Tuần -14 - Ngày 24/04/2024
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em cảm thấy vô hướng quá  

Em chào thầy ạ, em là 1 sinh viên đang theo học tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội và cũng đang học trong lớp Kiến trúc Công nghiệp của thầy ạ. Em có 1 số vấn đề nội tâm rất mong muốn được thầy giúp đỡ và mách bảo ạ. 
Vấn đề chính em đang gặp phải là em cảm thấy rất vô hướng như trong tiêu đề ạ. Em thấy bản thân mình không có tý năng lực nào để mai sau có thể hành nghề kiến trúc sư. Hiện tại em bị nản chí và cũng lo sợ nữa. Em vào trường cũng vì ước mơ có thể xây ngôi nhà do chính mình thiết kế và hành nghề. Nhưng em cảm thấy mình không đủ năng lực để có thể hành nghề, kiến thức trên trường là vô cùng lớn mà dù e đã học rồi nhưng lại bị quên lãng chỉ sau 1 học kỳ. Em cũng không giỏi vẽ và vẽ rất xấu nếu vẽ tay thì nhìn rất trẻ con và thiếu chuyên nghiệp, nhìn các bạn khác em cảm thấy rất tự ti, Em cũng không biết mình còn có thể đủ trình độ để đi thực tập không nữa. Chuyên môn của em em tự đánh giá là khá tệ, em rất suy sụp và cố gắng học những gì có thể mà chuyên ngành cần. Thầy có thể cho em xin ý kiến và liệu có giải pháp khắc phục không ạ, em rất sợ rằng nếu hành nghề thì bản thân không giỏi giang thì kinh tế làm ra sẽ bị thấp, không đủ sống. Vậy em phải làm sao ạ. 


Trả lời:

Thày đã nhận được thư.

Năng lực tự thân thời điểm này là kết quả của năng lực tự rèn luyện giai đoạn trước. Như em nêu trong thư, năng lực tự thân yếu, trước hết thể hiện:
i) Kiến thức chuyên môn còn nhiều khoảng trống và ngày càng rộng ra, do việc học không chăm chỉ;
ii) Trình bày bản vẽ kiến trúc xấu, do không cẩn thận khi thiết kế;
iii) Mất niềm tin vào chính mình, nản chí và dẫn đến lo sợ cho tương lai. 
Phải thấy đó là điều không tốt đẹp do chính em gây ra, để có trách nhiệm mà sửa mình. 
Được gia đình hỗ trợ, có sức khỏe và năng lực để học đến năm thứ 3, là may mắn lắm, khi so sánh với rất nhiều thanh niên người Việt khác. 

Một số việc phải làm ngay: 
i) Thay đổi ngay nhận thức cũ: Ta phải trở thành người tài với cả kỹ năng cứng và mềm phù hợp để cạnh tranh và hợp tác, không chỉ trong kiến trúc mà cả lĩnh vực liên quan khác mà xã hội đang cần và tạo ra giá trị gia tăng;
ii) Sử dụng thời gian hợp lý: Một ngày ngủ đủ 6- 7 tiếng để tái tạo sức lao động. Thời gian còn lại dành cho: Học ngoại ngữ và chuyển đổi số; Đi học đầy đủ và lắng nghe bài giảng; Đọc sách và tài liệu bổ sung kiến thức; Chủ động trao đổi chuyên môn với giảng viên và bạn bè;
iii) Chăm chỉ tự học tập: Lời chê ghê gớm nhất là Kẻ lười nhác. Từ Kẻ lười nhác đến Kẻ hèn hạ và vô dụng rất gần nhau. Không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mà học hỏi, mà phải có kế hoạch tự học, từ trong sách vở đến mạng xã hội và thực tế;
iv) Mở ra với thế giới bên ngoài: Tìm người có đức, có tài mà chơi để học kiến thức và sự đồng thuận; Ra với môi trường tự nhiên mà hòa vào trong đó. Sẵn sàng trải nghiệm làm những điều tốt đẹp; 
v) Còn 2 năm nữa mới ra trường. Phải học để tốt nghiệp đại học, điểm khởi đầu sự nghiệp của một người tri thức. Đây là thời gian đủ để em tìm lại sự cân bằng cảm xúc và tận tâm thay đổi chính mình.

Nếu có vấn đề gì về việc học tập có thể trao đổi với thày. Thày sẵn sàng đồng hành.

Ngày 4/11/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Em kính chào thầy ạ.
Em đang đọc lần 2 quyển sách Nghĩ giàu làm giàu, xuất bản lần đầu năm 1937. Quyển sách được viết từ 90 năm trước nhưng nó vẫn đang phản ánh nhiều thực tế.
Em đã đọc được rằng "các cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm hơn nữa trong việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên".
Em nghĩ đó là việc các thầy đang làm không ngừng. 
Em viết mail này để cảm ơn công việc của thầy ạ.

Em cảm ơn thầy đã đọc ạ.
Sinh viên 60KD3


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Rất cám ơn về những dòng chia sẻ, động viên. 
Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên không chỉ liên quan đến việc đào tạo kỹ năng cứng mà còn phải là kỹ năng mềm, liên quan trước hết đến năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. 
Cuốn sách "Nghĩ giàu, làm giàu" chỉ là một trong những nội dung mà thế hệ trẻ quan tâm.
Điều lớn lao hơn là họ phải có năng lực tự thân và năng lực tự rèn luyện để hình thành sự nghiệp và trở thành người tốt cho gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với chuẩn mực chung của loài người trong thế kỷ 21. 
Sinh viên là tương lai của thày.
Thày cùng các thày cô giáo khác đang nỗ lực hết sức để biến tương lai tốt đẹp đó thành hiện thực. 
Thày đang viết một cuốn sách với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên (và cựu sinh viên) trong lĩnh vực xây dựng'. Dự kiến tháng 5/2023 xuất bản. 
Chúc mọi điều tốt lành. 
Ngày 8/3/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 

 
 
Hỏi:

 

Thưa thầy, em xin gửi kết quả bigfive mới của bản thân, qua đây em cũng xin cảm ơn thầy vì thông qua bài khảo sát bigfive và những lời thầy nói, em đã cố gắng khắc phục những yếu điểm của bản thân và cũng như trau dồi thêm kiến thức để khai phá bản thân, và thực tế đã có những chuyển biến tích cực trong cuộc sống và công việc của em, tuy vậy bản thân em cũng vẫn còn những thiếu sót, những điều em chưa thay đổi đc, em mong thầy thông cảm và trân thành cảm ơn thầy đã lắng nghe em.

