Tuần 17 - Ngày 22/10/2021
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lịch sử Kiến trúc
Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam
24/11/2012

Thông tin chung:
Công trình: Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội
Địa điểm: Xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam  
Quy mô:
Năm hình thành:
Giá trị: Di tích kiến trúc nghệ thuật 

Đường Lâm là một xã thuộc thị xã Sơn Tây, Hà Nội, nằm bên hữu ngạn sông Hồng, cạnh đường Quốc lộ 32, tại ngã ba giao cắt với đường Hồ Chí Minh, nơi con sông Tích Giang chảy từ hướng hồ Suối Hai, huyện Ba Vì, qua xã Đường Lâm vào thị xã Sơn Tây.

Làng Đường Lâm xưa có tên nôm là Kẻ Mía. Tên này được bắt đầu từ chữ: Cam Giá (Mía ngọt). Cam Giá xưa được chia thành hai tổng: Cam Giá Thượng và Cam Giá Hạ. Cam Giá Thượng là các xã thuộc miền Cam Thượng, Thanh Lũng, Bình Lũng... (nay thuộc về huyện Ba Vì). Còn Cam Giá Hạ là xã Đường Lâm (nay thuộc thị xã Sơn Tây).
Đường Lâm gồm 9 làng, trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau. Các làng này gắn kết với nhau thành một thể thống nhất về phong tục, tập quán và tín ngưỡng đã hàng ngàn năm. Trung tâm của xã Đường Lâm là làng Mông Phụ.
Đầu thế kỷ 19, Đường Lâm là nơi đặt lỵ sở của trấn Sơn Tây. 

Hiếm có một xã nào tại Đồng bằng sông Hồng lại hội tụ được nhiều điều mong ước như tại Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội.

Đường Lâm về phong thủy được cho nằm trên thế đất “Tọa sơn vọng thủy” tức lưng tựa vào núi Tản (núi Ba Vì) - núi Tổ của Việt Nam, mặt ngoảnh ra sông Hồng - sông Cái, sông Mẹ. Đây cũng là một “tứ giác nước” được bao bọc bởi sông Đà, sông Tích, sông Đáy và sông Hồng. Vùng đất có nhiều đồi gò với các huyệt đế vương.  

Đường Lâm là vùng đất địa linh, nhân kiệt. Đây là quê hương của bà Man Thiện (? - 43, là mẹ của Hai Bà Trưng); Đây được cho là vùng đất hai vua, nơi sinh của Bố Cái Đại vương Phùng Hưng (? - 791, lãnh tụ cuộc nổi dậy chống sự đô hộ của nhà Đường thời Bắc thuộc lần thứ 3, năm 602905) và vua Ngô Quyền (Tiền Ngô Vương, trị vì năm 939 đến năm 944); Đây cũng là mảnh đất gắn liền với danh nhân nổi tiếng như Thám hoa Giang Văn Minh (năm 1573 - 1638, khi đi sứ vì đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc, bị vua nhà Minh sát hại); bà chúa Mía (Nguyễn Thị Ngọc Giao, người xây chùa Mía, vương phi của chúa Trịnh Tráng)… 

Đường Lâm là một ngôi làng truyền thống thuần Việt tại vùng Đồng bằng Bắc Bộ, chưa bị biến đổi nhiều theo quá trình đô thị hóa. Ngoài nhà ở đa phần còn giữ được cốt cách xây dựng truyến thống, tại đây còn bảo tồn được hệ thống chùa, đình, đền miếu, nhà thờ, giếng cổ, đường ngõ… với nhiều di vật, cổ vật; kèm theo đó là hệ thống cảnh quan môi trường nông thôn sinh động với 36 gò đồi, 18 rộc sâu, 49 ao, hồ, vũng, chuôm, nhiều cây đa, đề, si, ruối…cổ thụ.  

Đường Lâm là vùng đất gắn liền với di tích lịch sử, văn hóa Nho học. Tại đây có Văn miếu Sơn Tây, ngoài chức năng thờ cúng Khổng Tử và các vị tiên Nho, còn là nơi đào tạo nhân tài và lưu danh các bậc hiền tài mà danh tiếng, công tích của họ đã làm rạnh danh quê hương, đất nước. Trước thời nhà Nguyễn cho tới năm 1831, đây là một trong 4 văn miếu của tứ trấn Thăng Long (Văn Miếu Bắc Ninh; Văn Miếu Xích Đằng, Hưng Yên; Văn Miếu Mao Điền, Hải Dương; Văn miếu Sơn Tây, Hà Nội). 

Đường Lâm còn là vùng đất có rất nhiều địa danh gắn với Thần tích, tạo cho con người nơi đây đức tin sâu rộng đủ để bao dung và thức tỉnh làm những điều tốt đẹp.


Sơ đồ làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Phối cảnh làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Một số công trình tiêu biểu tại làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội: 

Cổng, đường làng, ngõ xóm, giếng, điếm canh 

Cổng làng Mông Phụ
Đường Lâm được cho có tới 5 cổng, một cổng lớn và 4 cổng trấn tứ phương, nhưng hiện tại chỉ còn sót lại cổng làng Mông Phụ.
Cổng làng Mông Phụ nằm tại phía Đông của Đường Lâm, ngay trên đường vào làng, nơi phân định không gian lao động nông nghiệp ở phía ngoài và không gian sinh sống phía trong làng.
Gắn với với cổng là đường làng, cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi, ao làng và cánh đồng lúa mênh mông.
Cổng làng Mông Phụ không giống như cổng làng thông thường vùng Bắc Bộ với các tầng mái và cửa cuốn tò vò, mà là một ngôi nhà 1 gian, đầu hồi bít đốc, 2 mái; là nơi cho người gánh lúa nghỉ ngơi, chỗ trú cho người đi tuần làng.
Công trình có quy mô không lớn, kiến trúc đơn giản, song lại là biểu tượng và bộ mặt của làng cổ Đường Lâm bởi cách thức xây dựng và các cảnh quan phụ trợ: Tường của cổng làng được xây đá ong trần; Hai cánh cổng được làm bằng gỗ lim, xoay trên hai cối cổng bằng đá và hai bánh xe gỗ bọc thép. 
Cổng làng Mông Phụ có kết cấu tương tự như các công trình chính trong đền, đình của làng. Bên trong cổng có các hàng câu đối. Một câu đối trong đó cho biết cổng làng được dựng vào năm 1533. Một câu đối khác khắc trên thượng lương dòng chữ “Thế hữu hưng nghi đại”, như một thông điệp của làng gửi những người tới thăm: Đây là ngôi làng hưng thịnh nhờ biết thích nghi, hòa với đại đồng.  

