Tuần 37 - Ngày 21/04/2019
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
NCKH khác
Khái quát việc làm, đời sống của CN và thiết chế của tổ chức công đoàn phục vụ CN trong KCN
11/02/2019
 

Khái quát việc làm, đời sống của công nhân, lao động trong các doanh nghiệp và chủ trương xây dựng thiết chế của tổ chức công đoàn Việt Nam phục vụ công nhân, lao động trong các khu công nghiệp


Ảnh minh họa


Tóm tắt: Bảo đảm việc làm và không ngừng nâng cao đời sống là khát khao của mỗi người lao động và cũng là trách nhiệm của Nhà nước cũng như của các tổ chức xã hội. Đó cũng phương châm lấy con người làm mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Trong hơn 30 năm Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, vấn đề này đã được cài thiện rất nhiều. Tuy nhiên, đời sống, việc làm của phần lớn công nhân, lao động (CNLĐ) trong các doanh nghiệp vẫn còn nhiều bấp bênh. Hầu hết CNLĐ phải làm thêm nhiều giờ mới đủ sống. Họ sẽ rơi ngay vào tình trạng nghèo khó nếu bị ốm đau hoặc không làm thêm giờ. Bên cạnh đó, vấn đề an sinh xã hội, việc bảo đảm các điều kiện sinh sống bên “ngoài hàng rào” doanh nghiệp, bên “ngoài hàng rào” khu công nghiệp đang là vấn đề hết sức đáng quan tâm. Đặc biệt là vấn đề nhà ở và các cơ sở hạ tầng giáo dục – y tế - thể thao - văn hoá – giải trí… đang là vấn đề bức xúc, cấp bách ở hầu hết các khu công nghiệp trong cả nước. Vì vậy, chia sẻ và cộng đồng trách nhiệm với Nhà nước, với CNLĐ, Tổ chức Công đoàn Việt Nam đã chủ trì huy động các nguồn lực để bắt đầu đầu tư, xây dựng các thiết chế quan trọng này. Phn đấu đến năm 2030, tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất lớn trên cả nước đều có thiết chế của công đoàn nhằm hỗ trợ CNLĐ trong các KCN giảm bớt khó khăn, giúp NLĐ an cư lạc nghiệp, góp phần tăng năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và cả nước.

I. Khái quát việc làm, đời sống của lao động trong các loại hình DN
 

- Tính đến cuối năm 2017, Việt Nam có 14,88 triệu CNLĐ trong các loại hình doanh nghiệp, tăng 29,8% so với năm 2013, nhưng tăng không đồng đều giữa các ngành, loại hình doanh nghiệp.
Trong 05 năm qua, số lượng CNLĐ tăng khá nhanh, bình quân 5,49%/năm. Trong khi CNLĐ khu vực doanh nghiệp nhà nước, ngành nông – lâm – thuỷ sản giảm, thì CNLĐ trong doanh nghiệp doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ lại tăng nhanh[1][2].
Số lượng CNLĐ trong các doanh nghiệp giai đoạn 2013 – 2017
Đơn vị: Triệu người
  12/2013 12/2014 12/2015 12/2016 12/2017
                Tổng số 11,46 12,05 12,86 14,01 14,88
Theo khu vực          
Khu vực doanh nghiệp nhà nước 1,56 1,45 1,37 1,29 1,24
Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước 6,85 7,15 7,71 8,57 9,06
Khu vực có vốn đầu tư nuớc ngoài 3,05 3,45 3,77 4,15 4,58
Theo ngành kinh tế          
Nông - Lâm nghiệp và Thuỷ sản 0,26 0,26 0,26 0,25 0,25
Công nghiệp, xây dựng 7,49 7,94 8,45 9,09 9,64
Thương mại và dịch vụ 3,71 3,84 4,14 4,67 4,95
Nguồn: Số liệu năm 2013 – 2016: Vụ thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Tổng cục Thống kê, tháng 5/2018. Số liệu năm 2017 là do Viện CNCĐ tính toán.
Không chỉ tăng về số lượng, mà chất lượng nhìn chung của CNLĐ cũng có một số mặt chuyển biến tích cực; trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của CNLĐ tăng nhưng không nhiều, kỹ năng, kinh nghiệm làm việc còn hạn chế; năng suất lao động tăng nhưng chậm[3][4][5].