 

Sinh viên Khóa 53KD, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, ĐHXD Hà Nội

 


Trả lời:

 

Đã nhận được kết quả Big Five. Nên ghép thêm kết quả của những sinh viên khác, người khác để có thể so sánh và rút ra được nhận xét ta là ai và từ đó tự sửa mình. 

Kết quả cho thấy: Tính cách (hay kỹ năng mềm) thuộc loại trung bình. Yếu về tính hướng ngoại. 

Từng bước, từng bước mà cố gắng hơn. 

 

Ngày 3/2/2023, thày Phạm Đình Tuyển 

 


Hỏi:  Em gửi thầy kết quả Big Five ạ.




Trả lời: Thày đã nhận được kết quả đánh giá Big Five của em. 
Sau một năm tự nhìn nhận mình là ai và đã có những thay đổi . 
Tính cách Tận tâm và Hướng ngoại được cải thiện so với trước. 
Tính cách Cân bằng cảm xúc vẫn yếu như cũ. Theo các nghiên cứu mà thày được biết, tính cách Cân bằng cảm xúc là cốt lõi. Mọi năng lực hoạt động chuyên môn, xã hội của một con người đều dựa vào đây mà ra cả. 
Ta có mặt trên đời này đều có nguyên cớ tốt đẹp nào đó.  Phải tự tin hơn nữa vào chính mình, trước hết là từ công việc chuyên môn, nay chính là đồ án tốt nghiệp. 
Thày sẽ hỗ trợ chuyên môn để em có kết quả tốt nhất trong việc thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 
Ngày 10/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển.  
 

Hỏi: E chào thầy ạ! E là Thắng ,sinh vien nhận đồ án tốt nghiệp nhóm thầy, nhóm mình có nhóm zalo riêng hay thế nào để trao đổi về đồ án k ạ ? Em tìm sđt thầy để add Zalo nhưng không được ạ! Em cảm ơn thầy.
Trả lời: Trao đổi trực tiếp với thày qua mail. 
 
Một số nội dung chính thực hiện trong 4 tuần đầu tiên: :
 
1) Đọc kỹ các yêu cầu về nội dung Học phần đồ án tốt nghiệp của Khoa và Bộ môn KTCN; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành ngay trong tuần thứ 1)  
2) Báo cáo về tên đề tài tốt nghiệp, vị trí cụ thể khu đất dự kiến theo tỷ lệ 1/500 (hoàn thành trong tuần thứ 1)
3) Chuản bị các quy định, tiêu chuẩn thiết kế có liên quan đến đề tài; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành trong tuần thứ 2)
4) Tìm 5 ví dụ trên thế giới về các công trình tương tự với loại hình dự kiến trong đề tài tốt nghiệp; nhận xét và đánh giá, kết luận rút ra để có thể ứng dụng cho đề tài (4 tuần phải hoàn thành); 
5) Đọc lại các nguyên lý thiết kế kiến trúc đã được học (phải làm ngay và liên tục cho đến khi bảo vệ đề tài);
6) Nên tự đánh giá Ta là ai. Đánh giá theo phần mềm  Big Five- tính cách sinh viên, để thày biết rõ hơn về sinh viên. 
Phần mềm đánh giá: http://talaai.com.vn/   (talaai.com.vn)
Sau đó gửi ngay kết quả đánh giá tính cách cho thày, để có thể hỗ trợ. 
 
Gặp nhau 2 tuần/lần. Mỗi lần gặp cần chuẩn bị sẵn câu hỏi để có thể trao đổi tối đa những vấn đề liên quan đến đề tài tốt nghiệp mà không tự trả lời được. 
Địa điểm gặp: Chiều thứ tư hàng tuần, từ 16h - 17h30 tại Văn phòng Bộ môn KTCN. 
 
Đồ án tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng của đời người lao động trí óc. 
Phải nỗ lực hết sức và dành tất cả thời gian, nguồn lực cho đồ án. Từ đây mới có kết quả tốt nhất, để trải nghiệm, hình thành năng lực cần thiết chuẩn bị cho việc ra trường và làm việc với vô số những người tài khác trong xã hội. 
 
2/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển. 
 

Hỏi:  Em chào bộ môn ạ, em là Hoàng Đức Dương lớp 66XD8 msv-0013966 đang làm bài tiểu luận về công trình dân dụng ạ em thấy bộ môn có đăng bài về công trình galaxy soho ở Trung Quốc vậy em muốn xin bộ môn cho em bài đăng đó được không ạ, em xin cảm ơn bộ môn,em chào bộ môn ạ.


