Tuần 11 - Ngày 19/10/2019
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Hỏi:

Em chào thầy. Em muốn hỏi thầy một vấn đề thầy ạ. Hi vọng thầy bớt chút thời gian trả lời giúp em. 
Em muốn hỏi thầy là thầy đã quản lý thời gian của mình như thế nào để có thể làm việc hiệu quả nhất. Em muốn học nhiều thứ, đọc nhiều sách nhưng em ko quản lý được thời gian nên không học được. Và thời gian rảnh thì thầy thường làm gì hoặc học gì, hồi trẻ thầy đã học như thế nào để có được lượng kiến thức nhiều như vậy. Em rất muốn có được những kiến thức như thầy. 
Rất mong sự hồi đáp của thầy. Em cảm ơn ạ

 
Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em. 
Câu hỏi về cách quản lý thời gian, mỗi người đều có câu trả lời tùy theo hoàn cảnh của mình.
Thày quản lý thời gian theo một số cách như sau:
1) Triết lý liên quan đến sử dụng thời gian: Tập trung cho việc học và rèn luyện để trở nên tự do hơn.
2) Ai cũng chỉ có 24 h/ngày, cách quan trọng là sử dụng thời gian như thế nào. Thày làm việc khoảng 12h/ngày. Xã hội ai cũng giỏi, mình chỉ có thể cạnh tranh bình đẳng với họ do mình chăm chỉ hơn mà thôi.
3) Thời gian làm việc thường được chia ra để phục vụ cho 3 đầu việc: i) Công việc thường xuyên mang nặng tính kinh nghiệm (giảng dạy, tư vấn…); ii) Công việc giao tiếp để học và kết nối với những người khác chuyên môn của mình, khác mình; iii) Công việc tự học để làm mới mình, bao gồm đọc sách, viết tài liệu, suy ngẫm; chiếm hoàn toàn vào các buổi tối; học trước hết những vấn đề mà chuyên môn của mình cần, sau đó học mở rộng ra những vấn đề mà xã hội cần. 
4) Chuyển đổi loại công việc (việc dễ, việc khó) cũng là cách nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng.
5) Với người trẻ tuổi, do kinh nghiệm và tri thức còn hạn chế, lại mong muốn làm được nhiều việc nên thường mất tự tin. Song theo thời gian, do kiến thức càng dày hơn, tâm thức càng hiểu rõ hơn, nên cách sử dụng thời gian sẽ càng hiệu quả hơn. Chắc chắn là như vậy.  

Chúc em chăm chỉ học tập và thành công
Ngày 30/11/2018. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Lý thuyết kiến trúc
Làng đô thị tại Việt Nam
05/10/2019


Tại Việt Nam, trong quá trình đô thị hóa có một hiện tượng, hiện chưa nhận thức rõ, đó là “ Làng trong đô thị” hay “Làng đô thị”. Khi phát triển, mở rộng đô thị, một số điểm dân cư nông thôn xưa, nay nằm trong phạm vi đô thị. Trong các đồ án quy hoạch, những khu dân cư này không di dời và thường kèm theo quyết định “ Giữ lại cải tạo chỉnh trang theo quy hoạch”, song không rõ, cải tạo chỉnh trang như thế nào. Các nhà đầu tư chỉ tập trung xây dựng tại các khu đất trống và các làng đô thị này dần bị bỏ lại phía sau trong quá trình đô thị hóa, trở thành nơi tích tụ nhiều vấn đề về xã hội.

Hiện tượng “Làng trong đô thị” hay “ Làng đô thị” phổ biến trong cả nước.
Làng đô thị tại Việt Nam khác với Làng đô thị tại các quốc gia phát triển. Trong các quốc gia này, Làng đô thị được coi là một mô hình có quan điểm, lý luận để hiểu và thực hiện. Tại Việt Nam, đó lại là một khoảng trống không nhỏ về cả khái niệm và lý luận.
Bài viết dưới đây chia sẻ một số nhận thức về vấn đề này. 

