nhất, để trải nghiệm, hình thành năng lực cần thiết chuẩn bị cho việc ra trường và làm việc với vô số những người tài khác trong xã hội. 
 
2/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển. 
 

Hỏi:  Em chào bộ môn ạ, em là Hoàng Đức Dương lớp 66XD8 msv-0013966 đang làm bài tiểu luận về công trình dân dụng ạ em thấy bộ môn có đăng bài về công trình galaxy soho ở Trung Quốc vậy em muốn xin bộ môn cho em bài đăng đó được không ạ, em xin cảm ơn bộ môn,em chào bộ môn ạ.


Trả lời: Trang WEB bmktcn.com được thành lập với mục tiêu chính là phục vụ sinh viên. Đương nhiên là em được đăng lại các bài viết trên trang WEB này. 
Chủ  biên: TS. Phạm ĐÌnh Tuyển 

Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Bộ Xây dựng cung cấp 37 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4
+ NĐ 109/2022/NĐ-CP quy định về hoạt động KHCN trong cơ sở giáo dục ĐH
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Truyền thuyết Kiến trúc kho báu Chùa Một Cột
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
NCKH khác
Vấn đề chính sách nhà ở xã hội và nhà ở công nhân khu công nghiệp
16/02/2019
 

 Chính phủ đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bảo đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu, góp phần giảm nghèo bền vững.Chính sách nhà ở xã hội đã đi vào thực tế được gần 10 năm nhằm cung cấp nhà ở tử tế cho các đối tượng gặp khó khăn về nhà ở. Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nghiên cứu về nhà ở xã hội, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quá trình tiếp cận, quy trình mua nhà ở xã hội, rào cản  mà chưa có nghiên cứu đánh giá chính sách một cách tổng thể. Thông qua việc mô tả tiến trình biến đổi chính sách trong thời gian qua, bài viết chỉ ra một số vấn đề chính sách còn tồn tại trong quá trình triển khai.  

1. Đặt vấn đề

Đầu tư trong lĩnh vực nhà ở chiếm 15% -35% tổng mức đầu tư toàn cầu và khu vực này sử dụng 10% lực lượng lao động trên toàn thế giới. Khu vực nhà ở có tiềm năng tạo việc làm, tăng năng suất, nâng cao mức sống và giảm nghèo. Thực hiện chính sách nhà ở là một biện pháp quan trọng trong việc cung cấp phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào. Ở Việt Nam, cung cấp nhà ở luôn là một trong các mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.

Tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn song hành với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với tốc độ tăng trưởng GPD nhanh và ổn định trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực. Kết quả là, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm và tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP tăng nhanh. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghiệp và làm thay đổi cơ cấu lao động ở Việt Nam. Trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm, số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. 

Song hành với tăng trưởng và phát triển kinh tế, Việt Nam là nước có tốc độ đô thị hóa cao gấp đôi tốc độ tăng dân số của cả nước (World Bank, 2017). Trong khi cơ cấu thị trường nhà ở Việt Nam, do thói quen sở hữu nhà nên chủ sở hữu nhà chiếm đến 85% trong khi chỉ có 15% số lượng nhà ở cho thuê. Phần lớn nhu cầu thuê nhà ở là từ công nhân các khu công nghiệp. Khoảng 40% công nhân khu công nghiệp trong độ tuổi 15-29, trong số đó khoảng 78% (tương đương 1,75 triệu người) phải thuê nhà ở ((World Bank, 2015). Thị phần nhà ở cho thuê ở Việt Nam chủ yếu là nhà ở phi chính thức với 90% nguồn cung nhà ở cho thuê thuộc khu vực phi chính thức (Waibel và cộng sự, 2007)

Chính sách nhà ở xã hội, trong đó có chính sách nhà ở cho công nhân đã đưa vào thực tế được gần 10 năm, với rất nhiều thay đổi điều chỉnh nhằm cải thiện cơ chế của thị trường nhà ở đảm bảo công bằng cho các nhóm xã hội, trong đó có công nhân khu công nghiệp. Tìm hiểu tiến trình thay đổi chính sách nhà ở xã hội nhằm chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách nhà ở xã hội và chính sách nhà ở cho công nhân hiện nay.  