Trả lời: Trang WEB bmktcn.com được thành lập với mục tiêu chính là phục vụ sinh viên. Đương nhiên là em được đăng lại các bài viết trên trang WEB này. 
Chủ  biên: TS. Phạm ĐÌnh Tuyển 

Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Bộ Xây dựng cung cấp 37 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4
+ NĐ 109/2022/NĐ-CP quy định về hoạt động KHCN trong cơ sở giáo dục ĐH
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Truyền thuyết Kiến trúc kho báu Chùa Một Cột
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
NCKH khác
Phân tích chính sách hiện hành về NOXH dành cho CN tại các KCN Việt Nam
16/02/2019
 

Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích về chính sách phát triển nhà ở xã hội cho đối tượng công nhân tại các khu công nghiệp tập trung của Việt Nam, bao gồm sự mô tả về quá trình điều chỉnh quan điểm nhà ở xã hội qua các thời kỳ phát triển kinh tế, đến sự phân tích các chính sách hiện hành. Qua đó, các bên liên quan sẽ nắm được nhưng nội dung cụ thể về ưu đãi và quyền lợi của mình trong lĩnh vực này. Nghiên cứu cũng chỉ ra một số bất cập để làm cơ sở đưa ra phương án điều chỉnh chính sách về nhà ở xã hội công nhân cho phù hợp.  

1. Giới thiệu

Hiện nay, Chương trình Nhà ở xã hội (NOXH) của Chính phủ đang được triển khai thực hiện rộng khắp trên cả nước, tạo điều kiện tiếp cận chỗ ở tốt hơn cho một bộ phận người thu nhập thấp và người cần được trợ giúp về nhà ở trong đô thị. Nhà ở xã hội (social housing) là loại nhà ở dành cho những cá nhân/gia đình nghèo, có thu nhập trung bình thấp, được thuê hoặc mua với giá ưu đãi, người mua phải đáp ứng một số điều kiện đặc thù do chính quyền sở tại quy định, và tuân theo các quy định và pháp luật của Nhà nước.
Trong phân khúc NOXH ở mọi quốc gia luôn có đối tượng là công nhân các khu công nghiệp, khu chế xuất - một lực lượng đông đảo bên cạnh các nhóm khác (Cán bộ, công chức, người thu nhập thấp và hộ gia đình nghèo tại đô thị; đối tượng bảo trợ xã hội; học sinh, sinh viên đại học và cao đẳng;...). Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã và đang gia tăng nhờ nỗ lực của Việt Nam trong việc phát triển các khu công nghiệp (KCN) và thu hút các doanh nghiệp nước ngoài trong những năm gần đây. Phát triển KCN bên cạnh các giá trị về phát triển kinh tế còn tạo ra một kênh thu hút lao động rất có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ (kể cả số lao động của những hộ gia đình bị thu hồi đất khi phát triển mở rộng đô thị, xây KCN) và lao động nhập cư. Tuy nhiên, lượng lao động tập trung đông đảo này - với mức thu nhập của công nhân - luôn luôn được coi là những đối tượng thu nhập thấp, cần phải trợ giúp mới có thể tiếp cận được chỗ ở trong đô thị.
Trong chương trình NOXH của Chính phủ Việt Nam đang được triển khai thực hiện rộng khắp trên cả nước thì đối tượng công nhân luôn luôn đứng trong danh sách ưu tiên. Tuy nhiên, theo thống kê của Cục Quản lý Nhà ở và Thị trường bất động sản - Bộ Xây dựng (2017), số lượng NOXH cho công nhân đã được xây dựng tới nay mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 20% nhu cầu. Hơn 80% số công nhân ngoại tỉnh làm việc tại các KCN tập trung đều phải thuê nhà trọ của tư nhân với nhiều lý do khác nhau. Đây là con số còn rất khiêm tốn so với nhu cầu NOXH dành cho công nhân: Số công nhân, lao động tại các KCN cả nước có nhu cầu về chỗ ở đến năm 2020 là khoảng 4,2 triệu người tương đương khoảng 33,6 triệu m2 nhà ở (Theo Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020) và có thể nói còn một khoảng cách rất lớn để đạt hiệu quả mong muốn.
Mặc dù Nhà nước đã quan tâm tới việc phát triển NƠXH, trong đó có nhà ở cho công nhân KCN do chính quyền địa phương và nhà đầu tư tư nhân thực hiện bằng các giải pháp khuyến khích, nhưng chính quyền địa phương vẫn chưa thực hiện được các kế hoạch phát triển nhà ở do hạn chế về nguồn vốn, còn về phía các nhà đầu tư tư nhân, họ chỉ quan tâm tới thị trường nhà ở cho đối tượng có thu nhập từ trung bình tới cao bởi vì đó có thể mang lại hiệu quả tài chính dễ dàng hơn.
Cần thiết phải có các nghiên cứu phân tích về hiện trạng, trong đó có hiện trạng chính sách, để khắc phục bất cập, cũng như đưa ra được những định hướng và giải pháp phát triển cho NOXH dành cho đối tượng này, thúc đẩy việc thu hút đầu tư từ các nguồn vốn xã hội khác nhau để hình thành các khu, cụm NOXH dành cho công nhân, góp phần hỗ trợ cho các khu vực phát triển công nghiệp tập trung. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn cho việc cải thiện điều kiện sống của người dân đô thị có thu nhập trung bình thấp, đặc biệt là tầng lớp công nhân, góp phần ổn định và cân bằng xã hội.

2. Giới thiệu về chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam

2.1. Quá trình điều chỉnh về quan điểm và chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam qua các thời kỳ

Ngay từ những năm 1960-1970, dù Nhà nước đã có chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân, trong đó tập trung việc phát triển các nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho CBCNVC thuê với mức giá rẻ, chính sách bao cấp nhà ở này vẫn chưa được định danh chính thức.