- Mặc dù có nhiều việc làm trong lĩnh vực công nghiệp – dịch vụ được tạo ra, nhu cầu tuyển dụng lao động không ngừng tăng lên, nhưng hầu hết là việc làm sử dụng lao động phổ thông, với tiền lương, thu nhập khá thấp.[6][7]

Dệt may, da giày, điện tử, chế biến thuỷ hải sản là những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông nhất và mức tiền lương, thu nhập cũng thấp nhất trong các ngành[8].Việc thực hiện hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp đã đạt được nhiều tiến bộ, tỷ lệ ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc 2-3 năm tăng. Tuy vậy, phần lớn hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là có thời hạn[9]. Mặc dù vậy, vẫn còn gần 10% CNLĐ chưa được doanh nghiệp ký hợp đồng lao động đúng theo quy định: CNLĐ chỉ được giao kết hợp đồng bằng lời nói, hợp đồng thời vụ hoặc hợp đồng ngắn hạn ngay cả khi đang làm những công việc có tính chất ổn định, lâu dài tại doanh nghiệp. Nhiều CNLĐ đã buộc phải chấp nhận ký 3 - 4 lần hợp đồng lao động ngắn hạn theo yêu cầu từ phía doanh nghiệp. Có không ít CNLĐ đã bị mất việc và ra khỏi dây chuyền sản xuất sau khi đã làm việc trong thời gian tương đối dài cho doanh nghiệp (sau nhiều lần ký hợp đồng lao động ngắn hạn) để doanh nghiệp tuyển lao động mới.[10] Điều này đang đặt ra nhiều thách thức về bảo đảm việc làm bền vững và việc sửa đổi thực thi chính sách, luật lao động hiện nay.
- Tiền lương, thu nhập của CNLĐ mặc dù đã từng bước được cải thiện nhưng vẫn đang là vấn đề bức xúc nhất hiện nay.[11]
Do việc làm bấp bênh, cùng với một số hạn chế trong việc áp dụng chính sách tiền lương hiện nay, mức lương tối thiểu vùng đã tăng 1,69 lần[12] trong vòng 5 năm qua nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ, nên hiện có một bộ phận không nhỏ CNLĐ có thu nhập thấp, cuộc sống khá khó khăn. Số CNLĐ có dư dật, tích lũy và khá hài lòng, an tâm với việc làm, cuộc sống hiện nay chủ yếu thuộc lao động quản lý, lao động có trình độ chuyên môn cao.[13]
Một tình trạng khá phổ biến là nhiều doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho CNLĐ dựa trên mức lương tối thiểu vùng nên mức lương cơ bản, làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho NLĐ rất thấp, chỉ trên mức lương tối thiểu vùng khoảng 10 - 15%. thậm chí, cókhông ít nơi, CNLĐ bị cắt giảm các chế độ phúc lợi, tiền thưởng khi tiền lương tối thiểu và mức đóng bảo hiểm xã hội tăng.[14]

- Tiền lương thấp, thu nhập chưa đảm bảo, cùng với chính sách sử dụng lao động thiếu bền vững của nhiều doanh nghiệp dẫn đến sự biến động lao động lớn, số lao động di chuyển, thất nghiệp, tìm kiếm việc làm mới, chấm dứt quan hệ lao động tăng.[15]

Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho số người chấm dứt hợp đồng lao động tăng cao trong những năm gần đây: trong 04 năm, từ năm 2014 đến năm 2017, trung bình có 540.000 người nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp/năm; số người chấm dứt quan hệ việc làm để hưởng bảo hiểm xã hội một lần trung bình là 650 nghìn người/năm – một con số đáng báo động.[16]Nếu tình trạng này tiếp diễn, hệ quả sẽ rất lớn đối với hệ thống an sinh xã hội quốc gia và đời sống của NLĐ và gia đình họ về sau.[17]
Có một nghịch lý khá phổ biến là, mặc dù lương và thu nhập không cao nhưng CNLĐ hiện đang phải làm việc với cường độ cao, thời gian kéo dài. CNLĐ ở một số ngành, lĩnh vực phải làm thêm giờ nhiều, có khi lên đến 60 giờ/tháng, như ngành dệt may, điện tử, da giày, chế biến thuỷ hải sản... Nguyên nhân CNLĐ phải làm thêm giờ một phần là do sức ép từ phía doanh nghiệp (để kịp đơn hàng, giao nộp sản phẩm kịp thời, bảo đảm tiến độ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; nhiều doanh nghiệp chọn biện pháp làm thêm giờ thay cho việc đầu tư thêm máy móc, mở rộng nhà xưởng…); một phần do tiền lương quá thấp, khó bảo đảm nhu cầu sống của bản thân, cộng với chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, phụng dưỡng cha mẹ tăng nhanh khiến cho CNLĐ muốn làm thêm giờ và buộc phải làm thêm giờ để có thêm thu nhập trang trải cuộc sống. Những CNLĐ có thu nhập bảo đảm, đều muốn làm việc đúng giờ theo quy định, để có thời gian nghỉ ngơi, chăm sóc cho bản thân và gia đình, học tập, vui chơi, giải trí.

- Điều kiện sống của CNLĐ được nâng lên, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn.

Nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt đã được cải thiện, các cơ sở giáo dục mầm non phục vụ con CNLĐ, nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng tại các khu công nghiệp tập trung đã được Nhà nước, các cấp chính quyền, tổ chức công đoàn, cộng đồng doanh nghiệp quan tâm đầu tư xây dựng, góp phần ổn định đời sống CNLĐ. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ CNLĐ vẫn phải sống trong những khu trọ chật trội, ẩm thấp, thiếu ánh sáng, thiếu tiện nghi sinh hoạt, thiếu sự giao lưu, chia sẻ, đời sống tinh thần nghèo nàn.
Để nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, CNLĐ đang phải làm việc rất vất vả, thời gian kéo dài, hy sinh việc chăm sóc con cái, nghỉ ngơi, ảnh hướng xấu đến sức khoẻ trước mắt và lâu dài. CNLĐ sẽ rơi ngay vào tình cảnh “nghèo khó, túng quẫn” khi họ gặp những cú sốc dù nhỏ, hoặc nghỉ làm việc ít ngày và ngay cả khi không làm thêm giờ. Đặc biệt, những gia đình CNLĐ đang nuôi con hoặc phụng dưỡng cha mẹ… thì phải sống rất kham khổ, phải sử dụng các sản phẩm – dịch vụ rẻ tiền, kém an toàn… nhằm tiết kiệm tối đa chi phí. Vì thế, CNLĐ không có điều kiện để vui chơi, giải trí, hưởng thụ đời sống văn hoá – tinh thần.

- Vấn đề an ninh việc làm, an sinh xã hội và bảo đảm việc làm bền vững của CNLĐ cũng đang là vấn đề bức thiết.

Số lượng CNLĐ không hài lòng về việc làm, cuộc sống hiện tại có xu hướng giảm nhưng chậm.[18]Có một thực tế đang tồn tại là, 98% số doanh nghiệp ở nước ta hiện nay là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó 72,8% là doanh nghiệp siêu nhỏ, sản xuất thiếu ổn định, cạnh tranh kém, nên số lượng thành lập lớn, nhưng giải thể, phá sản hàng năm cũng cao.Hiện tượng các đơn vị, doanh nghiệp có biểu hiện tìm cách chấm dứt hợp đồng lao động không công bằng đối với lao động trung niên, lao động có số năm làm việc cao, đặc biệt là lao động nữ gia tăng nhưng còn thiếu các biện pháp xử lý, gây bức xúc cho CNLĐ.[19]

- Việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội đã có một số mặt tích cực, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vi phạm và là một trong những vấn đề gây bức xúc trong CNLĐ.