Qua cổng làng đến các cổng thôn, qua cổng thôn vào đến cổng nhà.
Hệ thống cổng làng, cổng thôn và cổng nhà thường được xây bằng gạch ong, tạo nên một đặc trưng của làng cổ Đường Lâm.
 


Cổng làng Mông Phụ một trong những hình ảnh tiêu biểu của Đường Lâm
, Sơn Tây, Hà Nội


Phối cảnh cổng làng Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Triết lý văn hóa của làng khắc trên thượng lương cổng làng Mông Phụ: “Thế hữu hưng nghi đại

Đường làng, ngõ xóm
Hệ thống đường xá của Đường Lâm có hình xương cá hay hình dẻ quạt. Mọi con đường làng đều dẫn tới đình làng. Đường làng lát gạch nghiêng chạy giữa những bức tường nhà cổ.
Từ đường làng có các đường ngõ lát gạch toả đi các hướng để đến từng thôn xóm trong làng.


Hình ảnh đường làng tại Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Hình ảnh một ngõ xóm tại Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Giếng làng
Truyền thuyết cho rằng Cao Biền (tướng quân và nhà phong thủy triều nhà Đường, 821- 887) đã dùng pháp thuật đào 100 cái giếng xung quanh chân núi Ba Vì trong đó có Đường Lâm để triệt long mạch. Nhưng cứ đào gần xong giếng nào thì giếng đó lại bị sập, nên đành phải bỏ cuộc.
Làng cổ ở Đường Lâm có nhiều giếng. Mỗi xóm đều có một giếng mang tên của xóm. Ngày nay, một số giếng vẫn còn được lưu lại do gắn liền với các thần tích.
Tại khu vực đình Mông Phụ có hai giếng- giếng đình Mông Phụ và giếng Miễu, được cho là hai mắt rồng.
Tại chân núi Cấm, phía Tây Nam xã Đường Lâm có một giếng đặc biệt – giếng Chuông Sa hay “giếng Sữa”. Tương truyền, khi đây vẫn còn hoang sơ, một đứa trẻ chào đời vào thời loạn lạc, bị bỏ rơi, khát sữa khóc dưới chân núi. Một bà lão đi ngang qua, bế cháu và đi tìm nhà dân cứu giúp. Đi mãi, tới một thung lũng dưới chân núi, thấy một mạch nước chảy ra từ hang đá, bà lấy nước cho cháu bé uống. Đứa trẻ bỗng ngừng khóc và thiếp ngủ trên tay bà. Từ đó, bà dựng lều tại đây nuôi đứa trẻ. Khi mất, người dân trong vùng lập miếu thờ bà, gọi là “Miếu mẹ” và xây giếng trên mạch nước thiêng, gọi là “giếng Sữa”. Có năm khô hạn, tất cả giếng làng cạn trơ đáy thì giếng thiêng vẫn đầy ắp nước. Ngày nay, giếng Chuông Sa được kè bằng đá ong, đường kính 70 - 80cm, sâu hơn 1m. Giếng được cho mang lại điều kì diệu cho phụ nữ đang nuôi con nhỏ bị mất sữa và hiện được nhiều người tìm đến. 


Hình ảnh một trong những giếng làng tại Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


“Giếng Sữa” – giếng Chuông Sa tại làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Điếm canh
Các điếm canh tại Đường Lâm đều được xây bằng gạch và lợp ngói, phân bố ở các khu xóm trong làng. Đây là nơi phục vụ các phiên tuần hay dân binh canh phòng trong đêm.

Một số điếm canh vẫn còn tồn tại đến ngày nay, trở thành miếu thờ. Bên trong có bệ xây làm bàn thờ. Trên ban thờ có mũ thờ thổ công, bát hương, vàng mã, mõ gỗ và ngựa giấy. Ngày Rằm, mùng Một dân làng vẫn ra thắp hương. 


Hình ảnh một điếm canh tại làng Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Nhà ở  
Làng cổ ở Đường Lâm có niên đại trong khoảng 500 năm. Đặc điểm của các nhà cổ, cùng với các thiết chế xã hội, tín ngưỡng và không gian văn hoá, đã phản ánh khá đầy đủ hoạt động kinh tế, xã hội cũng như sinh hoạt của người dân xứ Đoài vào thế kỷ 16 – 19, trong một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống.  

Loại nhà cổ tại Đường Lâm
Đường Lâm hiện vẫn còn lưu giữ được hơn 800 ngôi nhà có niên đại từ 100 đến trên 200 năm.
Loại nhà cổ trên 200 năm còn lại rất ít, chủ yếu là nhà của quan lại, thương gia, hoặc những người có vị thế trong xã hội phong kiến xưa.
Loại nhà có niên đại trên 100 năm đến dưới 200 năm hiện phổ biến ở Đường Lâm.
Ngày nay, nhà ở tại Đường Lâm được bổ sung nhiều loại nhà mới dạng thành thị với mái bằng, mái lợp tôn; vật liệu xây dựng mới như bê tông, kính… 

Các thành phần của nhà truyền thống
Trung bình nhà ở Đường Lâm có diện tích trên dưới 300 m2, bố cục chủ đạo theo hướng Nam, Đông, gồm các thành phần chủ yếu:
i) Cổng: Không trùng với chính giữa cửa chính của nhà chính; xây bằng gạch đá ong, cuốn vòm, đắp hoa văn trang trí; cánh cổng bằng gỗ, bên trong có then cài; một số cổng lợp mái ngói.
ii) Tường rào: Hầu hết xây bằng đá ong hay gạch, cao trên đầu người; một số ít nhà có khuôn viên rộng, rào bằng cây bụi, tre.
iii) Lối đi và sân: Lối đi vào nhà lát gạch hoặc bằng đất nện đầm kỹ, hai bên lối đi trồng cây ăn quả, cau. Sân là nơi phơi thóc, tổ chức đình đám của gia đình. Nhà giầu thường có sân rộng lát gạch. Các ngôi nhà của người dân Đường Lâm gắn với nhiều nghề truyền thống, trong đó có nghề làm tương. Các hũ gốm đựng tương thường đặt tại sân nhà.
iv) Vườn: Tuỳ theo hướng nhà, hình dáng, kích thước khuôn viên, mà được bố trí ở đằng trước, sau hay bên cạnh nhà chính. Thông thường, vườn rau bố trí ở trước nhà, vườn cây ăn quả ở phía sau.
v) Bình phong: Được xây bằng gạch có dạng cuốn thư, trên có đắp hình trang trí phong cảnh, hoa lá, đôi khi chỉ là một bức tường giản đơn.
vi) Nhà chính: Là nơi cư trú, của gia đình từ có 3 đến 4 thế hệ cùng sinh sống; xây trên một nền cao hơn nhà ngang và nhà bếp. Mặt bằng thường có số gian lẻ 3, 5, 7 gian và hai chái.