Trong trong thời gian đầu áp dụng chính sách Đổi mới sau năm 1986, do một số khó khăn về tài chính cũng như những thay đổi căn bản về quan điểm phát triển, nhà ở được đầu tư bằng ngân sách của Nhà nước không còn được chú trọng, thay vào đó các cấp chính quyền đưa ra các chính sách khuyến khích việc tự xây nhà của người dân và sự tham gia của kinh tế tư nhân tới việc phát triển nhà ở thông qua việc thừa nhận sở hữu nhà tư nhân và quyền trao đổi, mua bán nhà ở thể hiện trong Pháp lệnh nhà ở năm 1991 và việc thay đổi căn bản về chế độ sở hữu đất đai thể hiện trong Luật Đất đai năm 1993 cũng như những Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này năm 1998 và 2001. Tuy nhiên cũng vẫn phải khẳng định rằng, trong thập niên 1990 cho đến giữa những năm của thập niên 2000, Nhà nước vẫn muốn giữ vai trò chủ đạo như là người xây dựng và cung cấp nhà ở cho những đối tượng ưu tiên của mình và muốn hướng các thành phần kinh tế khác tham gia vào phân khúc nhà ở này. Đến những năm đầu tiên của thế kỷ 21, đã xuất hiện những thay đổi căn bản về việc khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia của các thành phần kinh tế khác nhau vào việc xây dựng các dự án nhà ở.

Văn bản đầu tiên có đề cập đến việc ưu đãi về nhà ở Nghị định 71/2001/NĐ-CP của Chính phủ về ưu đãi đầu tư xây dựng nhà ở để bán và cho thuê cho thấy đầu những năm 2000, khái niệm nhà ở được ưu đãi, một khái niệm rất gần với nhà ở xã hội, tại các khu vực đô thị bao gồm tất cả các loại hình nhà chung cư cao tầng (từ 5 tầng trở lên tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và 3 tầng trở lên với các địa phương khác). Nghị định quy định rất rõ ràng các căn hộ thuộc chung cư cao tầng phải được ưu tiên bán và cho thuê đối với những các đối tượng như cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước và sinh viên. Quan điểm nhà ở được ưu đãi phải là chung cư vẫn sẽ còn ảnh hưởng và thậm chí được đưa vào Luật Nhà ở 2005 sau này. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế, Luật Nhà ở 2014 đã sửa đổi (Điều 55. Loại nhà và tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội): Là nhà chung cư hoặc nhà ở riêng lẻ phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trường hợp là nhà ở riêng lẻ thì phải được thiết kế, xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội. Trường hợp là nhà chung cư thì căn hộ phải được thiết kế, xây dựng theo kiểu khép kín, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn diện tích nhà ở xã hội.

Ngoài ra, khi nhìn vào một văn bản địa phương ban hành cùng năm với Nghị định 71/2001/NĐ-CP nêu trên (nhưng trước vài tháng) là Quyết định 123/2001/QĐ-UB của UBND TP Hà Nội, ta có thể thấy quy định về Quỹ nhà ở thành phố, là khái niệm khá gần với khái niệm quỹ NOXH sau này, trong đó quy định rằng đối với dự án kinh doanh hạ tầng, xây dựng nhà ở để bán, chủ đầu tư phải giành 20% quỹ đất ở (hoặc 30% quỹ nhà) để bổ sung vào quỹ nhà ở thành phố. Phần diện tích còn lại thì chủ đầu tư được phép kinh doanh nhưng phải giành 50% để bán cho các cơ quan có nhu cầu về nhà ở theo giá quy định và chỉ 50% được phép bán theo giá thị trường.

Văn bản đầu tiên xuất hiện cụm từ Nhà ở xã hội là Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia - được ban hành năm 2004 theo quyết định 76/2004/QĐ-TTg, trong đó có đưa ra định nghĩa về Quỹ nhà ở xã hội như là “quỹ nhà ở do nhà nước hỗ trợ chính sách đầu tư xây dựng nhằm bán trả dần, cho thuê – mua và cho thuê đối với các đối tượng thuộc diện chính sách có khó khăn trong việc cải thiện chỗ ở”. Ở đây, khái niệm NOXH đã xuất hiện một cách gián tiếp qua một khái niệm khác về quỹ nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước, và có vẻ như là sự thừa kế của quan điểm Quỹ nhà ở trong các văn bản trước đó.

Chỉ sau đó một năm, khái niệm Nhà ở xã hội đã lần đầu tiên chính thức xuất hiện trong văn bản pháp luật là Luật Nhà ở 2005 với định nghĩa Nhà ở xã hội là “Nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng để cho các đối tượng quy định tại Điều 53 và Điều 54 của Luật này thuê hoặc thuê mua”. Như vậy, khái niệm NOXH đã được luật hóa trong văn bản luật có hiệu lực cao nhất, trong các các văn bản dưới luật tiếp theo cho đến nay đều sử dụng định nghĩa gián tiếp về như trên coi NOXH như một loại hình nhà ở được xây dựng dành cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Những thay đổi trong các văn bản dưới luật về sau này đều chỉ nhằm cụ thể hóa hơn những nhóm đối tượng được và các điều kiện để tiếp cận phân khúc nhà ở này như sẽ giới thiệu sau đây, chứ không thay đổi về quan niệm chính thức này.

Đến Luật Nhà ở 2014, NOXH “là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này”. Các đối tượng đó là: 1. Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; 2. Hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn; 3. Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu; 4. Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị; 5. Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp; 6. Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân; 7. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; 8. Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này; 9. Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập; 10. Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.

Có thể thấy là trước khi có định nghĩa chính thức về Nhà ở xã hội trong Luật Nhà ở 2005 và 2014, việc xác định đối tượng thụ hưởng và điều kiện tiếp cận tới quỹ nhà ở công là rất chung chung, khiến cho việc triển khai hành động trở nên rất khó khăn. Ngoài ra thì Luật Nhà ở chưa hề đề cập đến điều kiện kinh tế của từng nhóm đối tượng nêu trên mà chỉ tập trung về điều kiện nơi ở hiện tại của người dân như chưa có nhà ở, hoặc diện tích ở bình quân đầu người thấp hơn so với một mức nhất định, hoặc về chất lượng kém của nhà ở.