Làng đô thị tại các quốc gia phát triển
Thuật ngữ Làng đô thị có ở khắp nơi. Song do quá trình đô thị hóa diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia, vì  vậy khái niệm về Làng đô thị cũng khác nhau.
Tại các quốc gia thuộc nhóm nước phát triển với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã diễn ra hàng trăm năm, Làng đô thị (Urban village) là một khu vực phát triển đô thị được đặc trưng bởi: Nhà ở có mật độ xây dựng trung bình, phân vùng sử dụng hỗn hợp, giao thông cộng cộng tốt, chú trọng vào việc đi bộ và không gian công cộng.
Khái niệm Làng đô thị chính thức ra đời ở Anh vào cuối những năm 1980, sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia và được cả cơ quan chính quyền cũng như các nhà đầu tư sử dụng như một định hướng cho nhiều dự án.
Đây là mô hình bổ sung cho những quan niệm thống trị quy hoạch và kiến trúc đô thị những năm 1950 – 1960, gắn với việc quá coi trọng các khu phố truyền thống và vai trò của nội thành. Đây cũng là mô hình được cho là có khả năng giải quyết được căn bệnh xã hội đặc trưng cho chủ nghĩa đô thị hiện đại, như đường cao tốc, đường sắt trên cao, các khu nhà cao tầng và việc mở rộng đô thị một cách tràn lan (Urban sprawl).
Mô hình Làng đô thị diễn ra thuận lợi tại quốc gia phát triển, bởi họ dần giảm các ngành công nghiệp độc hại (do chuyển đến các quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển) và sự xuất hiện nền kinh tế dịch vụ (Service economy). Điều này cho phép trong mô hình Làng đô thị hình thành các khu chức năng sử dụng hỗn hợp giữa ở và làm việc mà không gây bất lợi cho cư dân.
Mô hình Làng đô thị được xem là một giải pháp bổ sung cho các mô hình phát triển đô thị tại nhiều thành phố, đặc biệt là nâng cấp và mở rộng đô thị. Các làng đô thị này được xây dựng với mục đích:
- Giảm sự phụ thuộc vào xe hơi và thúc đẩy sử dụng xe đạp, đi bộ với quy mô phù hợp bán kính có thể đi bộ được;
- Mức độ tự chủ cao, tích hợp được các chức năng ở, làm việc và tái tạo trong cùng một khu vực;
- Tạo điều kiện cho các tổ chức cộng đồng phát triển mạnh mẽ và tương tác với nhau.
Trào lưu phát triển Làng đô thị được cho là ảnh hưởng bởi trào lưu Thành phố vườn (Garden city movement) của Ebenezer Howard (người Anh, 29/1/1850- 1/5/1928), là cộng đồng dân cư khép kín, gồm các khu nhà ở, công nghiệp và nông nghiệp, được bao quanh bởi vành đai xanh

Song nhiều chuyên gia đô thị lại cho rằng, đây không phải khái niệm mới, mà đơn giản chỉ là sự phục hồi lại các ý tưởng đã phổ biến trong quy hoạch đô thị từ trước và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội gắn với sự xuất hiện của nền kinh tế dịch vụ và gia tăng tầng lớp trung lưu.
Mô hình làng đô thị tại Anh có nhiều điểm tương đồng với trào lưu của Chủ nghĩa đô thị mới (New Urbanism) tại Mỹ, là một trào lưu thiết kế đô thị nhằm thúc đẩy thói quen thân thiện với môi trường bằng cách tạo ra các khu phố có thể đi bộ, chứa nhiều loại công việc và nhà ở. Trào lưu này phát sinh cũng vào đầu những năm 1980 như mô hình Làng đô thị và có ảnh hưởng đến phát triển bất động sản, quy hoạch đô thị và chiến lược sử dụng đất của các thành phố.
 


Một khu dân cư theo trào lưu Chủ nghĩa Đô thị mới – Phố chợ tại, Celebration, Florida, Mỹ