2. Tiến trình thay đổi chính sách nhà ở xã hội

Khái niệm Nhà ở xã hội đã lần đầu tiên chính thức xuất hiện trong văn bản pháp luật, đó là Luật Nhà ở 2005. Luật Nhà ở ra đời đưa ra những quy định chung về sở hữu nhà ở, phát triển, quản lý việc sử dụng, giao dịch và quản lý nhà nước về nhà ở, với mục đích phục vụ các nhu cầu của hộ gia đình, cá nhân. Nếu thời điểm 2004, tại Quyết định số 76/2004/QĐ-TTG, cụm từ “nhà ở xã hội” được cho là xuất hiện gián tiếp và là kết quả của sự kế thừa trong một số văn bản trước đó, thì thời điểm 2005, trong Luật nhà ở, khái niệm “Nhà ở xã hội” đã được sử dụng rộng rãi, được luật hóa trong văn bản luật có hiệu lực cao nhất sau Hiến pháp. Thời kỳ này, Nhà nước có cơ chế, chính sách phát triển quỹ nhà ở xã hội; khuyến khích tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển; miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất xây dựng nhà ở xã hội, miễn, giảm các khoản thuế liên quan (Điều 45).

Chính quyền các cấp đã có rất nhiều chính sách ưu tiên dành cho các chủ đầu tư tham gia xây dựng dự án nhà ở xã hội. Ngay trong Luật nhà ở 2005 đã có quy định các nhà đầu tư phát triển nhà ở cho các hộ gia đình thu nhập thấp sẽ nhận được những ưu đãi đặc biệt như miễn tiền thuê đất và được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nhà ở xã hội. Liên quan đến số đơn vị nhà ở và diện tích sàn xây dựng, các đơn vị quản lý phải đưa ra những điều kiện ưu đãi để khuyến khích chủ đầu tư tham gia xây dựng nhà ở xã hội. Vốn đầu tư xây dựng quỹ nhà ở xã hội được hình thành từ 5 nguồn (Điều 52): - Tiền thu được từ việc bán, cho thuê và cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; - Trích từ 30% đến 50% tiền sử dụng đất của các dự án phát triển nhà ở trên địa bàn; - Ngân sách nhà nước đầu tư; - Tiền hỗ trợ, tiền đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; - Tiền huy động từ các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Đối tượng và điều kiện được thuê mua nhà ở xã hội gồm: cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân làm việc tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và các đối tượng khác. Điều kiện để được thuê mua: chưa có nhà sở hữu, chưa được thuê hoặc mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, có nhà sở hữu nhưng diện tích bình quân dưới 5m2 sàn/người, có nhà sở hữu của mình nhưng hư hỏng hoặc dột nát (Điều 54). Bên cạnh đó Luật cũng quy định rất cụ thể về: Quy trình xét duyệt đối tượng thuê, thuê mua (Điều 55); Yêu cầu phát triển nhà ở xã hội (Điều 46); Tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã hội (Điều 47); Quy hoạch phát triển nhà ở xã hội (Điều 48); Nguồn vốn đầu tư phát triển quỹ nhà ở xã hội.

Tuy nhiên cũng có thể thấy, Luật Nhà ở năm 2005 chỉ đưa ra các ưu đãi giới hạn cho các đối tượng thuộc khu vực nhà nước. Người nghèo và thu nhập thấp làm việc ngoài nhà nước vẫn nằm ngoài tiến trình này. Trong khi đó tình hình nhà ở đô thị càng trở nên phức tạp khi xu hướng di cư đang trở nên mạnh mẽ. Hơn một nửa số người dân nhập cư vào Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh sống trong các căn hộ ghép, ký túc xá hoặc thuê nhà và 3% ở khu lều trại hoặc lán (UNDP, 2010).