Đến năm 2009, khi Chính phủ đẩy mạnh công cuộc xây dựng NOXH thể hiện qua việc ban hành Nghị quyết 18/2009/NQ-CP và các quyết định 65, 66, 67/2009/QĐ-TTg, cho các nhóm đối tượng là học sinh sinh viên, công nhân và người dân đô thị có thu nhập thấp đã được tính đến. Với việc tồn tại quá nhiều văn bản được ban hành năm 2009 nhằm điều chỉnh các nhóm đối tượng được ưu đãi khác nhau, một số khó khăn và hiểu nhầm trong việc thống nhất quản lý và triển khai các kế hoạch nhà ở đã xuất hiện. Ví dụ, nhiều người vẫn coi nhà ở của người có thu nhập thấp (TNT) nằm ngoài phạm vi của NOXH. 

Nhận thấy vấn đề này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 71/2001/NĐ-CP và đặc biệt là Nghị định 188/2013/NĐ-CP, sau đó là Nghị định 188/2013/NĐ-CP dành riêng cho phát triển NOXH, trong đó gộp tất cả các đối tượng được ưu tiên nhà ở nêu trên cùng với các điều kiện đang được quy định riêng rẽ trong các văn bản trước. Đặc biệt đã bổ sung sửa đổi về đối tượng “Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp” thay thế cho chỉ đối tượng làm việc trong các khu công nghiệp, khu kinh tế như các văn bản trước.

Gần đây, nhằm hoàn thành cơ bản các mục tiêu về phát triển NOXH đã được đề ra trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị số 03/CT-TTg yêu cầu các bộ ngành, địa phương liên quan đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội.

3. Hiện trạng và phân tích các chính sách hiện tại về NOXH cho công nhân

3.1. Hiện trạng các chính sách về NOXH

Trong lĩnh vực phát triển nhà ở nói chung, NOXH nói riêng, hệ thống văn bản pháp luật ở cấp Trung ương bao gồm Luật Nhà ở, các Nghị định do Chính phủ ban hành và các Quyết định do Thủ tướng ký nhằm hướng dẫn và cụ thể hóa việc thi hành Luật nhà ở, và Thông tư do các Bộ ban hành hướng dẫn chi tiết một số điều của các Nghị định.
Ngoài ra việc phát triển NOXH còn được định hướng bởi Chiến lược phát triển nhà ở do Thủ tướng ban hành và điều chỉnh bởi các Luật liên quan như Luật đất đai, Luật đầu tư, Luật Kinh doanh Bất động sản và các Nghị định và Thông tư tương ứng.
Ở cấp địa phương, căn cứ theo các quy định ở văn bản cấp trung ương, từng địa phương có các Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định chi tiết một số yếu tố đặc thù cũng như cách thức tiến hành và quản lý phát triển nhà ở và nhà ở xã hội tại địa phương.
Bảng tổng hợp dưới đây cho thấy danh mục các văn bản pháp luật có liên quan đến phát triển Nhà ở xã hội ở cấp trung ương do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng và Bộ chuyên trách phê duyệt và ban hành.

Danh mục các văn bản pháp luật có liên quan đến NOXH cho công nhân ở cấp Trung ương  

Loại văn bản

Tình trạng văn bản

Hết hiệu lực

Còn hiệu lực

Văn bản trước năm 2003

-    Nghị định 71/2001/NĐ-CP

(căn cứ Luật đất đai 1993 và các luật bổ sung, sửa đổi năm 1998 và 2001)

 

Luật

-    Luật Đất đai 2003

-    Luật Nhà ở 2005

-    Luật Đất đai 2013

-    Luật Nhà ở 2014

Nghị quyết, nghị định

-    Nghị định số 90/2006/NĐ-CP

-    Nghị quyết số 18/2009/NQ-CP

-    Nghị định số 71/2010/NĐ-CP

-    Nghị định số 188/2013/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội

-    Nghị định số 99/2015/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Nhà ở 2014

-    Nghị định số 100/2015/NĐ-CP về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (thay thế NĐ 188 khi Luật Nhà ở 2014 ra đời)

Chiến lược phát triển nhà ở

-    Quyết định số 76/2004/QĐ-TTg

-    Quyết định số 2127/2011/QĐ-TTg

Quyết định

-    Quyết định số 65/2009/QĐ-TTg

-    Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg

-    Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg

 

Thông tư

-    Thông tư số 10/2009/TT-BXD

-    Thông tư số 13/2009/TT-BXD

-    Thông tư số 15/2009/TT-BXD

-    Thông tư số 936/2009/TT-BXD

-    Thông tư số 16/2010/TT-BXD

-    Thông tư 08/2014/TT-BXD (hướng dẫn thực hiện NĐ 188)

 

-    Thông tư 20/2016/TT-BXD hướng dẫn thực hiện một số nội dung của NĐ 100/2015/NĐ-CP (thay thế TT08)

Chỉ thị

 

-    Chỉ thị số 03/CT-TTg

(Nguồn: Cục Quản lý Nhà&Thị trường BĐS- BXD và tác giả tổng hợp, 2017)

Như vậy, tại thời điểm hiện tại thì các văn bản hiện hành có liên quan trực tiếp đến chính sách nhà ở xã hội là Luật Nhà ở 2014, Luật Đất đai 2013, Nghị định 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội và Thông tư 20/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 100.

Quan sát các văn bản pháp lý đã hết hiệu lực cũng như những văn bản còn hiện hành, có thể nhận thấy một điểm đáng lưu ý là các Nghị định, Quyết định và Thông tư được bổ sung và thay thế một cách thường xuyên, đồng thời ban hành cả các Chỉ thị về đẩy mạnh phát triển NOXH. Sự thay đổi này một mặt cho thấy sự thích ứng và phản hồi của các cơ quan ban hành chính sách với thực tiễn thi hành chính sách, mặt khác cũng cho thấy tính không ổn định của hệ thống pháp lý liên quan đến NOXH.