Tính đến hết năm 2017, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 13.591 nghìn người, tăng 26,8% so với năm 2013; số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 11,4 triệu người, tăng 37,9% so với năm 2013[20]. Theo cơ quan quản lý, tình trạng doanh nghiệp trốn đóng, nợ đọng bảo hiểm diễn ra khá phổ biến. Hiện có khoảng 500 nghìn doanh nghiệp hoạt động, nhưng chỉ có 235 nghìn doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội, đạt khoảng 47%. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội so với lực lượng lao động còn thấp, mới đạt 25,05%. Nhiều CNLĐ nữ không được giải quyết chế độ thai sản do doanh nghiệp nợ đọng hoặc trốn đóng bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó, mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp, trung bình bằng khoảng 70% mức lương thực tế và chỉ xấp xỉ mức lương tối thiểu vùng. Điều này dẫn đến những bức xúc trong CNLĐ.[21]

- Trong những năm qua, với sự nỗ lực của các bên, việc xây dựng quan hệ lao động “hài hoà, ổn định và tiến bộ” đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế.

Hiện tượng quản lý hà khắc, đối xử thiếu công bằng, xúc phạm CNLĐ đã giảm rõ rệt. Nhiều kiến nghị bức thiết của CNLĐ đã được lắng nghe và từng bước giải quyết. Nhiều doanh nghiệp không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, đồng thời chú trọng hơn công tác bảo hộ lao động. Tuy nhiên, điều kiện lao động ở nhiều cơ sở vẫn còn hạn chế, nhất là trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có quy mô nhỏ, tình trạng nhà xưởng chật hẹp, máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu, nồng độ bụi, hơi khí độc ở nhiều cơ sở vượt quá tiêu chuẩn cho phép, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và bệnh nghề nghiệp cả trước mắt và lâu dài cho CNLĐ[22]. Việc tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động tại nhiều cơ sở chưa nghiêm, tình hình tai nạn lao động có xu hướng gia tăng cả về số vụ cũng như mức độ thiệt hại, có nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.[23]

- Mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ lao động; tranh chấp lao động xẩy ra ở khu vực doanh nghiệp vẫn còn diễn biến phức tạp. 
Trong 05 năm, từ năm 2013 đến hết năm 2017,cả nước đã xảy ra 1.622cuộc đình công, ngừng việc tập thể. Đình công chủ yếu diễn ra ở doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong các ngành dệt may, giày da, chế biến gỗ, điện, điện tử.[24]Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động, đình công là do nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư  trực tiếp nước ngoài, vi phạm pháp luật lao động; điều kiện làm việc chậm được cải thiện, an toàn vệ sinh lao động không đảm bảo, phân phối tiền lương, phúc lợi tập thể thiếu minh bạch, chưa công bằng; tình trạng làm thêm giờ vượt quá mức quy định diễn ra phổ biến, nợ hoặc trốn đóng bảo hiểm xã hội, không đảm bảo điều kiện làm việc cho CNLĐ v.v…. Vai trò của công đoàn cơ sở và cấp trên cơ sở trong giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách tại doanh nghiệp chưa tốt; chưa kịp thời phát hiện những vấn đề mâu thuẫn trong quan hệ lao động để phối hợp xử lý, hoà giải, đối thoại, thương lượng nhằm giải quyết tranh chấp để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho đoàn viên và CNLĐ cũng là nguyên nhân dẫn tới tranh chấp lao động.