Phải đến năm 2009, chính phủ mới bắt đầu thực sự quan tâm thúc đẩy phát triển chính sách nhà ở xã hội.Chính sách tập trung vào ba nhóm đối tượng chính là sinh viên, công nhân trong các khu công nghiệp và người thu nhập thấp ở đô thị (Quyết định số 65, 66, 67/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ). Phấn đấu đến năm 2015 đáp ứng cho khoảng 60% số sinh viên các cơ sở đào tạo và 50% công nhân lao động tại các khu công nghiệp có nhu cầu được giải quyết chỗ ở.Tuy nhiên, vấn đề nhà ở xã hội đang được tái khởi động với những nội hàm cũ và mới (Trịnh Duy Luân, 2011). Tác giả hoài nghi về tính khả thi của các điều khoản luật, các chương trình, dự án triển khai liên quan đến nhà ở xã hội. Bởi dựa trên khái niệm “nhà ở xã hội” và xác định đối tượng của nhà ở xã hội cho thấy sự hiện hữu của bao cấp nhà nước về nhà ở trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. Các chính sách chủ yếu chú trọng sử dụng vốn ngân sách để phát triển nhà ở cho công nhân, sinh viên mà ít quan tâm nâng cấp quỹ nhà ở cho thuê (UNHABITAT 2014).

Theo Nghị quyết 18/NQ-CP của chính phủ, UBND cấp tỉnh, thành phố phải rà soát điều chỉnh bổ sung quỹ đất để phát triển nhà ở sinh viên, nhà ở công nhân khu công nghiệp và nhà ở cho người thu nhập thấp trong quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết của địa phương (kể cả quỹ đất dành để xây dựng để giao cho các doanh nghiệp xây dựng nhà ở thu nhập thấp). Tuy nhiên cho đến nay nhiều địa phương vẫn chưa có quy hoạch, kế hoạch bố trí quỹ đất để chuẩn bị phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người thu nhập thấp (World Bank, 2015).

Sau 2009, diện được mua nhà ở xã hội tiếp tục mở rộng cho những người thu nhập thấp. Tuy nhiên, trên thực tế những người thu nhập thấp chưa dễ gì tiếp cận được nhà ở xã hội bởi giá nhà ở xã hội khá cao. Nhận thấy vấn đề này, Chính phủ đã ban hành nghị định 71/2010/NĐ-CP và đặc biệt là nghị định 188/2013/NĐ-CP dành riêng cho phát triển nhà ở xã hội, trong đó gộp tất cả các đối tượng được ưu tiên nhà ở nêu trên cùng với các điều kiện đang được quy định riêng rẽ trong các văn bản trước. Đồng thời, trong văn bản này cũng bổ sung thêm các nhóm đối tượng là những người nghèo ở khu vực nông thôn và các nhóm đối tượng chính sách khác như người già, cô đơn, hộ nghèo đô thị. Hai nhóm đối tượng đáng lưu ý được bổ sung là những hộ tái định cư gặp khó khăn về nhà ở và các công nhân làm việc trong các khu khai thác, khu mỏ vốn là các khu vực tập trung nhiều lao động nhưng lại không được coi là các khu công nghiệp, khu kinh tế nên chưa được hưởng chính sách ưu đãi trong các văn bản trước.

Rất nhiều ưu đãi khác đã được đề cập đến trong Nghị định 188/2013/NĐ-CP, đặc biệt là các ưu đãi về sử dụng đất, về khả năng kết hợp giữa phát triển nhà ở xã hội và kinh doanh thương mại, việc sử dụng tài sản hình thành trong tương lai trong các dự án nhà ở xã hội để vay vốn đầu tư. Các ưu đãi cũng nhấn mạnh đến việc nhà nước sẽ hỗ trợ một phần chủ đầu tư nhà ở xã hội trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong phạm vi dự án. Nghị định này cũng đề cập tới những ưu đãi cụ thể dành cho các cá nhân và hộ gia đình trong công tác xây dựng và cung cấp nhà ở xã hội.