Các vấn đề của Làng đô thị tại Việt Nam

Tại Việt Nam, làng xã là một đơn vị dân cư cơ sở của xã hội, nơi lưu giữ truyền thống tự do sáng tạo và đức tin mạnh mẽ của người Việt, là cội nguồn của sức mạnh nội sinh để dân tộc Việt có thể tiếp thu hoặc phản kháng các yếu tố ngoại nhập. Đây là nơi sản sinh ra vô vàn triết lý, như “Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh (thành hoàng) làng nào làng ấy thờ”; “Phép vua thua lệ làng”…và tập hợp thành hệ tư tưởng làng xã, tồn tại và chi phối đời sống nông thôn Việt Nam cả ngàn năm nay. Người dân trong làng làm nghề nông nghiệp và thủ công. Quy mô dân số khoảng vài ngàn (2000 – 8000 người).
Làng đô thị tại Việt Nam là ngôi làng nông thôn tồn tại bên trong phạm vi thành phố trong quá trình đô thị hóa. Số lượng Làng đô thị Việt Nam không hề nhỏ, đặc biệt là tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.
Trong đô thị, mối quan hệ giữa Khu đô thị mới và Làng đô thị là mối quan hệ cộng sinh.
Đánh giá vấn đề Làng đô thị không hề dễ dàng. Trước hết cần hiểu rõ đô thị được quy hoạch và quản lý theo nguyên tắc nào. Từ đó mới rõ sự tồn tại của Làng đô thị có xung đột với nguyên tắc đó hay không và xã hội mới có thể rút ra được bài học và giải pháp: Phá bỏ hay tái sinh Làng đô thị ?

Phần viết dưới đây trình bày đô thị và Làng đô thị dựa theo Nguyên tắc của Chủ nghĩa đô thị thông minh (Principles of intelligent urbanism - PIU ), là một lý thuyết về quy hoạch đô thị đang được chú ý hiện nay, bao gồm một bộ 10 nguyên tắc, nhằm hướng dẫn quy hoạch và thiết kế đô thị trên cơ sở tích hợp nội dung quản lý và quy hoạch đô thị. Nguyên tắc này được đề xuất bởi Christopher Charles Benninger (giáo sư, kiến ​​trúc sư và nhà quy hoạch người Mỹ gốc Ấn Độ, 23/11/1942). Chủ nghĩa đô thị thông minh coi quy hoạch đô thị, không chỉ là một quy hoạch mang tính vật lý, mà còn là một quy hoạch kinh tế và quy hoạch xã hội. 

1) Cân bằng với tự nhiên
Trong quá trình đô thị hóa, cân bằng với tự nhiên nhấn mạnh cân bằng sinh thái đô thị, gắn với việc sử dụng và khai thác tài nguyên. Cân bằng này tập trung vào các ngưỡng bị vượt qua bởi nạn phá rừng, xói mòn đất, cạn kiệt tầng nước ngầm, phù sa và lũ lụt. Trong đô thị, việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên thường vượt xa khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái tự nhiên. Vì vậy, việc đánh giá môi trường để xác định khu vực có hệ sinh thái bị phá vỡ, khu vực có môi trường sống bị đe dọa luôn được đặt lên hàng đầu. Từ đây hình thành các giải pháp về bảo tồn tự nhiên, kiểm soát mật độ xây dựng, chức năng sử dụng đất, hình thành các không gian mở (cây xanh, mặt nước) và thúc đẩy các giải pháp tái tạo tài nguyên (năng lượng tái tạo, tái sử dụng nước, chất thải…).

Làng xưa kia là một khu dân cư nông nghiệp, xung quanh là vườn, ruộng, mặt nước ao, sông. Trong làng, diện tích không gian mở chiếm tỷ lệ lớn. Môi trường sống của con người cân bằng với tự nhiên và hòa làm một với tự nhiên.

Làng đô thị nay không còn hệ sinh thái thực vật, động vật và môi trường tự nhiên xung quanh, do dành đất cho mục đích xây dựng. Lẽ ra, Làng đô thị phải là một dạng không gian mở cho đô thị, song tại đây do không được kiểm soát, không gian mở bị luôn thu hẹp lại, tiềm ẩn ô nhiễm đe dọa môi trường sống. Nguồn ô nhiễm này lan truyền ra các Khu đô thị mới xung quanh. Đây có thể coi là điểm yếu nhất của mô hình Làng đô thị Việt Nam.  