Ba gian giữa thông nhau, không có vách ngăn, có chức năng thờ cúng, tiếp khách, sinh hoạt chung của gia đình, chỗ ngủ của đàn ông, khách nam giới. Nhiều gia đình ở Đường Lâm ngoài ban thờ gia tiên còn có riêng ban thờ mẫu Tam phủ, thờ Đức Thánh Trần; thờ Thổ công…Tại nhà tộc trưởng, chi trưởng có bàn thờ tổ của cả họ tộc hoặc xây dựng riêng thành nhà thờ họ. Không gian thờ cúng cũng là nơi tập trung các trang trí kiến trúc, điêu khắc và bố trí các đồ vật trang trọng của gia đình. Hai gian bên có dạng không gian kín là nơi sinh hoạt của phụ nữ trong gia đình, nơi dự trữ lương thực, giống, cất giữ đồ dùng. Hai gian này có cửa đi nhỏ mở ra hiên. Nhà chính nhà nào cũng có hiên; hẹp nhất là 90 cm, rộng nhất là 160cm. Hiên là một không gian chuyển tiếp, giữa trong và ngoài nhà; là nơi phơi quần áo, chứa đựng khoai sắn, kê gác những dụng cụ nông nghiệp và là nơi đan lát, vá may. Ngoài hiên thường có bức dại che nắng được làm bằng tre. Ngăn cách hiên với trong nhà là hệ thống cửa bức bàn liên kết với hàng cột quân.Đồ đạc trong nhà phù hợp với hoàn cảnh gia đình. Nhà giàu có sập gụ, tủ chè, trường kỷ bằng gỗ quí như đinh, lim, mun. Nhà nghèo có chõng tre, giường, phản, tủ bằng gỗ xoan, gỗ mít.
vii) Nhà phụ: Là một hay nhiều nếp nhà; có thể kết hợp với bếp, kho, chuồng chăn nuôi, sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Hình thức kiến trúc và kết cấu của nhà phụ đơn giản hơn so với nhà chính. Thường chỉ là một nhà 3 hoặc 5 gian, 2 mái, lợp ngói hoặc mái tranh; kèo gỗ với 2 hoặc 3 hàng cột đôi khi kèo gác thẳng lên tường mà không cần cột bởi vì lòng nhà hẹp, chỉ từ 3m đến 4m. Nhà phụ hầu như không có chạm khắc trang trí. Hình thức liên kết giữa nhà chính và nhà phụ có dạng: chữ nhât (-), chữ nhị (=), chữ đinh (T), chữ môn (U).
viii) Bếp: Bố trí vuông góc với nhà chính, quay mặt ra sân tạo ra khuôn viên có hình thước thợ hay bố trí bên cạnh dọc theo nhà chính phía trước có sân nhỏ. Vị trí bếp không được chắn hướng gió tốt vào nhà. Với khuôn viên hẹp thì bếp có thể được kết hợp với nhà phụ hay chuồng trại tạo thành một nếp nhà. Kết cấu nhà bếp thường đơn giản với mái ngói, tường thu hồi.
ix) Chuồng chăn nuôi gia súc, gia cầm: Kết cấu đơn giản, mái tranh hoặc mái ngói. Nhà có khuôn viên rộng,  chuồng trại đặt cách xa nhà chính. Nhà có khuôn viên hẹp, chuồng trại được kết hợp với nhà phụ hay vệ sinh thành một nếp nhà đôi.

x) Nơi vệ sinh: Thường kết hợp với chuồng chăn nuôi.
xi) Giếng nước – khu tắm giặt: Thường nằm cách xa nhà chính và ở chỗ khuất. Tuỳ theo khả năng kinh tế của chủ nhà mà tắm giặt có thể xây thành một nếp nhà hoặc chỉ xây quây đơn giản.

xii) Ao: có rất ít, thường đặt ở phía trước nhà chính.

Kết cấu chính và vật liệu xây dựng  

Kết cấu chính của ngôi nhà ở 1 tầng tại Đường Lâm hầu hết là hệ khung gỗ chịu lực, gồm: hệ cột (cột cái, cột quân, cột hiên), hệ thống xà ngang (quá giang, câu đầu), hệ thống xà dọc (xà nóc, xà thượng, xà hạ), hệ thống kèo, kè bảy…Kết cấu có thể tháo ra, lắp lại nếu có nhu cầu sửa chữa.
Hệ cột thường theo kiểu 4 hoặc 6 hàng chân cột. Các cột được dựng trên những chân tảng bằng đá. Một số nhà có thêm cột hàng hiên, vì thế nhà có 5 hoặc 7 hàng cột.
Gian chính của nhà thường có kích thước bằng nhau.
Gỗ xoan là vật được sử dụng nhiều trong cấu trúc nhà ở truyền thống (trên 60%), do cây xoan thường được trồng ngay trong vườn nhà, dễ trồng, phát triển nhanh; có khả năng chịu được mối mọt và nhất là khi ngâm xuống bùn ao khoảng 5 - 6 tháng. 

Tường nhà có các loại: tường trát, tường xây đá ong và tường xây gạch.
Tường trát: Là tường đắp hỗn hợp đất bùn, tro và rơm lên hệ xương đan bằng phên tre hoặc nứa. Sau này, cải tiến tường trát bằng cách dùng hỗn hợp vữa xây và rơm trát lên phên nứa, có độ bền lâu hơn.
Tường xây bằng đá ong: Người ta dùng thuổng để đào đá ong, cắt thành từng khối có kích thước khoảng 40 x 24 x 18cm. Đá ong ở trạng thái tự nhiên thường mềm, nhưng khi đã phơi nắng một thời gian thì trở thành cứng chắc, có độ bền rất cao. Tường được xây bằng vữa vôi hoặc bùn trộn trấu, để trần không trát. Đây là loại tường tạo nên một trong những biểu tượng tại làng cổ Đường Lâm.