Kể từ sau 2014, Luật Nhà ở năm 2014 quy định việc mua nhà ở xã hội mở rộng cho nhiều nhóm đối tượng hơn. Người mua không nhất thiết phải có hộ khẩu tại thành phố, nhưng cần có đăng ký tạm trú dài hạn. Theo Điều 49 và Điều 51 của Luật nhà ở năm 2014 có 10 nhóm xã hội thuộc diện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội. Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân ngoài khu vực nhà nước đầu tư vào lĩnh vực nhà ở xã hội. Bên cạnh đó, các chính sách cũng đưa ra những ràng buộc đối với nhà đầu tư lập dự án phát triển nhà ở. Đối với những dự án có quỹ đất từ 10 ha trở lên, chủ đầu tư phải dành 20% quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội. Nếu dự án phát triển nhà ở thương mại có quy mô sử dụng đất dưới 10 ha thì chủ đầu tư có 3 lựa chọn hoặc dành 20% quỹ đất để xây dựng nhà ở xã hội, hoặc chuyển giao quỹ nhà ở tương đương với giá trị quỹ đất 20%, hoặc chuyển khoản tài chính tương đương giá trị quỹ đất 20% bổ sung vào ngân sách địa phương dành để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Người ta kỳ vọng với chính sách này sẽ có nhiều cơ hội cho các nhóm đối tượng chính sách  hơn khi các nhà đầu tư buộc phải cung ứng sản phẩm nhà ở này khi xúc tiến các dự án nhà ở thương mại. Hơn nữa, việc bố trí xen kẽ khu nhà ở xã hội và nhà ở thương mại sẽ góp phần hạn chế tình trạng cư trú tách biệt theo thành phần gia đình và vị trí xã hội. Khi đó, dân cư trong các tòa nhà ở xã hội sẽ được thụ hưởng hệ thống hạ tầng xã hội chung với khu nhà ở thương mại (Nguyễn Thị Minh Phương và cộng sự, 2016).

Nhìn chung, chính sách về nhà ở xã hội qua các thời kỳ đã có những điều chỉnh để mở rộng nhiều cơ hội có nhà ở cho các nhóm đối tượng. Bên cạnh chính sách khuyến khích cung ứng nhà ở xã hội, nhà nước cũng đưa ra biện pháp hỗ trợ tài chính cho hộ gia đình thông qua gói cho vay ưu đãi mua trả góp trong nhiều năm. Nghị định 188/2013 ban hành ngày 20/11/2013 và sau này được thay thế bởi nghị định 100/2015 ban hành ngày 20/10/2015 của Chính phủ đã đưa ra quy định người mua nhà ở xã hội có thể được vay vốn với lãi suất ưu đãi. Tuy nhiên, sau khi gói 30 nghìn tỷ kết thúc, việc triển khai chính sách nhà ở xã hội theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội đã bị ách tắc, nguồn cung và cầu trên thị trường nhà ở nhà xã hội đều suy giảm, chưa có dấu hiệu phục hồi.Gói 1000 tỷ được phân phối đều trên cả nước, mỗi địa phương trung bình có 50 tỷ hỗ trợ cho việc vay mua nhà và sửa chữa nhà cửa. Với nguồn vốn cho vay hạn hẹp, gói hỗ trợ chỉ có thể hỗ trợ cho số lượng người hạn chế.  

3.  Vấn đề chính sách nhà ở xã hội và nhà ở cho công nhân

Chính sách nhà ở là một hình thức cụ thể của chính sách xã hội với mục tiêu đảm bảo cho nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách có nhà ở để hòa nhập với cộng đồng, để tái sản xuất sức lao động và tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách nhà ở xã hội là chính sách phát triển các loại hình nhà ở được thực hiện có sự hỗ trợ và can thiệp của nhà nước. Chính sách này được thể hiện qua các chương trình nhà ở xã hội. Hiện nay ở Việt Nam chương trình nhà ở xã hội gồm: chương trình hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, chương trình phát triển nhà ở cho người nghèo, người thu nhập thấp ở khu vực đô thị, chương trình phát triển nhà ở cho công nhân, người lao động tại các khu công nghiệp, chương trình nhà ở học sinh, sinh viên, chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo khu vực nông thôn, chương trình hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung, chương trình tôn nền vượt lũ cụm tuyến dân cư và xây dựng nhà ở cho các hộ dân bị ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long.  