Làng Ngọc Hà, quận Ba Đình, Hà Nội; Mảnh vườn trồng hoa còn sót lại
 

2) Cân bằng với truyền thống
Trong quá trình đô thị hóa, cân bằng với truyền thống có thể coi là sự cân bằng giữa sự tiếp nhận theo chiều rộng của văn hóa mới (văn hóa công nghiệp, dịch vụ, liên kết) và sự kết tinh theo chiều sâu của văn hóa truyền thống (văn hóa nông nghiệp). Cân bằng với truyền thống nhấn mạnh việc tích hợp giải pháp quy hoạch với tài sản văn hóa hiện có, tôn trọng di tích lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán và phong cách kiến trúc địa phương. Các yếu tố mới về không gian đô thị và kiến trúc được thực hiện gắn với việc khai thác tối đa các kiến thức bản địa; biểu tượng văn hóa và xã hội; cách thức thich nghi với điều kiện khí hậu, hoàn cảnh xã hội, vật liệu và công nghệ truyền thống; cách thức tiếp thu các phong cách kiến trúc, trang trí và họa tiết truyền đạt các giá trị văn hóa truyền thống. Tại đây, các di tích lịch sử, di sản trở thành các điểm nhấn thị giác.

Làng xưa là nơi tôn trọng, tích tụ truyền thống văn hóa và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Các dấu hiệu và biểu tượng của truyền thống văn hóa gắn với đức tin, điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, vật liệu và công nghệ sẵn có, được thể hiện qua yếu tố nghệ thuật vật thể như cổng làng, giếng làng, đình, đền, chùa, chợ, nhà ở, họa tiết trang trí; và yếu tố nghệ thuật phi vật thể như lệ làng, hương ước, tín ngưỡng, lễ hội, hát, trò chơi….

Làng đô thị nay, dù nằm trong ranh giới đô thị, song vẫn mang đậm truyền thống nông thôn. Các hộ dân trong làng vẫn còn lưu giữ được các bản sắc văn hóa nhất định của hộ gia đình nông nghiệp. Nếu gìn giữ được văn hóa truyền thống, Làng đô thị sẽ trở thành một điểm tựa, kết nối với văn hóa hiện đại  được hình thành trong các Khu đô thị mới xung quanh và tạo nên sự cân bằng với truyền thống trong toàn đô thị. Làng đô thị là nơi có một số đông cư dân từ nơi khác đến, dễ dẫn đến các yếu tố văn hóa truyền thống của làng xưa bị lãng quên và dần lụi tàn. Nếu không lưu giữ được yếu tố văn hóa truyền thống, Làng đô thị chỉ còn là một khu vực phát triển chất lượng thấp trong đô thị.  

3) Công nghệ phù hợp
Trong quá trình đô thị hóa, công nghệ phù hợp nhấn mạnh việc sử dụng vật liệu xây dựng, kỹ thuật xây dựng, hệ thống cơ sở hạ tầng và quản lý dự án phù hợp với bối cảnh địa phương. Năng lực của người dân, điều kiện khí hậu, nguồn lực sẵn có và nguồn vốn đầu tư là tiền đề để lựa chọn một công nghệ phù hợp cho việc thực hiện quy hoạch. Nơi nào có nhiều thợ thủ công, phương pháp sử dụng nhiều lao động là thích hợp. Trong thời đại hội nhập, nhiều công nghệ, vật liệu với tiềm năng tạo giá trị gia tăng cao xuất hiện. Để đạt hiệu quả, các công nghệ mới, vật liệu mới cũng phải được tiếp nhận.

Làng xưa được hình thành gắn với công nghệ xây dựng phù hợp và thống nhất trong toàn làng, theo thời gian hình thành nên các yếu tố mang tính bản địa của kiến trúc mỗi làng.

Làng đô thị nay tiếp thu mọi loại công nghệ theo nhu cầu của mọi loại chủ sở hữu. Công nghệ nào cũng được, miễn xây dựng nhanh chóng, lấp đầy các khoảng trống để tận dụng các cơ hội cho nhu cầu sinh tồn với chi phí thấp nhất và nhanh nhất. Từ đây tạo ra một khu vực trăm hoa đua nở hay hỗn độn về kiểu cách xây dựng.