Tường xây gạch: Gạch đất nung kích thước 6 x 10,5 x 22cm, được xây bằng vữa hỗn hợp (vôi + cát + tro + mật). Đây là loại tường phổ biến tại làng cổ Đường Lâm.

Cửa nhà phổ biến được làm theo kiểu ‘‘thượng song hạ bản’’. Phần bản chủ yếu là bào trơn, it chạm khắc, chỉ có đường viền. Mỗi gian thường có 4 cánh và mỗi cánh có 2 mộng ghép vào ngưỡng cửa, then cài bằng gỗ ở đà ngang trên cửa. Ngưỡng cửa bằng gỗ đặc, cao khoảng 40 cm và cách nền khoảng 10 cm.
Nhà ở Đường Lâm có nhược điểm là thiếu ánh sáng, do không có cửa sổ và trần thấp.  

Mái nhà ở truyền thống Đường Lâm có độ dốc khoảng 33-45 độ, chủ yếu dạng 2 mái, đầu hồi bít đốc, xây giật cấp lên đỉnh mái. Ngói lợp dạng mũi hài có kích cỡ 10x15x1,5cm. Sau này sử dụng loại ngói lợp có kích thước lớn. Bờ nóc mái, bờ chảy, bít đốc đều xây bằng gạch vữa.

Tại gia đình giàu có, hiên và nền nhà được lát gạch với kích cỡ 30 x 30cm. 

Trang trí
Trang trí bên ngoài và bên trong nhà ở truyền thống Đường Lâm phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kinh tế và địa vị xã hội của chủ nhân ngôi nhà. Tuy nhiên với mỗi nhà thì mức độ trang trí lại ưu tiên cho từng vị trí cụ thể, được chắt lọc cẩn thận từ kiểu dáng cho đến kích thước các mảng trang trí.
Ngoài vẻ đẹp tự thân của giải pháp kiến trúc, chạm khắc gỗ, trang trí ngôi nhà cổ Đường Lâm còn gắn kiểu cách của các đồ nội thất như bàn, ghế, sập gỗ, trường kỷ, giường, tủ… 







Hình ảnh một ngôi nhà cổ gần 400 tuổi tại Đường Lâm; Ảnh trên: Cổng vào nhà; Ảnh giữa: Nhà chính; Ảnh dưới: Bên trong nhà chính






Hình ảnh một ngôi nhà cổ gần 300 tuổi tại Đường Lâm; Ảnh trên: Cổng vào nhà; Ảnh giữa: Nhà chính; Ảnh dưới: Bên trong nhà chính

Đình Mông Phụ
Đình là tên gọi công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, nơi thờ Thành hoàng và cũng là nơi hội họp, tổ chức lễ hội của người dân.
Đình làng Mông Phụ là một trong những ngôi đình nổi tiếng của làng cổ Đường Lâm. Làng Mông Phụ nằm trên thế đất hình con rồng: Đầu rồng chính là nơi tọa lạc của đình Mông Phụ, hai mắt là hai giếng cạnh đình, râu rồng toả ra các ngõ xóm, đuôi vắt về xóm Sải.
Đình làng Mông Phụ thờ Thượng đẳng thần - thần Tản Viên Sơn Thánh, là một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt (Tản Viên Sơn Thánh, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Thánh Mẫu Liễu Hạnh) làm Thành hoàng làng.
Đình Mông Phụ được xây dựng vào năm 1533, trên một khu đất trung tâm và cao nhất của làng, rộng khoảng 1.800m2, hướng Tây Nam. Năm 2006-2008, đình được tu sửa lớn, song về cơ bản vẫn giữ nguyên trạng đợt tu sửa năm 1858.
Đình Mông Phụ gồm các hạng mục công trình: Nghi môn, Đình, Tả vu, Hữu vu các một số công trình phụ trợ khác.


Tổng mặt bằng đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Nghi môn
Nghi môn đình Mông Phụ gồm 4 trụ biểu. 2 Trụ biểu giữa cao, đỉnh trụ trang trí con nghê chầu; 2 trụ biểu hai bên thấp, đỉnh trụ trang trí tứ phượng. Thân trụ phía trên trang trí các ô lồng đèn, phía dưới trang trí câu đối.
Giữa hai trụ ngoài là cổng, phía trên có tường chắn. Hai bên Nghi môn là bức tường thấp, xây bằng gạch đá ong. Phía sau Nghi môn là sân đình. Sân lát gạch đỏ. Người ta cho rằng, người xưa làm sân đình thấp hơn xung quanh, nên khi trời mưa, nước chảy vào sân rồi thoát ra hai bên tạo thành hình tượng râu rồng. Hai bên sân là hai tòa Tả vu, Hữu vu. Mỗi tòa có 5 gian, tường hồi bít đốc 2 mái. Đây là nơi thờ tổ tiên các dòng họ và người có công tích với làng.

Đình
Đình Mông Phụ có mặt bằng hình chữ "công" hay chữ H, gồm Đại đình, Bái đường và Hậu cung.

Đại đình (Đại bái) là một tòa 5 gian, 2 chái, 4 mái. Các bộ vì kèo tòa Đại đình làm theo kiểu chồng rường, giá chiêng với 6 hàng cột gỗ lim; có nhiều cột chu vi gần 2m. Nền đình bố trí theo kiểu lòng thuyền truyền thống với gian giữa nền sát đất, lát gạch; nền hai bên là sàn gỗ, cao cách nền khoảng 0,5m, có lan can gỗ bao quanh. Nửa phía sau gian chính giữa Đại đình đặt một ban thờ trên một sàn lửng bằng gỗ, cách nền 1,9m. Phía trước khám thờ là các bức cửa chạm khắc, sơn son thếp vàng. Không gian bên dưới gác lửng không bài trí di vật. Các gian hai bên Đại đình để trống, tạo không gian rộng rãi cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Bái đường (Thiêu hương) nằm dọc nối Đại đường và Hậu cung.