II. Chủ trương xây dựng thiết chế của Công đoàn Việt Nam phục vụ CNLĐ trong các khu công nghiệp trong cả nước
 

Đứng trước thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ CNLĐ trong các khu công nghiệp tập trung hiện nay, cùng với nhu cầu chính đáng và mong muốn của CNLĐ và các doanh nghiệp trong KCN, được sự ủng hộ của Nhà nước và các Tỉnh, Thành phố, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã đề xuất và được Chính phủ phê duyệt và giao cho Công đoàn chủ trì thực hiện Đề án “Đầu tư xây dựng các thiết chế của công đoàn tại các khu công nghiệp, khu chế xuất” bắt đầu tư năm 2017[25].
Nội dung cơ bản của Đề án là giao cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì, huy động các nguồn lực của Công đoàn, Chính quyền các Tỉnh, Thành phố và các nguồn lực xã hội để xây dựng nhà ở, nhà trẻ, cơ sở giáo dục, y tế, nhà thuốc, siêu thị, công trình văn hóa, thể thao và các công trình hạ tầng thiết yếu khác...
tại các khu công nghiệp, khu chế xuất nhằm quan tâm, tạo điều kiện nâng cao đời sống CNLĐ trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Phấn đấu đến năm 2030, tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất lớn trên cả nước đều có thiết chế của công đoàn.
Sau hơn 1 năm triển khai, tính đến cuối năm 2018, cả nước  đã có tổng cộng 22 tỉnh thành có giới thiệu địa điểm đất, trong đó: Có 03 tỉnh xong thủ tục chuẩn bị đầu tư: Hà Nam, Quảng Nam, Tiền Giang; Có 05 tỉnh đã có chủ trương đầu tư và đang lập quy hoạch tổng mặt bằng tỷ lệ 1/500: Hưng Yên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Trà Vinh; Có 14 tỉnh, thành phố có giới thiệu sơ bộ về địa điểm, đang nghiên cứu nhu cầu để trình thủ tục xin chủ trương đầu tư của Tổng Liên đoàn: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ngãi, TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Bình Định, Quảng Trị, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Nghệ An, Tuyên Quang, Vĩnh Long...[26]
Đến thời điểm hiện tại Tổng Liên đoàn đã phê duyệt chủ trương đầu tư của 08 dự án tại các tỉnh: Hà Nam, Quảng Nam, Tiền Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Phú Thọ, Trà Vinh, Vĩnh Phúc. Các công trình – thiết chế này đang trong quá trình xây dựng và sẽ sớm đi vào vận hành. Góp phần cùng Nhà nước, xã hội và bản thân mỗi CNLĐ trong việc nỗ lực cải thiện điều kiện sống, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho CNLĐ. Đó cũng là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và tổ chức đại diện của NLĐ – tổ chức Công đoàn.

TS. Vũ Minh Tiến, Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Bài viết tại Hội thảo”Nơi ở CN KCN: Nhà ở, Sinh kế và Cộng đồng”, Hà Nội, 12/12/2018

Tài liệu tham khảo 
1. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2018): Đề tài cấp Bộ “Giải pháp nâng cao phúc lợi cho đoàn viên và người lao động”.
2. Viện Công nhân và Công đoàn - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2018): Báo cáo tình hình công nhân, lao động, cán bộ, công chức phục vụ xây dựng Văn kiện Đại hội XII Công đoàn Việt Nam.
3. Viện Công nhân và Công đoàn - Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Tổng hợp một số kết quả khảo sát, điều tra công nhân – công đoàn – tiền lương từ năm 2007 đến nay.
4. Vụ Thống kê Công nghiệp và Xây dựng – Tổn cục Thống kê: Báo cáo số liệu lao động trong các loại hình doanh nghiệp 2013 – 2017 phục vụ xây dựng Văn kiện Đại hội XII Công đoàn Việt Nam. 