4) Tương tác xã hội
Trong quá trình đô thị hóa, tương tác xã hội nhấn mạnh việc hình thành các khu vực công cộng với nhiều cấp khác nhau phù hợp với mức tương tác cá nhân, bạn bè, hộ gia đình, cộng đồng và xã hội. Tại đây có nhiều loại không gian công cộng như quảng trường, sân thể thao, địa điểm trình diễn, đường dạo…, là nơi ai cũng có thể tiếp cận tự do bởi không có rào cản về vật thể hay kinh tế và xã hội. Các không gian công cộng này thúc đẩy hoạt động tương tác, gắn kết xã hội và cung cấp cho cư dân đô thị nhiều cơ hội (ngoài mạng xã hội) để họ gặp gỡ, giao tiếp với nhau, hình thành nên những cộng đồng với những nhóm người cùng sở thích, chia sẻ các công việc xã hội và hành vi văn hóa. Rộng hơn, tương tác xã hội là cơ hội cho công dân trong đô thị hiểu xã hội và tham gia các quyền lực xã hội, khởi nguồn cho việc hình thành các tầng lớp tinh hoa mới trong xã hội.

Làng xưa là nơi rất coi trọng tương tác xã hội. Tất cả các thành viên trong làng được kết nối với nhau trong một cộng đồng gia tộc, dòng họ, nghề nghiệp, tín ngưỡng, làng xóm, thông qua các địa điểm như đình, chùa làng, lễ hội… Các không gian cộng đồng trong làng được quản lý bởi cộng đồng, nơi mà người dân nhận diện ra nhau, chia sẻ các tài nguyên văn hóa chung, thể hiện niềm tin vào cái chung, sự tự do và sáng tạo của mỗi cá nhân trong cộng đồng.

Làng đô thị nay giảm sút yếu tố tương tác xã hội. Trong làng không ai biết ai. Mọi quan hệ xã hội được giải quyết theo cái lý, thiếu sự trân trọng, đoàn kết và tình thương yêu như văn hóa xưa. Mặc dù nằm trong đô thị, song trong Làng đô thị thiếu hẳn các không gian công cộng như trong các Khu đô thị mới. 

5) Hiệu quả
Trong quá trình đô thị hóa, hiệu quả nhấn mạnh đến việc thúc đẩy sự cân bằng giữa tiêu thụ tài nguyên, sử dụng nhân lực, thời gian, tài chính với các thành tựu đáp ứng nhu cầu cơ bản và nhu cầu cấp cao của con người. Theo thuyết nhu cầu Maslow (Maslow's hierarchy of needs), đó là 5 bậc nhu cầu về: Sinh tồn; An toàn; Cộng đồng; Vị thế và Cống hiến. Hiệu quả thể hiện cụ thể qua việc: Sử dụng tối ưu đất công cộng, dịch vụ, sản xuất và mạng lưới cơ sở hạ tầng; Giảm chi phí cho mỗi hộ gia đình, đồng thời tăng thu nhập, năng suất lao động, học vấn và năng lực công dân; Tổ chức giao thông vận tải gắn với việc thúc đẩy giao thông công cộng; Hình thành các khu định cư hỗn hợp giữa ở và làm việc, có quy mô phù hợp với đi bộ bên cạnh các khu vực đô thị tập trung quy mô lớn với mật độ dân cư cao...

Làng xưa được hình thành và tồn tại nhờ tạo ra hiệu quả xã hội cho từng cư dân của làng. Hương ước của làng luôn khuyến khích chia sẻ nhân lực, tài nguyên, cơ sở vật chất và tài chính và điều hòa các mối quan hệ xã hội, nhằm không có ai bị bỏ lại phía sau và thúc đẩy vị thế của từng hộ dân trong làng, vị thế của làng trước thiên hạ.

Làng đô thị nay được hình thành nhằm đáp ứng hiệu quả trước hết trong lĩnh vực bất động sản. Các hộ gia đình cũ trong làng, nhờ giá trị đất tăng, chia nhỏ lô đất ở để bán và thu được kinh phí cho việc cải tạo nâng cấp nhà cũ và củng cố nghề nghiệp. Những người nơi khác đến đây cũng nhận thấy Làng đô thị là một địa điểm có thể mua được đất rẻ để xây dựng nhà hơn hẳn việc mua các chung cư hiện đại trong các Khu đô thị mới với giá thành qúa cao so với khả năng chi trả. Vì vậy, hầu hết làng đô thị có dân cư đông đúc. Mật độ xây dựng của một số làng có thể đến hơn 70%. Làng như một mê cung với các dãy nhà liên kế, san sát nhau, cao 2- 5 tầng bám theo các ngõ hẹp 2- 3m, hầu như chỉ cho xe máy, xe đạp đi lại, phía trên là.những mớ dây điện, thông tin liên lạc vắt ngang. Trong nhiều trường hợp, ngõ làng chật hẹp tối và ẩm quanh năm, phải dùng đèn chiếu sáng cả vào ban ngày, ngăn cản cứu trợ trong trường hợp khẩn cấp. Khe hở giữa các tòa nhà chưa đầy rác thải, nơi sinh sản của chuột. 