Ngoài ra, việc phát triển nhà ở còn được định hướng, nhưng không phải là bị điều chỉnh, theo Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia phê duyệt tại Quyết định số 2127/2011/QĐ-TTg.  

3.2. Hiện trạng các chính sách về NOXH cho công nhân

Luật Nhà ở đã được thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII năm 2014 là một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực nhà ở. Theo Luật này, Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua, nhằm đáp ứng nhu cầu thuê, thuê mua đối với các đối tượng có TNT đã được quy định.
Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2127/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong đó nêu rõ quan điểm, định hướng giải quyết nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất, dịch vụ ngoài khu công nghiệp theo hướng Nhà nước chủ động tham gia đầu tư phát triển nhà ở cho thuê; đồng thời có chính sách ưu đãi về đất đai, quy hoạch, thuế, tài chính – tín dụng để khuyến khích các thành phần kinh tế, gồm: Doanh nghiệp đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, doanh nghiệp sử dụng lao động trong các khu công nghiệp, các cơ sở công nghiệp, dịch vụ ngoài khu công nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, các hộ gia đình, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua đối với các hộ gia đình, cá nhân là công nhân lao động tại các khu công nghiệp.
Chiến lược cũng đề ra các chỉ tiêu cần đạt được trong giai đoạn 2016-2020 là thực hiện đầu tư xây dựng tối thiểu khoảng 12,5 triệu m2 NOXH tại khu vực đô thị, đáp ứng được khoảng 80% số sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và khoảng 70% công nhân lao động tại các khu công nghiệp có nhu cầu được giải quyết chỗ ở; hỗ trợ cho khoảng 500 hộ gia đình nghèo mới tại khu vực nông thôn cải thiện nhà ở.
Để triển khai thực hiện mục tiêu và giải pháp đã đề ra trong Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, nhiều chính sách liên quan đến khuyến khích ưu đãi phát triển NOXH, nhà ở dành cho công nhân đã được Chính phủ ban hành, trong đó có Nghị định số 188/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 về phát triển và quản lý NOXH với nhiều cơ chế, chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp và các hộ gia đình, cá nhân tham gia phát triển NOXH. Theo đó, chủ đầu tư các dự án (kể cả các hộ cá nhân) phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với công nhân, được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; giảm 50% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng; miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động đầu tư, kinh doanh nhà ở cho công nhân, được vay vốn tín dụng ưu đãi hoặc được bù lãi suất theo quy định; được cung cấp miễn phí các thiết kế mẫu, thiết kế điển hình; được hỗ trợ đầu tư hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào (hoặc trong hàng rào) dự án… Nghị định 188 cũng đã bổ sung quy định công nhân, người lao động tại KCNđược mua, thuê, thuê mua NOXH thay vì chỉ được thuê như những quy định trước.
Tiếp đó, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII năm 2014 đã thông qua Luật Nhà ở sửa đổi (thay thế Luật Nhà ở năm 2005). Để triển khai thi hành Luật Nhà ở 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 về phát triển và quản lý NOXH (thay thế Nghị định số 188). Trong đó yêu cầu Ban quản lý khu công nghiệp của địa phương hoặc doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp có trách nhiệm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu NOXH cho công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp đó theo quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. 

4. Phân tích các nội dung về chính sách nhà ở xã hội công nhân trong giai đoạn hiện tại

Có thể thấy, các quy định về NOXH cho công nhân luôn được cập nhật và sửa đổi, thể hiện sự cố gắng thích ứng của chính sách trong nỗ lực theo kịp sự phát triển trong thực tế về nhu cầu ở của công nhân trong quá trình phát triển kinh tế, CHN-HĐH của đất nước. Ví dụ như, vào 2009, khi các KCN mọc lên ồ ạt, Quyết định số 66/2009/QĐ-TTg đã yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN phải giải quyết được 50% nhu cầu nhà ở của công nhân bằng việc bố trí nhà ở cho họ. Quyết định số 66 đã được thay thế bằng Nghị định số 188/2013/NĐ-CP (2013). Sau đó, theo Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 2014 được ban hành năm 2014, năm 2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định số 188 để cải thiện nội dung của Nghị định số 188. Bên cạnh đó, khi lượng cung – cầu không hợp lý, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTg về việc đẩy mạnh phát triển NOXH ngày 25/01/2017. 
Cụ thể, các nội dung liên quan đến NOXH công nhân được nhắc đến như sau:  

4.1. Cơ chế ưu đãi, hỗ trợ cho dự án xây dựng NOXH và NOXH cho công nhân

Qua rà soát nội dung các bộ Luật và quy định của Việt Nam đã trình bày ở trên, có thể rút ra các cơ chế cụ thể sau đây đã được ban hành nhằm quản lý và thúc đẩy phát triển NOXH.  

Cơ chế ưu đãi, hỗ trợ nêu trong Luật Nhà ở

Nhằm thúc đẩy thị trường cung cấp nhà ở xã hội, Điều 58 Luật Nhà ở quy định những ưu đãi cho chủ đầu tư dự án xây dựng NOXH, trong đó có các quy định rất ưu đãi để phát triển nhà ở cho công nhân trong khu công nghiệp, cụ thể là: 
Cơ chế ưu đãi, hỗ trợ nêu tại khoản 1 của Điều 58 như sau: 
- Miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê để đầu tư xây dựng NOXH (kể cả quỹ đất để xây dựng các công trình kinh doanh thương mại trong phạm vi dự án xây dựng NOXH);
- Miễn, giảm thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp (trường hợp xây dựng NOXH để cho thuê thì được giảm 70% thuế suất thuế VAT và thuế thu nhập doanh nghiệp);
- Vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam (trường hợp xây dựng NOXH để cho thuê thì được vay vốn ưu đãi đầu tư với thời gian tối thiểu là 15 năm và tối đa không quá 20 năm);
- UBND cấp tỉnh hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần kinh phí đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong phạm vi dự án xây dựng NOXH (trường hợp xây dựng NOXH để cho thuê thì được hỗ trợ toàn bộ kinh phí này);
- Các ưu đãi khác theo quy định của pháo luật (được miễn thực hiện thủ tục thẩm định thiết kế cơ sở đối với trường hợp dự án áp dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình NOXH do cơ quan có thẩm quyền ban hành, được áp dụng hình thức tự thực hiện đối với công tác tư vấn, thi công xây lắp v.v)…
Ngoài các ưu đãi trên, trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất công nghiệp, dịch vụ trong KCN đầu tư xây dựng nhà ở để bố trí cho người lao động của doanh nghiệp mình ở mà không thu tiền thuê nhà hoặc có thu tiền thuê nhà với giá thuê không vượt quá giá thuê NOXH do UBND cấp tỉnh ban hành thì doanh nghiệp này còn được tính chi phí xây dựng nhà ở vào giá thành sản xuất khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp..