Hậu cung 3 gian, 4 mái. Bên trong có tường xây kín 3 mặt. Hậu cung là nơi trang trọng, thâm nghiêm, đặt ngai thờ và bài vị thờ Thành hoàng Tản Viên Sơn Thánh. Hậu cung quanh năm đóng cửa, trừ những ngày lễ hội.

Hai bên đình có 2 giếng cổ, được cho là 2 mắt rồng. Mắt rồng thứ nhất là giếng đình Mông Phụ. Ở hướng Tây đình Mông Phụ có một giếng đá ong khác, miệng giếng nhỏ hơn nhưng sâu hơn nằm khuất trong một con ngõ. Giếng này được đào ở xóm Miễu nên gọi là giếng Miễu.  

Chạm khắc
Ngôi đình truyền thống vùng Đồng bằng Bắc Bộ thường nổi bật ở mạng chạm khắc. Có những ngôi đình không có mảng trống nào trên gỗ là không có chạm khắc trang trí. Đình Mông Phụ có ít mảng chạm khắc, song khá tinh xảo. Các chạm khắc liên quan đến hình tượng Tứ linh, Tứ quý, hoa lá, mây theo phong cách thời Hậu Lê…Trong đó, hình tượng rồng được chạm khắc nhiều nhất.
Đình Mông Phụ còn lưu giữ được 17 đạo sắc phong thần Tản Viên làm thành hoàng làng từ năm 1651.
Hàng năm, đình tổ chức lễ hội từ mùng 1 đến mùng 10 tháng Giêng Âm lịch.
 


Nghi môn đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Mặt trước Đại đường đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Giếng xóm Miễu và mặt bên đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội






Bên trong đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Bức chạm “Rồng cha dạy rồng con viết chữ”, đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội
 


Bức chạm kỳ lân tại đầu bẩy đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Bức chạm Tứ linh trên kết cấu mái đình Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Chùa Mía
Xem chi tiết chùa Mía tại đây 


Phối cảnh chùa Mía, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Đền và lăng Ngô Quyền

Ngô Quyền (Tiền Ngô Vương, trị vì năm 939 đến năm 944), có công chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (938) và mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc Việt Nam. Ngài là một trong 14 vị Anh hùng dân tộc Việt Nam.
Đền và lăng Ngô Quyền được xây dựng trên một đồi đất cao, có tên là đồi Cấm, tại vị trí đẹp nhất của Đường Lâm. Đền và Lăng bố cục hướng Tây Nam, về phía dãy 5 gò núi làm tiền án.


Sơ đồ vị trí đền và lăng Ngô Quyền, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Đền thờ Ngô Quyền
Đền thờ Ngô Quyền được xây dựng từ lâu đời và đã qua nhiều lần trùng tu.
Lần tu sửa gần đây nhất là vào năm 1857; tu tạo lại vào năm 1877. Đền có quy mô khá khiêm tốn, gồm: Nghi môn, Chính điện, Tả mạc, Hữu mạc; có tường bao quanh.

Nghi môn đền trước đây có 2 trụ biểu, mới xây dựng thêm thành 4 trụ biểu tạo thành Tam quan. 2 Trụ biểu giữa cao, đỉnh trụ trang trí tứ phượng, 2 trụ biểu hai bên thấp, đỉnh trụ trang trí con nghê chầu. Thân trụ phía trên trang trí các ô lồng đèn, phía dưới trang trí câu đối. Phía sau Nghi môn là sân đền. Hai bên có hai tòa Tả mạc, Hữu mạc, 5 gian, đầu hồi bít đốc 2 mái. Đây là nơi đặt các đồ tế lễ và kiệu thờ.

Chính điện có mặt bằng hình chữ "đinh" hay chữ T gồm tòa Chính điện và Hậu cung, đặt trên một bệ cao 3 bậc so với mặt sân.  
Tòa Chính điện (Đại bái) 5 gian; gian giữa có treo bức hoành phi đề bốn chữ Hán "Tiền vương bất vong" (Vua Ngô Quyền sống mãi). Hiện nay, Đại bái còn được dùng làm phòng trưng bày về trận chiến thắng trên sông Bạch Đằng và thân thế, sự nghiệp của Ngô Quyền.
Hậu cung là một ngôi nhà dọc 3 gian, Gian giữa có đặt tượng thờ Ngô Quyền. Bộ khung gỗ bên trong được trang trí hình rồng, hoa, lá...  


Nghi môn
đền thờ Ngô Quyền, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Sân trước đền và tòa Hữu vu,
đền thờ Ngô Quyền, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Tòa Đại bái,
đền thờ Ngô Quyền, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Tượng Ngô Quyền trong Hậu cung đền thờ Ngô Quyền, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội
 

Lăng Ngô Quyền
Lăng mộ Ngô Quyền nằm cách phía Nam đền thờ khoảng 70m.
Lăng được trùng tu năm 1821, được xây dựng lại năm 1874. Năm 2013, lăng được trùng tu.
Lăng được xây kiểu nhà bia có mái che, cao khoảng 1,5m. Giữa lăng là ngai, trong có bia đá ghi bốn chữ Hán "Tiền Ngô Vương Lăng".
Trong quần thể đền và lăng Ngô Quyền có 18 cây duối cổ, tương truyền là nơi Ngô Quyền buộc voi, ngựa. Các cây này đã được công nhận là "Cây di sản" cấp quốc gia.
Hàng năm cứ đến ngày 14 tháng 8 Âm lịch, ngày giỗ Ngô Quyền, nhân dân trong vùng lại về đây để làm lễ cúng tế và báo công với vua.  


Lăng Ngô Quyền tại thôn Cam Lâm, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội
 

Đền thờ Phùng Hưng
Phùng Hưng (Bố Cái Đại vương, 761- 801) vốn con nhà hào phú, có sức vật trâu, đánh hổ. Nối nghiệp cha, trở thành hào trưởng đất Đường Lâm.
Sau này, ông trở thành vị vua Việt Nam, lãnh tụ nổi dậy chống lại sự đô hộ của nhà Đường thời Bắc thuộc lần thứ ba (602905) trong lịch sử Việt Nam. Con của Phùng Hưng là Phùng An khi lên ngôi tôn Phùng Hưng làm Bố Cái Đại Vương.
Sau khi mất, người dân lập đền thờ ở một số khu vực như Hà Nội, Vĩnh Phúc…tưởng nhớ công tích của Ngài. Trong đó, đền thờ Phùng Hưng tại làng Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây là có quy mô bề thế nhất. Khu vực làng Cam Lâm vẫn còn địa danh đồi Hổ Gầm, thôn Đoài Giáp có gò Bố Về, gắn liền với thân thế, sự nghiệp của Bố Cái Đại Vương.