6) Quy mô của con người
Trong quá trình đô thị hóa, quy mô của con người nhấn mạnh đến việc phát triển đô thị trên mặt đất, có thể đị bộ được và các giải pháp định hướng không gian dựa trên các biện pháp nhân trắc học, gắn với việc tìm hiểu những quy luật phát triển hình thái và thể lực con người. Trong đô thị khuyến khích loại bỏ hàng rào nhân tạo và thúc đẩy tiếp xúc trực tiếp; cung cấp các nơi thân thiện, lối đi dành cho người đi bộ và các khu vực công cộng, nơi mà mọi người có thể gặp gỡ tự do. Các không gian này có thể là công viên, vườn hoa, khu trưng bày, sân trong, quán cà phê, lối đi dạo.

Làng xưa luôn gắn với con người, từ cả ngôi nhà đến từng chi tiết kiến trúc, từ công trình nhà ở đến cổng làng, ngôi đình, chùa. Trong làng không có hàng rào nhân tạo nào ngăn cản con người giao tiếp với nhau. Không gian của làng trải rộng trên mặt đất gắn với tầm nhìn rộng mở của con người. Tất cả đều được xây dựng phù hợp với kích thước của con người.

Làng đô thị nay nổi bật bởi các ngôi nhà ống bám sát đường, kín cổng, cao tường và đua tranh vươn lên theo chiều cao. Trong các ngõ hẹp không còn tầm nhìn rộng mở cho con người, như đẩy con người vào tình trạng biệt lập so với xung quanh. Mọi người chỉ còn hướng vào ngôi nhà riêng của họ. Các ngôi đình, đền xưa nằm chen sát cạnh các lô nhà và không còn một khoảng trống. Con người trong các ngõ hẹp không còn cảm nhận sự thường trực của màu xanh cây cối, màu xanh của bầu trời. Tất cả chỉ còn lại là màu của vật liệu xây dựng trên bề mặt của mỗi ngôi nhà. Trong một môi trường chật hẹp và tù túng như vậy, khó có thể hình thành và nuôi dưỡng được các hành vi tốt đẹp của con người để hướng tới sự khoan dung, yêu thương và hòa bình.

7) Ma trận cơ hội
Thành phố là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế. Đây là nơi kết tụ và thu hút con người đến để tăng cường kiến thức, kỹ năng và mức tự chủ của họ một cách hiệu quả. Thành phố là phương tiện cho cá nhân, xã hội phát triển, thông qua việc tiếp cận các tổ chức, dịch vụ, cơ sở hạ tầng và cung cấp nhiều cơ hội lập nghiệp, giáo dục và giải trí. Ma trận cơ hội nhấn mạnh đền việc thúc đẩy khả năng tiếp cận nơi ở, chăm sóc sức khỏe, tăng điều kiện an toàn và vệ sinh và phát triển nguồn nhân lực. Ma trận cơ hội cũng khác biệt với nhiều tầng lớp người: Người lao động giản đơn, người lao động có tay nghề cao, các chuyên gia, tầng lớp trung lưu và doanh nhân giàu có. Gắn với đó là nhu cầu về mức thu nhập, nhà ở, cống hiến…

Làng xưa là không gian với những cơ hội mà ai cũng có thể hình dung và ai cũng có thể tham gia.

Làng đô thị không thể bằng Khu đô thị mới về một số cơ hội, song tại đây có thể tìm thấy từ cơ hội thuê nhà, mua nhà giá rẻ đến việc khởi sự kinh doanh các việc nhỏ gắn với các tuyến ngõ dịch vụ, phù hợp cho những cư dân mới đến thành phố sinh sống. Đây là điểm mạnh của mô hình Làng đô thị. Song đây cũng là ma trận của rủi ro với các vấn đề không thể kiểm soát như tình trạng ô nhiễm, quá tải về dân cư, tệ nạn xã hội, đói nghèo, sức khỏe kém, suy dinh dưỡng, thiếu hiểu biết, kỹ năng thấp, mất an toàn và thiếu công bằng. Trong Làng đô thị có cả các yếu tố ma trận cơ hội và ma trận rủi ro. 