Mục tiêu chính sách chưa trọng tâm

Tuy nhiên, khi xem xét tiến trình biến đổi chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam hiện nay, mục tiêu, mục đích và đối tượng của chính sách nhà ở xã hội chưa được xác định rõ ràng. Một mặt, chính sách đa đối tượng, vừa nhằm hỗ trợ cho người nghèo, người có công, công nhân, sinh viên, vừa hỗ trợ cho người không nghèo, là nhóm đối tượng thu nhập thấp. Mặt khác, chính sách đa mục tiêu vừa nhằm giải quyết nhà ở cho nhóm đối tượng chính sách, nhằm giải quyết vấn đề an sinh xã hội và định hướng lại thị trường bất động sản. Một chính sách hay một chương trình chỉ có thể được thực hiện tốt khi có mục tiêu và đối tượng rõ ràng, không thể lẫn lộn các nhóm thụ hưởng chính sách. Mục tiêu chính sách phải đảm bảo tính cụ thể, có thể đo lường được, có thể đạt được, có sự phù hợp và tuân thủ khung thời gian (SMART). Vì vậy, bởi chính sách đa mục tiêu, đa đối tượng thì khó có thể hiệu quả khi nguồn lực thực hiện còn hạn hẹp.  Các nghiên cứu cho thấy, với chính sách nhà ở như hiện nay, dường như chính sách mới chỉ là sự nối dài của chính sách bao cấp nhà ở, tuy có sự điều chỉnh theo cơ chế thị trường, cho một số nhóm đối tượng ưu tiên như cán bộ công chức, lực lượng vũ trang, người có công chứ chưa thể đáp ứng nhu cầu của nhóm đối tượng cần sự hỗ trợ của chính phủ nhất, đặc biệt là nhóm làm việc trong khu vực phi chính thức hay hoài nghi về tính khả thi của các điều khoản luật, các chương trình đang triển khai (Gough, K. and Tran, 2009; Trịnh Duy Luân, 2011).

Ngoài ra nguồn lực tài chính của chính phủ để thực hiện chính sách còn rất hạn chế. Sau khi gói 30 nghìn tỷ kết thúc, vốn ngân sách bố trí cho Ngân hàng Chính sách xã hội chỉ đáp ứng khoảng 13% so với yêu cầu của ngân hàng vì vậy không có nguồn vốn ngân sách để thực hiện chính sách như theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015. Hiện nay, hầu hết nguồn vốn huy động để thực hiện chính sách đều là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, do chủ đầu tư và người mua nhà ứng trước để xây dựng nhà ở xã hội.

Hơn nữa, nguồn lực đất đai, đặc biệt là quỹ đất sạch để phát triển nhà ở xã hội. Ở các đô thị lớn, dù có quy định chủ đầu tư phải dành 20% quỹ đất đã đầu tư hạ tầng để xây dựng nhà ở nhưng trong quá trình thực hiện, một số địa phương buông lỏng quản lý cho phép chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ bằng tiền hoặc chưa thực hiện bàn giao diện tích quỹ nhà cho chính quyền địa phương. Còn đối với các khu công nghiệp, do lịch sử hình thành các KCN ở các thời điểm khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau, hầu hết các KCN hiện nay chưa được quy hoạch quỹ đất phục vụ cho việc xây dựng nhà ở cho công nhân. Vì vậy, đối với các KCN mới hình thành, cần có quy định thật rõ ràng về quỹ đất để xây dựng nhà ở công nhân trước khi kêu gọi nhà đầu tư vào đầu tư trong KCN.

Chính vì vậy, chính sách mới chỉ có thể đạt được 30% mục tiêu đã đề ra.Theo chiến lược mục tiêu phát triển nhà ở xã hội trong giai đoạn 2016-2020, đến năm 2020 phấn đấu thực hiện đầu tư xây dựng tối thiểu khoảng 12,5 triệu mét vuông sàn nhà ở xã hội cho các đối tượng có thu nhập thấp và công nhân lao động tại các khu công nghiệp. Tuy nhiên, các địa phương mới thực hiện được 186 dự án, tương đương 3,8 triệu m2 nhà ở xã hội, trong đó mới hoàn thành đầu tư xây dựng 87 dự án nhà ở xã hội cho công nhân khu công nghiệp với quy mô xây dựng khoảng 28.800 căn hộ, đáp ứng được gần 28% nhu cầu về nhà ở cho công nhân. Theo quy hoạch phát triển các khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020, tổng số công nhân khu công nghiệp đạt khoảng 7,2 triệu người. Số công nhân làm việc tại các khu công nghiệp trên cả nước có nhu cầu về chỗ ở đến năm 2020 khoảng 4,2 triệu người, tương đương khoảng 33,6 triệu m2 nhà ở.Vì vậy, cần một số lượng lớn nhà ở dành cho công nhân mới có thể đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho công nhân hiện nay và trong thời gian tới.  

Ai tiếp cận được nhà ở xã hội?