Cơ chế hỗ trợ, ưu đãi nêu tại Nghị định số 100/2015/NĐ-CP

Để đảm bảo lợi nhuận cho các dự án xây dựng NOXH, Nghị định số 100 đã nêu các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi chủ đầu tư xây dựng NOXH, theo đó chủ đầu tư được phép dành 20% tổng diện tích đất để xây dựng nhà ở trong phạm vi dự án để đầu tư xây dựng công trình kinh doanh thương mại hoặc dành 20% tổng diện tích sàn nhà của dự án đó để bán, cho thuê, cho thuê mua theo giá kinh doanh thương mại.
Ngoài ra trong nội dung của Nghị định 100 còn yêu cầu Ban quản lý khu công nghiệp của địa phương hoặc doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng KCN có trách nhiệm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu NOXH cho công nhân, người lao động làm việc tại KCN đó theo quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. 

Nhận xét: Theo thực tế triển khai, các ưu đãi còn chưa đủ hấp dẫn chủ đầu tư mà vẫn cần dựa vào nguồn vốn ngân sách là chủ yếu trong giai đoạn này. Trong khi đó, theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại tờ trình gửi Chính phủ về việc bổ sung vốn tín dụng cho nhà ở xã hội năm 2018, Bộ Xây dựng khẳng định “việc không bố trí được nguồn vốn ngân sách để thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là nguyên nhân chủ yếu trong việc phát triển chậm NOXH”, đặc biệt NOXH dành cho công nhân. Cụ thể theo Tờ trình trên, nguyên nhân là do vốn ngân sách bố trí cho Ngân hàng Chính sách xã hội trong giai đoạn 2018 - 2020 là 1.262,069 tỷ đồng/9.000 tỷ đồng, chỉ đáp ứng khoảng 13% so với yêu cầu của Ngân hàng Chính sách xã hội tại văn bản số 4177/NHCS-KHNV ngày 3/11/2016.
Riêng năm 2018 Ngân hàng này chỉ được giao 500 tỷ đồng, nhưng đến tháng 6 vẫn chưa được giải ngân. Theo quy định, với số vốn được giao 500 tỷ đồng thì Ngân hàng Chính sách xã hội chỉ huy động thêm được 500 tỷ đồng để thực hiện chính sách hỗ trợ NOXH và chỉ cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân (chủ đầu tư dự án không được vay nguồn vốn này). Trong khi đó, nguồn vốn để cấp bù lãi suất cho các tổ chức tín dụng để cho vay thực hiện chính sách nhà ở xã hội thì đến nay vẫn chưa được bố trí.
Hiện cũng không có nguồn vốn để tiếp tục cho vay sau khi gói tín dụng 30.000 tỷ đồng theo quy định tại Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 của Chính phủ đã giải ngân hết vào cuối tháng 12/2016. Báo cáo của các địa phương về Bộ Xây dựng cho thấy, hiện đến tháng 7/2018 có 206 dự án NOXH với quy mô xây dựng khoảng 168.700 căn hộ, tổng diện tích khoảng 8.435.000 m2 đang bị chậm tiến độ hoặc tạm dừng thi công; trong đó một số chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội có nhu cầu xin chuyển đổi sang dự án nhà ở thương mại; số lượng nhà ở xã hội hoàn thành, đưa vào sử dụng trong thời gian gần đây rất hạn chế. [4] 

4.2. Quy định về giá của NOXH

Với mục đích cung cấp NOXH có giá phù hợp với khả năng chi trả của người lao động, tại Điều 61, Luật Nhà ở có nêu phương pháp xác định giá bán, giá cho thuê và giá thuê mua NOXH được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách.
Giá NOXH do chủ đầu tư xác định trên cơ sở tính đủ các chi phí để thu hồi vốn đầu tư xây dựng và lợi nhuận theo định mức được Chính phủ quy định, trừ trường hợp nhà ở do hộ gia đình và cá nhân đầu tư.
Ngoài ra, Điều 21 Nghị định số 100 cũng quy định nội dung dưới đây: 
- Giá bán nhà ở xã hội được xác định với lợi nhuận định mức của toàn bộ dự án không vượt quá 10% tổng chi phí đầu tư.
- Giá cho thuê nhà ở xã hội được xác định với lợi nhuận định mức của toàn bộ dự án không vượt quá 15% tổng chi phí đầu tư. 