8) Hội nhập khu vực
Đô thị luôn là một phần hữu cơ của một hệ thống địa lý, kinh tế xã hội và văn hóa địa lý lớn hơn, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nó. Trong quá trình đô thị hóa, hội nhập nhấn mạnh đến sự liên kết bên trong đô thị và với bên ngoài đô thị. Hội nhập các khu chức năng bên trong đô thị để tạo thành một thực thể thống nhất, thông qua kết nối về các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và điều kiện vật lý hay môi trường sinh thái, tự nhiên, như hành lang xanh, lưu vực tiêu nước, cao độ địa hình, tuyến phòng thủ an ninh, khoảng cách cách ly với cơ sở gây ô nhiễm như sản xuất công nghiệp, logistics, xử lý chất thải…Hội nhập đô thị với bên ngoài để tạo thành một mạng lưới đô thị, trong đó mỗi đô thị đều là một điểm nút của các dòng chảy kinh tế (Hàng hóa và nhân lực; Công nghệ và tài chính; Văn hóa và tri thức), thông qua các kết nối của các tuyến đường cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ. 

Làng xưa luôn là một phần hữu cơ của một hệ thống địa lý, kinh tế xã hội và văn hóa địa lý lớn hơn, cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của nó. Làng xã luôn gắn bó hay hội nhập với các làng xã khác trong một huyện, một tỉnh và quốc gia.

Làng đô thị hội nhập với các khu vực khác của đô thị thông qua việc kết nối dòng người di chuyển giữa nơi làm việc, mua sắm, chăm sóc sức khỏe, giải trí…Việc hội nhập hay kết nối này có nhiều mức độ rất khác nhau, từ gắn bó hoàn toàn với Khu đô thị mới đến trở thành một khu vực bị bỏ lại phía sau trong đô thị, chờ đến thời điểm thuận lợi để phá bỏ. 

9) Đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là cân bằng giao thông 
Trong quá trình đô thị hóa, ngoài việc đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng (hạ tầng kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội), cân bằng giao thông nhấn mạnh đến việc hình thành hệ thống giao thông tích hợp và cân bằng giữa phương thức đi bộ, xe đạp, xe máy, ô tô, xe bus, tàu điện; cân bằng thông qua việc phân chia các tuyến hàng lang vận chuyển hàng hóa và các tuyến không có xe cơ giới tiếp cận các cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội đô thị.  

Làng xưa có hệ thống giao thông chủ yếu là đi bộ và xe thô sơ với các tuyến đường có mặt cắt hẹp.

Làng đô thị là nơi tự phát cải tạo hệ thống giao thông xưa cho phù hợp với nhu cầu hiện đại. Tại đây không có khái niệm về các tuyến hành lang cho vận chuyển hàng hóa hay cho người đi bộ. 

10) Chính thể
Trong quá trình đô thị hóa, vấn đề chính thể nhấn mạnh đến việc quy hoạch và quản trị đô thị gắn với trách nhiệm, minh bạch, khả năng giải trình và có sự tham gia của xã hội. Quy hoạch và quản trị đô thị được hình thành trên hệ thống cơ sở dữ liệu, quyền lợi chính đáng, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân. Quản trị đô thị hoạt động hiệu quả khi có một khung thể chế (Institutional Framework), được vận hành dựa trên bản quy chế hay quy định kiểm soát phát triển (Development Control Regulations). Bản quy chế này như một công cụ pháp lý để hướng dẫn sự tăng trưởng, phát triển và nâng cao vị thế đô thị, ví dụ như hướng dẫn làm thể nào để đất đai được khai thác và tiếp cận; cung cấp cho chủ sở hữu, nhà đầu tư thông tin để họ hình thành các kịch bản trong tương lai. Nhà đầu tư và các bên liên quan phải được tuyên truyền để thực sự hiểu bản quy chế và cùng tham gia thực hiện. Quy chế phát triển đô thị cũng giúp cho cơ quan quản lý địa phương chuyên nghiệp hơn trong việc quản lý, phục vụ và tạo điều kiện cho phát triển đô thị. Ngoài ra, trong quá trình đô thị hóa, phải hình thành được hệ thống tham gia của các bên liên quan, thông qua các cuộc họp công khai, các phiên điều trần và các quy trình minh bạch để giải quyết các bất đồng. Trong thời hiện đại, quy hoạch và quản trị đô thị là một trong những biểu hiện nổi bật nhất của văn minh.