[1]. Theo số liệu của Vụ thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Tổng cục Thống kê: Số CNLĐ cuối năm 2017 tăng 3,42 triệu người, tương đương tăng 29,8%, so với năm 2013. Trong đó: doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên  là 1,24 triệu người (giảm … so với 2013), doanh nghiệp ngoài nhà nước là 9,06 triệu người (tăng….. % so với năm 2013), doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 4,58 triệu người (tăng.% so với 2013).
Cơ cấu lao động nền kinh tế năm 2017: dịch vụ chiếm 34,13%; công nghiệp, XD chiếm 26,12%; nông lâm thủy sản, chiếm 39,75%. Năm 2013 tỷ lệ tương ứng là: 32,0%; 21,2%, 46,8%
[2]. Theo báo cáo Bộ LĐTBXH, năm 2017, cả nước đã tuyển sinh mới khoảng 2,2 triệu người, trong đó cao đẳng, trung cấp nghề là 540 nghìn người; sơ cấp và đào tạo ghề dưới 3 tháng là 1.660 nghìn người. Có khoảng 600 nghìn lao động nông thôn và 20 nghìn người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo nghề. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT vào đại học, cao đẳng là 50%; vào cao đẳng nghề và trung cấp chuyên nghiệp là 23%; học nghề tại trung tâm đào tạo nghề là 13%.
[3]. So với năm 2013, trình độ CNLĐ tốt nghiệp đại học trở lên tăng 2,6%; cao đẳng giảm 0,9%; trung cấp chuyên nghiệp tăng 0,2%; có chứng chỉ nghề tăng 3,3%.
[4]. Theo Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam số 16, quý 4 năm 2017 của Bộ LĐTB&XHvà Tổng cục Thống kê:đến hết quý 4/2017,cả nước có 12,02triệu người trong lực lượng lao động đã qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ,chiếm 21,8% lực lượng lao động, tăng nhẹso với cùng kỳ năm trước, trong đó: tỷ lệ lao động có trình độđại học trở lên là 9,74%; cao đẳng là3,44%; trung cấp là 5,23%; sơ cấp nghề là3,39%.
[5]. Khảo sát của TLĐ 2017: Năm 2017, có tới 77,3% CNLĐ có nhận thức tốt hơn về chính sách, pháp luật lao động, trên 83% CNLĐ đã có tiến bộ về tác phong công nghiệp, tính kỷ luật, tính tập thể và lối sống; 77,7% CNLĐ đã đáp ứng tốt công việc đảm nhận,v.v… Mặc dù vậy, vẫn còn19,7% CNLĐ trình độ, kỹ năng còn hạn chế; 14,8% CNLĐ chấp hành nội quy kỷ luật chưa tốt; 54,5% CNLĐ làm việc với tinh thần trách nhiệm còn hạn chế, v.v…
[6]. Xem bảng 2: Trong vòng 05 năm, hơn 2 triệu việc làm mới được tạo ra, trong đó, việc làm trong lĩnh vực thủ công, lắp ráp, vận hành máy móc, thiết bị tăng nhanh, chiếm trên 90% số việc làm được tạo ra.
[7]Bản tin cập nhật Thị trường lao động số 1 (quý I/2014) và số 16 (quý IV/2017) của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội: Năm 2013, có tới 80% nhu cầu tuyển dụng lao động là lao động phổ thông. Đến năm 2017, con số này là 67,7%.
[8]Khảo sát tiền lương, thu nhập của Viện CNCĐ các năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017:
[9]. Khảo của Viện CNCĐ năm 2017: có 91,81% CNLĐ được ký hợp đồng lao động, trong đó có 5,4% hợp đồng ngắn hạn (thời hạn dưới 12 tháng); 31,1% có hợp đồng có thời hạn từ 12 – 36 tháng; 54,3% có hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Tỷ lệ NLĐ có hợp đồng lao động, tại doanh nghiệp nhà nước chiếm 97,9% (không xác định thời hạn là 62,01%); các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là: 92,0% (không xác định thời hạn là 37,3%); các doanh nghiệp dân doanh là: 80,37% (không xác định thời hạn là 47,3%).
[10]. Khảo của Viện CNCĐ năm 2017.
[11]. Khảo sát của Viện CNCĐ năm 2017: Chỉ có 51,3% CNLĐ có thu nhập vừa đủ trang trải cuộc sống;Vẫn còn 20,6% cho biết phải chi tiêu tằn tiện, kham khổ12,0%cho biết thu nhập không đủ chi tiêu, phải làm thêm để cải thiện cuộc sống. Có 46,0% CNLĐ đang bức xúc vì tiền lương, thu nhập còn thấp so với công sức họ bỏ ra.
[12]. Mức lương tối thiểu trung bình của các vùng lương áp dụng năm 2013 là 1,975 triệu đồng/tháng, áp dụng năm 2018 là 3,342 triệu đồng/tháng.