Hạn chế về khả năng tiết kiệm để có khoản đặt cọc ban đầu (20%), thu nhập thấp và thời gian làm việc ổn định ngắn là những yếu tố trở ngại hạn chế người thu nhập thấp và công nhân tiếp cận nhà ở. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, chỉ có ba nhóm ngũ phân vị đầu tiên có mức thu nhập cao nhất với mức thu nhập từ 10 đến 29 triệu đồng/tháng mới có khả năng tiết kiệm tiền đặt cọc mua nhà 20%(World Bank, 2015). Trong khi đó, hai nhóm ngũ phân vị thấp với mức thu nhập từ 4 – 7 triệu đồng/tháng có tỷ lệ tiết kiệm gần như bằng 0 và có mức chi tiêu cao hơn thu nhập, vì vậy khả năng để có thể tiết kiệm tiền đặt cọc nhà là rất hạn chế. Trong thực tế, người thu  nhập thấp và công nhân trong các khu công nghiệp là đối tượng nằm trong  hai nhóm ngũ phân vị này. Măt khác, theo khảo sát của JICA, nhóm công nhân mới vào làm việc dưới 1 năm có tỷ lệ cao nhất (23,9%), nhóm công nhân làm việc trên 5 năm có tỷ lệ nhỏ nhất (15,3%). Nhóm làm việc từ 3-4 năm chiếm 21,4%, từ 2-3 năm chiếm 16,2% (JICA, 2016) Với số năm làm việc ít, nhóm công nhân khó có thể có mức lương cao và ổn định để có khả năng tiếp cận nhà ở chính thức.

Một nghiên cứu của Viện Xã hội học năm 2018 về nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp ở Hà Nội đã chỉ ra rằng 1/3 những người tiếp cận được nhà ở xã hội ở Hà Nội trong mẫu khảo sát không phải là nhóm có mức thu nhập thấp. Trong mẫu nghiên cứu có 4,7% cư dân mua nhà ở xã hội có sở hữu xe ô tô và 4,7% có sở hữu đất đai từ 30m2 đến 4000m2. Nhà ở xã hội là loại hình nhà ở dành cho những đối tượng gặp khó khăn về nhà ở, không có khả năng chi trả nhà ở theo giá thị trường nhưng trong quá trình thực hiện vẫn có những nhóm đối tượng không phù hợp tiếp cận được loại hình nhà ở nay (Hoàng Vũ Linh Chi 2018) 

Mô hình phát triển nhà ở xã hội chưa phù hợp

Hiện nay ở Việt Nam, Nhà nước thực hiện mô hình phát triển NOXH chủ yếu thông qua các dự án của doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm từ khâu xây dựng, phân phối với sự giám sát của nhà nước đến quản lý vận hành nhà ở. NOXH được xây dựng trên nguyên tắc Nhà nước hỗ trợ để giảm giá thành xây dựng. Các doanh nghiệp được miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất, lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường với mục đích giảm giá thành xây dựng nhà ở, do vậy giá nhà ở xã hội sẽ thấp từ 20-30% giá nhà ở thương mại. Tuy nhiên, những rào cản trong các thủ tục hành chính, nguồn vốn, công nghệ xây dựng chưa phát triển, lợi nhuận thấp không đủ để khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào phát triển nhà ở xã hội. Chính vì vậy, để thực hiện Chiến lược và Chương trình phát triển NOXH mà chỉ dựa vào các doanh nghiệp đầu tư xây dựng chắc chắn không thể đáp ứng ứng được nhu cầu về nhà ở của các nhóm đối tượng cần có sự hỗ trợ của nhà nước mới có khả năng tiếp cận nhà ở chính thức.

Mặt khác, chính sách không thể thực hiện hiệu quả khi mô hình phát triển nhà ở xã hội chủ yếu ở hình thức mua, thuê mua trong khi các nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách là những người nghèo nhu cầu về nhà ở khác nhau và không có khả năng thuê mua lại chỉ có thể tiếp cận nhà ở xã hội theo hình thức này.  