Hình dáng ngôi đền hiện nay là từ đợt trùng tu lớn vào năm 1889.
Đền nằm trên một gò đồi, gồm các hạng mục công trình: Nghi môn, Tả mạc và Hữu mạc, Đại bái, Hậu cung và công trình phụ trợ.
Nghi môn đền gồm 2 trụ biểu. Đỉnh trụ trang trí con nghê chầu. Thân trụ phía trên trang trí các ô lồng đèn, phía dưới trang trí câu đối. Hai bên trụ biểu là tường rào bằng gạch.
Sau Nghi môn là sân đền. Hai bên sân là hai tòa Tả vu, Hữu vu. Mỗi dãy có 3 gian, 2 dĩ.
Tòa Đại bái nằm trên một bậc thềm cao 3 bậc so với mặt sân, gồm 3 gian, 2 chái, 4 mái.
Tòa Hậu cung nằm song song với tòa Đại bái, gồm 3 gian, đầu hồi bít đốc, 2 mái. Trong Hậu cung có tượng thờ Bố Cái đại Vươn.
Xung quanh đền có một số cây lấy gỗ, ăn quả đã có niên đại lâu đời như: lim, nhãn, đa.
Trong đền còn lưu giữ nhiều sắc phong của các triều đại phong kiến vào các năm 1285, 1287, 1312…
Ngày 8 tháng Giêng Âm lịch hàng năm, dân Đường Lâm và con cháu họ Phùng, du khách thập phương lại hội tụ về đây để tỏ lòng thành kính đối với Bố Cái Đại vương Phùng Hưng. 


Nghi môn đền thờ Phùng Hưng, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Tòa Đại bái,
đền thờ Phùng Hưng, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội




Bên trong tòa Đại bái,
đền thờ Phùng Hưng, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Tòa Hậu cung, đền thờ Phùng Hưng, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Bên trong Hậu cung đền thờ Phùng Hưng, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội
 

Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh
Truyền thuyết kể rằng: Vua Sùng Trinh Đế (hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Minh, trị vì năm 1627- 1644) đã ra một vế đối bắt sứ thần Đại Việt đối lại. Vế đối ra là: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục”, nghĩa là: Cột đồng đến giờ rêu vẫn còn xanh”; có ý nhắc lại việc xưa, khi tướng nhà Hán là Mã Viện (năm 14 TCN – 49 sau Công nguyên) đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đã dựng một chiếc cột đồng rồi khắc lên đó mấy chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là khi nào chiếc cột đồng này gãy thì xứ Giao Chỉ sẽ bị diệt vong. Không để cho kẻ khác làm nhục quốc thể, sứ thần Giang Văn Minh đã dùng sự tích quân Nam Hán bị Ngô Quyền đánh cho tan tác trên sông Bạch Đằng năm 938 để đối lại: “Đằng giang tự cổ huyết do hồng”, nghĩa là: Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn còn loang đỏ.
Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh. Sùng Trinh Đế nổi giận, quên thể diện, bất chấp luật lệ bang giao, cho người trám đường vào miệng và mắt ông, mổ bụng xem "Sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu". 
Thi hài Giang Văn Minh được đưa về nước và chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm. 

Nhà thờ và lăng mộ Giang Văn Minh đều nằm ở thôn Mông Phụ. Nhà thờ được người trong họ xây kiên cố từ thời Tự Đức (1847 - 1883).
Nhà thờ có diện tích 400m2, bố cục hướng Đông, dựng theo hình chữ Nhị, bao gồm: Nghi môn, Sân, Tiền đường, Hậu đường. Ngoài ra, còn có các hạng mục khác như: cổng, sân, vườn.
Nghi môn nhà thờ có quy mô nhỏ, mái chồng diêm 2 tầng.
Sân hẹp, lát gạch, có bồn hoa ở giữa.
Tiền đường 5 gian, có bệ gạch dùng làm nơi hội họp và giỗ tiệc.
Hậu đường 3 gian. Bên trong đặt bàn thờ Thám hoa Giang Văn Minh và gia tộc của ông.
Trong nhà thờ còn lưu giữ một số đi vật quý như câu đối, bia đá, lư hương, đỉnh đồng.
Vào ngày 2 tháng 6 Âm lịch hàng năm, người dân và con cháu họ Giang ở khắp nơi về làm lễ tưởng nhớ công tích của ông với dân với nước.  


Cổng vào nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh
, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Nhà thờ Thám hoa Giang Văn Minh, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Lăng mộ Thám hoa Giang Văn Minh, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Nhà thờ giáo họ Mông Phụ
Nhà thờ Giáo họ Mông Phụ, Giáo xứ Sơn Tây được khởi công xây dựng từ năm 1954.
Từ phía xa, nhà thờ nổi bật giữa hàng trăm mái nhà cổ của Đường Lâm. 
Nhà thờ không được chạm khắc kì công tinh xảo, họ đạo không quá đông dân.
Người Đường Lâm vốn bao dung. Tại đây các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau (Đạo Phật, Đạo Công giáo, Thần đạo Việt Nam) có thể hòa hợp để cùng chung sức làm những điều tốt đẹp nhất cho cộng đồng, cho làng xã và cho quốc gia. 