4.3. Quy định về tiêu chuẩn xây dựng

Hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng các tiêu chuẩn xây dựng được tổng hợp trong “Tuyển tập các tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam.” Yêu cầu về xây dựng đối với nhà ở xã hội như sau: 
- Diện tích căn hộ: 25 đến 70m2 
- Diện tích tối đa của một căn hộ: dưới 70m2
- Hệ số sử dụng đất: 2,0 hoặc thấp hơn
- Số tầng: dưới 7 tầng
- Diện tích ở tối thiểu/người: 8m2 (đối với căn hộ ở chung cư)
- Diện tích để xe máy và xe đạp: mỗi căn hộ có 2 xe máy, 1 xe đạp 

Hiện nay, các tiêu chuẩn xây dựng hiện hành của Việt Nam không nêu các yêu cầu chi tiết hơn mà chỉ có các yêu cầu chung chung như được đề cập ở trên. So với một số quốc gia phát triển khác thì quy định về xây dựng NOXH này của Việt Nam chưa được chặt chẽ. Ví dụ, Việt Nam chưa nêu các quy định cụ thể về yêu cầu thông gió và chiếu sáng của các phòng ở của nhà ở xã hội trong các văn bản pháp lý, và việc áp dụng các yêu cầu về xây dựng đối với nhà ở nói chung cũng còn chưa tốt và công tác giám sát còn lỏng lẻo.
Theo tìm hiểu thực tế, các tiêu chuẩn xây dựng này được tuân thủ chặt chẽ tại các dự án quy mô lớn, tuy nhiên đối với các dự án quy mô nhỏ thì việc áp dụng các tiêu chuẩn này còn chưa được nghiêm túc. Do thiếu nhân lực và kinh phí nên công tác kiểm tra và giám sát việc tuân thủ các quy định về xây dựng còn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc còn tồn tại nhiều công trình không đạt tiêu chuẩn. 

5. Kết luận

Các chính sách về NOXH trải qua các thời kỳ lịch sử đã cố gắng theo kịp sự phát triển cũng như các mô hình chuyển đổi kinh tế - xã hội của Việt Nam. Xu hướng chính trong các chính sách ban hành gần đây là càng ngày càng nhấn mạnh việc khuyến khích thực hiện dự án xây dựng nhà ở xã hội theo phương thức xã hội hóa (Đối tác công – tư).Dựa trên các xu hướng này, các tổ chức tín dụng, đầu tư,… đã triển khai được nhiều chương trình ưu đãi, kích thích phát triển NOXH. Tuy nhiên, giữa thực tế và chính sách bao giờ cũng có độ trễ nhất định, và trong bối cảnh thị trường nhà ở nói chung vẫn còn nhiều bất cập, NOXH cho công nhân cũng mới đáp ứng được một nhu cầu ở rất nhỏ so với thực tế đòi hỏi. Hơn 80% công nhân vẫn chưa có nhà để ở, trong khi đó các chủ đầu tư vẫn không mặn mà trong việc đầu tư. Một số phân tích chỉ ra rằng, trong giai đoạn hiện nay, mặc dù xã hội hóa là xu hướng tất yếu, tuy nhiên trong lĩnh vực NOXH cho công nhân này, vai trò của nguồn vốn Ngân sách vẫn đang là quyết định.
Tình hình thực tế triển khai này đòi hỏi việc hoàn thiện bổ sung và cập nhật các chính sách cho NOXH, đặc biệt NOXH cho công nhân càng cần phải sát sao và kịp thời, toàn diện và bao trùm trên mọi ngành, mọi lĩnh vực. 

ThS, KTS. Lê Thị Thuý Hà 
Phó trưởng phòng Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Phát triển Đô thị, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Quốc gia, Bộ Xây dựng. Email : Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó , điện thoại 0913381939

Bài viết tại Hội thảo”Nơi ở CN KCN: Nhà ở, Sinh kế và Cộng đồng”, Hà Nội, 12/12/2018

----------------------- 

Tài liệu tham khảo
1. Cục Quản lý Nhà ở và Thị trường bất động sản - Bộ Xây dựng (2016, 2017), Báo cáo tình hình xây dựng nhà ở xã hội toàn quốc 2016, 2017.
2. Lê Thị Thúy Hà (2015), Nghiên cứu các mô hình quản lý nhà ở xã hội cho các đối tượng thuê nhà tại các đô thị, Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ, Bộ Xây dựng.
3. Lê Thị Thúy Hà, Trần Gia Lượng (2014),“Phát triển nhà ở xã hội cho thuê – Bài toán chung của ngành xây dựng và ngân hàng”,Hội thảo khoa học quốc tế “Quản lý thị trường bất động sản và vai trò của các định chế tài chính: Kinh nghiệm của Nhật Bản và gợi ý chính sách cho Việt Nam” - BIDV và Ngân hàng SuMi TRUST - SMTB (Nhật Bản) đồng tổ chức, Hà Nội 06/08/2014.
4. Báo ảnh Dân tộc và Miền núi (2018), 
http://dantocmiennui.vn/chinh-sach/kho-khan-trong-phat-trien-nha-o-xa-hoi/175779.html, truy cập ngày 25/12/2018.

 
 
Tin đã đưa:

“Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.”

 
Trí thức trẻ là người tốt nghiệp đại học, tuổi từ 39 trở xuống. Do thu nhập sau ra trường hạn hẹp, thị trường nhà ở giá rẻ khan hiếm, nên điều kiện về an cư để lạc nghiệp còn khó khăn. Các bạn trí thức trẻ ước muốn gì về nơi ở của riêng mình (không phải do thừa kế, đi thuê):
 
 
 
Trong thời đại CMCN 4.0, Chuyển đổi số không còn là điều tốt đẹp nên có, mà là điều bắt buộc đối với tất cả tổ chức và doanh nghiệp, gắn với Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số. Trong bối cảnh đô thị hóa, ngành XD có vai trò tiên phong trong Chuyển đổi số đế nâng cao năng lực cạnh tranh. Người ta còn cho rằng "QH đô thị là bệ phóng cho Chuyển đổi số". Lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp XD phải chấp nhận và thích ứng dần với quá trình Chuyển đổi số. Các bạn SV, cựu SV trong lĩnh vực XD - Công dân kỹ thuật số trong tương lai, nghĩ gì về nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực Chuyển đổi số trong cơ sở đào tạo ĐH:
 
 
Thông báo

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com