[13]. Khảo sát của Viện CNCĐ năm 2017: Tiền lương và thu nhập của một bộ phận CNLĐ tại doanh nghiệp tăng (bình quân tăng 37,5% sau 05 năm), chỉ có có 20% CNLĐ (chủ yếu là cán bộ quản lý, công nhân tay nghềo cao…) có dư dật, tích lũy và khá hài lòng, an tâm với việc làm, cuộc sống hiện nay.
[14]. Khảo sát của Viện CNCĐ năm 2017.
[15]. Có 17,8% CNLĐ có ý định thay đổi công việc đang làm trong 03 năm tới.
[16]. Đài truyền hình Việt Nam: http://vtv.vn/linh-bao-hiem-xa-hoi-mot-lan.html
[17]. Tỷ lệ biến động lao động cao nhất thuộc các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện – điện tử, dệt may, giày da, thủy sản, chế biến gỗ - nhiều nơi là 20 – 30%/năm.
[18]. Hiện có khoảng 2/3 số CNLĐ (tập trung ở hầu hết số lao động trực tiếp) chưa hài lòng với việc làm và cuộc sống hiện tại; Thậm chí có tới 1/3 CNLĐ có thái độ tiêu cực trong lối sống, suy nghĩ và hành động.
[19]. Khảo sát của Viện CNCĐ năm 2017: Hiện nay, bình quân độ tuổi của CNLĐ trực tiếp trong các doanh nghiệp chỉ là 31,2, trong đó CNLĐ: điện - điện tử là 26,9, dệt may giầy da là 29,5, chế biến – chế tạo là 30,9…; Thời gian trung bình CNLĐ trực tiếp làm cho doanh nghiệp chỉ là 6,7 năm.
[20]. Báo cáo của Bảo Hiểm xã hội Việt Nam năm 2017.
[21]. Khảo sát của Viện CNCĐ năm 2017: 18,7% CNLĐ bức xúc vì doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội; 16,4% CNLĐ bức xúc vì DN không chốt sổ bảo hiểm xã hội khi NLĐ nghỉ việc; gần 20% bức xúc vì thanh toán chế độ bảo hiểm chưa kịp thời; gần 50% NLĐ bức xúc vì mức hưởng chế độ bảo hiểm thấp; Đặc biệt, có tới 62 % CNLĐ bức xúc vì nâng số năm đóng bảo hiểm lên 5 năm (30 năm lên 35 đối với nam; 25 năm lên 30 năm đối với nữ).
[22]. Theo báo cáo bộ Y tế, hàng năm cả nước chỉ có khoảng 20% CNLĐ được khám sức khỏe, nên tình trạng bệnh nghề nghiệp khó kiểm soát. Trong đó, số người khám sức khỏe chuyên sâu chỉ 100 nghìn người, phát hiện trên 5 nghìn người mắc bệnh nghề nghiệp.
[23]. Báo cáo Sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TLÐ ngày 19/11/2012 của Ðoàn Chủ tịch TLĐLĐVN về việc thực hiện thống kê, báo cáo tai nạn lao động trong hệ thống công đoàn: Từ năm 2013 – 2017, cả nước đã thống kê được 34.501 vụ tai nạn lao động. Trung bình mỗi năm đã xảy ra gần 7.000 vụ tai nạn lao động làm chết và bị thương trên 7.000 người, trong đó có 3.182 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng làm 3.427 người chết.
[24]. Tổng hợp của Ban Quan hệ lao độngTLĐ: Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 68,74%: Trong số 1.115 cuộc, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ Hàn Quốc xảy ra 443 cuộc, chiếm 39,73%; Đài Loan xảy ra 300 cuộc, chiếm 26,91%; Nhật Bản xảy ra 71 cuộc, chiếm 6,37%; các nước khác xảy ra 302 cuộc, chiếm 27,09%; doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 30,83%; doanh nghiệp nhà nước chiếm 0,43%. Đình công chủ yếu xảy ra trong ngành dệt may (41,3%), giày da (14,3%); nhưng phát triển thêm sang ngành chế biến gỗ (9,0%); ngành điện - điện tử giảm về tỷ lệ (5,43%). Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai là 03 địa phương có tỷ lệ CNLĐ đình công nhiều nhất, chiếm lầ lượt là 22,6%; 22,2%; và 10,0% – chiếm tới 75,9% tổng số cuộc đình công, ngừng việc tập thể trong cả nước.
[25]. Quyết định số 655/QĐ-TTg ngày 12/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ.
[26]. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2018): Kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Giải pháp nâng cao phúc lợi cho đoàn viên và người lao động”. 

Cập nhật ( 11/02/2019 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:
“ Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận.”
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com