Nhà thờ Giáo họ Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội


Bên trong nhà thờ Giáo họ Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội

Văn Miếu Sơn Tây, Hà Nội
Văn Miếu Sơn Tây là văn miếu cấp vùng của xứ Đoài (tỉnh Sơn Tây, được thành lập năm 1831, gồm tỉnh Vĩnh Phúc, phía Bắc tỉnh Phú Thọ, một phần tỉnh Tuyên Quang và Tây Bắc thành phố Hà Nội ngày nay). Trước thời nhà Nguyễn cho tới năm 1831, đây là một trong 4 văn miếu của tứ trấn Thăng Long (Văn Miếu Bắc Ninh; Văn Miếu Xích Đằng, Hưng Yên; Văn Miếu Mao Điền, Hải Dương; Văn miếu Sơn Tây, Hà Nội).
Văn Miếu Sơn Tây là một trong số ít văn miếu xưa còn tồn tại trong cả nước: Văn Miếu Quốc tử giám, Hà Nội (thế kỷ 11, năm 1070); Văn Miếu Xích Đằng, Hưng Yên (thế kỷ 15); Văn Miếu Mao Điền, Hải Dương (thế kỷ 15); Văn Miếu Bắc Ninh (thế kỷ 15); Văn Miếu Sơn Tây (thế kỷ 15); Văn Miếu Vinh, Nghệ An (thế kỷ 19); Văn Thánh Miếu Huế (thế kỷ 19); Văn Miếu Diên Khánh, Khánh Hòa (thế kỷ 19); Văn Miếu Trấn Biên, Đồng Nai (thế kỷ 18, năm 1715); Văn Miếu Vĩnh Long (thế kỷ 19)….
Khi vua Gia Long (hoàng đế sáng lập nhà Nguyễn, trị vì 1802 - 1820) lên ngôi đã cho xây dựng Quốc Tử Giám tại Huế, đồng thời hạ chỉ cho các trấn được phép lập nhà Văn Miếu để tỏ lòng kính trọng Nho học, bổ sung cho hệ thống các Văn Miếu đã được xây dựng thời Lý, Hậu Lê trước đó.

Văn Miếu tỉnh Sơn Tây xưa kia nằm tại làng Cam Thịnh, tổng Cam Giá Thịnh, huyện Phúc Thọ, được xây dựng vào thế kỷ 15, cùng thời và có quy mô bề thế, tầm quan trọng giống như Văn Miếu Xích Đằng, Văn Miếu Mao Điền, Văn Miếu Bắc Ninh.
Đến năm 1846. Văn Miếu Sơn Tây được chuyển về làng Mông Phụ, Sơn Tây. Năm 1891, được trùng tu lại và dựng các tấm bia đá khắc tên họ các vị đỗ giáp khoa. Trong hệ thống Khoa bảng Việt Nam xưa có 3 cấp thi: i) Thi Đình: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ; ii) Thi Hội: Thái học sinh, Phó bảng; iii) Thi Hương: Hương cống, Sinh đồ. Các vị đỗ giáp khoa, tính từ Tiến sĩ trở nên, thời nhà Nguyễn tính từ Phó bảng trở lên.
Văn Miếu Sơn Tây được triều đình cho xây dựng để tôn thờ Đức thánh Khổng Tử, Tứ phối ( bốn học trò xuất sắc của Đức Thánh là: Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử) và 72 vị hiền triết, cùng các danh nhân khoa bảng thuộc khu vực xứ Đoài đã đỗ đạt các danh hiệu qua các thời kỳ của chế độ phong kiến. Có khoảng 288 vị Tiến sĩ được khắc trên 2 tấm bia đá lưu tại Văn Miếu Sơn Tây.
Trong chiến tranh chống Pháp, năm 1947, Văn Miếu Sơn Tây hoàn toàn bị phá hủy.
Năm 2012, trên nền của Văn Miếu xưa, đã phục dựng lại Văn Miếu Sơn Tây.
Văn Miếu Sơn Tây có bố cục hướng về Nam, có diện tích khoảng 4ha.


Sơ đồ mặt bằng Dự án Khu di tích lịch sử văn hóa Văn Miếu, Sơn Tây, Hà Nội






Phối cảnh tổng thể Văn miếu Sơn Tây, Hà Nội

Tương tự như các ngồi đền miếu truyền thống, quần thể Văn Miếu gồm các công trình: Nghi môn ngoại, Nghi môn nội, Lầu chuông, Lầu khánh, Tả vu, Hữu vu, Đại bái, Thượng điện, Đền Khải thánh và Văn chỉ, công trình phụ trợ, sân vườn và tường bao quanh.   

Nghi môn ngoại
Nghi môn ngoại gồm 4 trụ biểu tạo thành Tam quan. 2 Trụ biểu giữa cao, đỉnh trụ trang trí con nghê chầu; 2 trụ biểu hai bên thấp, đỉnh trụ trang trí tứ phượng. Thân trụ phía trên trang trí các ô lồng đèn, phía dưới trang trí câu đối, đế thắt dạng cổ bồng. Hai bên Nghi môn là bức tường thấp.
Phía sau Nghi môn ngoại là sân ngoài lát gạch. Trong sân có tòa Hữu mạc.  


Hình ảnh Nghi môn ngoại Văn miếu Sơn Tây thời xưa


Hình ảnh Nghi môn ngoại Văn miếu Sơn Tây phục dựng lại ngày nay

Nghi môn nội
Nghi môn nội là một tòa nhà 3 gian, 2 dĩ; cao 2 tầng. Gian giữa cao, 2 gian hai bên thấp. Tầng dưới có 3 vòm cửa và mái che kiểu 4 mái. Tầng 2 có khối chính cao hơn hẳn hai khối bên. Mỗi khối đều có mái che 4 mái.
Hai bên Nghi môn nội còn có hai khối cổng phụ nhỏ ở hai bên.
Phía sau, hai bên Nghi môn nội là hai Lầu chuông và Lầu khánh.  


Hình ảnh Nghi môn nội Văn miếu Sơn Tây thời xưa


Hình ảnh Nghi môn nội Văn miếu Sơn Tây ngày nay

Tả vu và Hữu vu
Sau lớp không gian Lầu Chuông và Lầu Khánh là đến sân trong Văn Miếu trên một bậc thềm cao 5 bậc so với bậc sân phía trước. Chính giữa sân, tại trục Thần đạo là một con đường được lát bằng đá sẫm, khác với hai bên lát bằng gạch đỏ.
Hai bên sân là hai tòa Tả vu và Hữu vu, 5 gian, đầu hồi bít đốc 2 mái; phía trước có một mái hiên thấp.  


Lầu chuông và tòa Hữu vu phía sau Nghi môn nội Văn Miếu Sơn Tây, Hà Nội

Bái đường   
Bái đường (Tiền đường/Đại bái) nằm trên một bệ cao 3 bậc so với mặt sân. Công trình 5 gian, đầu hồi bít đốc, mái 2 tầng, 4 mái. Tại đầu hồi nhô ra trụ biểu, có hình dạng như trụ biểu chính của Nghi môn ngoại. Công trình là nơi chuẩn bị các nghi lễ.  