4. Kết luận

Chính sách nhà ở xã hội nhằm tạo quỹ nhà ở cho công nhân, sinh viên và người thu nhập thấp nhằm bảo đảm công bằng cho mọi tầng lớp xã hội có cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu. Những đối tượng được thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội là những người gặp khó khăn trong tiếp cận nhà ở, tiếp cận các dịch vụ xã hội. Nếu chính sách được thực hiện tốt phần nào sẽ làm giảm bất bình đẳng trong xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở đô thị. Tóm lại, có thể thấy tình trạng thiếu thốn về nhà ở của người nhập cư phản ánh sự chậm trễ trong các chính sách về nhà ở của Việt Nam cho một số nhóm yếu thế trong xã hội khi xem xét lại lịch sử vấn đề này. Những thách thức đối với tiến trình phát triển đô thị, đảm bảo an sinh xã hội toàn dân sẽ là một bài toán khó khăn một khi vấn đề nhà ở chưa thể giải quyết. Những vấn đề chính sách và bối cảnh thực trạng đang đặt ra hiện nay đòi hỏi phải có những tìm tòi mới trong việc giải quyết vấn đề nhà ở cho các nhóm yếu thế trong xã hội, trong đó có công nhân làm việc trong các khu công nghiệp hiện nay.  

Hoàng Vũ Linh Chi, Viện Xã hội học 
Bài viết tại Hội thảo”Nơi ở CN KCN: Nhà ở, Sinh kế và Cộng đồng”, Hà Nội, 12/12/2018

---------------------------- 
 

Tài liệu tham khảo 
Gough, K. and Tran, HA(2009), “Changing Housing Policy in Vietnam: Emerging Inequalities in Residential Area of Hanoi.” Cities: 447–63. 
Hoàng Vũ Linh Chi(2018),Báo cáo đề tài mức độ hài lòng của người dân sinh sống tại các khu nhà ở xã hội ở hà nội.Viện Xã hội học. 
JICA (2016),Nghiên cứu cải thiện môi trường sống cho công nhân các khu công nghiệp tại Việt Nam
Nguyễn Thị Minh Phương và cộng sự (2016), Báo cáo Đề tài chính sách nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp - Thực tiễn và chính sách. Viện Xã hội học. 
Trịnh Duy Luân (2011), “Nhà ở Xã Hội - Khái Niệm Mới và Những Nội Hàm Cũ.”
Tạp chí Kiến trúc. https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/kientruc-xahoi/nha-o-xa-hoi-khai-niem-moi-va-nhung-noi-ham-cu.html.
UNDP(2010),Đánh Giá Nghèo Đô Thị ở Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh. http://www.undp.org/content/dam/vietnam/docs/UNDP-in-the-News/29458_Baocao_Ngheo_Do_thi.pdf. 
UNHABITAT (2014),Hồ Sơ Nhà ở Việt Nam. Hà Nội. 
Waibel, Michael, Donald Eckert, Michael Bose, and Volker Martin (2007), “Nhà ở Cho Người Thu Nhập Thấp Tại TP HCM Giữa Tái Hoà Nhập và Phân Tán.” ASIEN (103): 59–78. 
World Bank(2017),Các Thành Phố Đông Á và Châu Á Thái Bình Dương.
https://openknowledge.worldbank.org/bitstream/handle/10986/27614/211093ovVN.pdf?sequence=7&isAllowed=y. 
WorldBank(2015), “Nhà ở Giá Hợp Lý ở Việt Nam: Con Đường Phía Trước.”

 
 
Tin đã đưa:

“ Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

 
Trí thức trẻ là người tốt nghiệp đại học, tuổi từ 39 trở xuống. Do thu nhập sau ra trường hạn hẹp, thị trường nhà ở giá rẻ khan hiếm, nên điều kiện về an cư để lạc nghiệp còn khó khăn. Các bạn trí thức trẻ ước muốn gì về nơi ở của riêng mình (không phải do thừa kế, đi thuê):
 
 
 
Trong thời đại CMCN 4.0, Chuyển đổi số không còn là điều tốt đẹp nên có, mà là điều bắt buộc đối với tất cả tổ chức và doanh nghiệp, gắn với Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số. Trong bối cảnh đô thị hóa, ngành XD có vai trò tiên phong trong Chuyển đổi số đế nâng cao năng lực cạnh tranh. Người ta còn cho rằng "QH đô thị là bệ phóng cho Chuyển đổi số". Lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp XD phải chấp nhận và thích ứng dần với quá trình Chuyển đổi số. Các bạn SV, cựu SV trong lĩnh vực XD - Công dân kỹ thuật số trong tương lai, nghĩ gì về nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực Chuyển đổi số trong cơ sở đào tạo ĐH:
 
 
Thông báo

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com