Bái đường Văn Miếu Sơn Tây, Hà Nội
Thượng điện
Thượng điện đặt song song với tòa Đại Bái. Công trình có cấu trúc tương tự như tòa Bái đường, song chiều rộng nhà lớn hơn.
Thượng điện (Văn miếu) là nơi thờ Khổng Tử, Tứ phối (Tăng Tử, Mạnh Tử, Nhan Tử, Tử Tư) và các bậc Tiên hiền và các nhà khoa bảng người Việt cấp trung ương và cấp tỉnh, trấn.

Đền Khải thánh và Văn chỉ
Hai bên Thượng điện là đền Khải Thánh, nơi thờ cha, mẹ Khổng Tử và đền Văn chỉ là nơi thờ Khổng Tử, các bậc Tiên hiền và nho sinh của địa phương, cấp tổng, huyện, làng, xã. Công trình 3 gian, đầu hồi bít đốc 2 mái.
Ngoài ra trong Văn Miếu Sơn Tây còn có các hạng mục phục vụ như: Nhà khuyến học, Thư viện, Câu lạc bộ thư pháp, Câu lạc bộ văn thơ…
Trong Văn Miếu còn lưu giữ 2 tấm bia khắc tên 288 vị đỗ khoa bảng của vùng xứ Đoài. 


Bên trong gian thờ với tượng thờ Khổng Tử, Văn Miếu Sơn Tây, Hà Nội


Ban thờ các vị tiên hiền và khoa bảng, Văn Miếu Sơn Tây, Hà Nội

Di vật
Bia đá
Tại làng cổ ở Đường Lâm hiện lưu giữ được 21 bia đá. Từ đây thu thập được các thông tin về lịch sử địa phương, về văn hoá làng xã mà biên niên sử chính thống không đề cập đến. 

Minh văn:
Minh văn là chữ khắc trên đồ đồng thau. Tại làng cổ ở Đường Lâm có Minh văn khắc trên chuông chùa Mía. Ngoài ra, tại Đường Lâm còn có văn khắc trên 2 khánh đá, một treo ở đình Mông Phụ (trước treo ở Văn miếu), được tạo tác năm 1844 và một treo ở Tam quan chùa Mía được tạo tác năm 1846.

Gia phả:
Tại làng cổ ở Đường Lâm có nhiều dòng họ. Đa số gia phả viết bằng chữ Hán, một số ít viết bằng Quốc ngữ. Hiện giờ, còn 11 gia phả tồn tại. Gia phả dài nhất ghi lại nhiều thế hệ trải qua khoảng 400 năm, như gia phả họ Hà, Giang, Nguyễn, Đỗ, Phan...

Sắc phong:
Sắc phong là một loại hình văn bản Hán tự cổ, do các triều đại phong kiến phong cho các vị Thành hoàng và những người có công. Sắc được chia làm các loại: Sắc phong thần, sắc phong lên chức, sắc phong cho làng... Sắc phong hiện đang lưu quản tại làng cổ ở Đường Lâm rất đa dạng và phong phú, niên đại muộn nhất vào năm 1637, gần đây nhất vào năm 1924. 

Làng cổ Đường Lâm, một làng cổ vùng Đồng bằng Bắc Bộ, một trong những nơi kết tinh của nền văn minh vùng châu thổ sông Hồng từ hàng ngàn năm. Đây hiện là nơi còn được bảo tồn nguyên vẹn nhất; địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam, thế kỷ 16 - 19.
Làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội không chỉ hấp dẫn người dân trong nước mà cả du khách nước ngoài đến đây trải nghiệm và khám phá về con người, văn hóa và kiến trúc vùng Đồng bằng Bắc Bộ.  

Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD
Nguồn :
https://vi.wikipedia.org/wiki/Di_t%C3%ADch_qu%E1%BB%91c_gia_%C4%
91%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_L%C3%A2m
https://vov.vn/di-san/ngoi-lang-co-dep-nhat-viet-nam-nhin-tu-bau-troi-417029.vov
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%ACnh_M%C3%B4ng_Ph%E1%BB%A5
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C4%83ng_Ng%C3%B4_Quy%E1%BB%81n
https://sontay.hanoi.gov.vn/gioi-thieu1/-/view_content/327341-den-tho-
va-lang-ngo-quyen.html

http://hanoiplanning.com/chi-tiet-san-pham/412/quy-hoach-chi-tiet-khu-di-tich
-lich-su-van-mieu-xa-duong-lam-son-tay-ha-noi.html

http://conggiao.info/net-dao-giua-ngoi-lang-co-duong-lam-d-42578
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B9ng_H%C6%B0ng
http://vietlandmarks.com/module/groups/action/view/id/1654/album/720
http://hanoitv.vn/van-mieu-son-tay-d115697.html
https://www.youtube.com/watch?v=53y1jvYDpAg
https://sontay.hanoi.gov.vn/lich-su/-/view_content/pop_up/305068-lang-viet-co-o-duong-lam.html?_101_viewMode=print
http://www.lichsuvietnam.vn/home.php?option=com_content&task=view&id=1785&Itemid=5
https://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh

Xem video làng cổ Đường Lâm tại đây

Xem các bài viết về chùa Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về đình, đền Việt Nam tại đây

Xem các bài viết về Di sản văn hóa thế giới tại đây

Cập nhật ( 02/07/2020 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:

“Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.”

 
Gõ Big Five trên máy tính, trong 0,64 giây, có 2,620,000,000 kết quả; số lượng khổng lồ về một từ được tìm trên internet, thể hiện quan tâm sâu rộng của loài người tới một vấn đề. Khi muốn “Trở thành ai ?”, cần biết “Ta là ai ?”. Điều này có thể thức tỉnh qua tính cách hay tâm thức mỗi người; gồm 5 nhóm - Big Five: i) Cân bằng cảm xúc; ii) Đồng thuận; iii) Hướng ngoại; iv) Tận tâm; v) Sẵn sàng trải nghiệm. Phần trên có mục: Ta là ai ?– Big Five (talaai.com.vn), hướng dẫn cách tự cho điểm đánh giá. Khi đã biết "Ta là ai", có thể so sánh với giai đoạn trước hoặc người khác để tự sửa mình; Cơ sở đào tạo hình thành được chương trình dạy kỹ năng mềm và môi trường giúp SV học tập hiệu quả hơn. Các bạn SV trường ĐHXD tự nhận xét về Big Five:
 
 
Thông báo

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com