Làng xưa có tổ chức làng, thường bao gồm: Hội đồng ra quyết định (hội đồng hương chính); Người chủ tọa (xã trưởng); Người chấp hành (lý trưởng) và Người phụ trách trị an (tuần đinh). Tổ chức làng điều hành hoạt động của làng theo phép vua và lệ làng. Lệ làng là một hệ thống quản trị địa phương trong tất cả các lĩnh vực và quản trị thiên về hướng mở để ai cũng hiểu, có trách nhiệm và quyền lợi thực hiện. Đây cũng là một trong cội nguồn sức mạnh đoàn kết của người Việt.

Làng đô thị nay trong nhiều trường hợp rơi vào cảnh: Lệ làng thì không còn, song quy chế quản lý đô thị lại chưa tới. Việc quản trị đô thị không chuyên nghiệp. Các nhà kinh doanh bất động sản lớn, nhỏ đến đây cùng mô hình “chia lô, bán nền” với mối quan tâm duy nhất là: tìm kiếm đất, xây dựng, bán nhà, kiếm lợi nhuận và tiếp tục. Tại đây thiếu những chế tài yêu cầu các sản phẩm hình thành trong quá trình đầu tư là an toàn, hợp vệ sinh, trật tự và mang lại cả hiệu quả cho xã hội. 

Phá bỏ hoặc tái sinh Làng đô thị
Làng đô thị, một mặt cung cấp cơ hội sinh tồn cho những cư dân nghèo đến từ các vùng nông thôn. Mặt khác, đây cũng là nơi sản sinh các vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường và tội phạm. Làng đô thị dần trở thành một khu vực khác biệt với Khu đô thị mới xung quanh, từ kết cấu hạ tầng đến không gian kiến trúc.
Từ đây có thể phân thành hai loại: Làng đô thị hy vọng (hoàn toàn có thể tái phát triển) và Làng đô thị tuyệt vọng (cần phá hủy).
Nhằm tối đa hóa giá trị đất đai và cải thiện hình ảnh hiện đại của thành phố, việc phá bỏ di dời Làng đô thị dần trở thành mối quan tâm của chính quyền và các nhà đầu tư có tiềm năng. Song điều này sẽ không đơn giản bởi nhiều hộ dân không muốn di dời mảnh đất mà tổ tiên của họ để lại.
 


Bức ảnh về một Làng đô thị tại thành phố Quảng Đông Trung Quốc, gắn với tiêu đề: Sự sụp đổ và nơi ẩn náu cuối cùng của người di cư.
  


Bức ảnh về Làng đô thị nằm xen trong Khu đô thị mới  tại phía Nam thành phố Hà Nội

Có thể hình thành một cách tiếp cận khác là tái phát triển, bảo tồn Làng đô thị, nhằm phát triển bất động sản cung cấp nhà ở giá rẻ trong thành phố... và là một nơi lan truyền các yếu tố văn hóa truyền thống.
Làng đô thị gắn với sự tự so sáng tạo và thần đạo mạnh mẽ của người Việt có thể trở thành địa điểm tạo lập tinh thần nơi chốn (Sense of place) của đô thị và có thể phát triển theo hướng mô hình Làng đô thị tại các quốc gia phát triển. Trong trường hợp này, Khu đô thị mới và Làng đô thị là một hiện tượng cộng sinh với ý nghĩa tích cực.
Người ta hay nói tới khái niệm “thời điểm giải quyết”, giải quyết sớm thì không có nguồn lực, giải quyết muộn thị không kịp. Có thể tại các thành phố khác, vấn đề Làng đô thị chưa cần phải quan tâm so với vô vàn các việc cấp thiết khác, song tại Hà Nội phải sớm đặt ra, trước khi mô hình Làng đô thị sụp đổ. Cuối tháng 9/2019, các báo đưa tin về trung tâm Hà Nội ở trong tình trạng ô nhiễm không khí rất nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân là do tại đây diện tích cây xanh chiếm tỷ lệ rất thấp, đặt biệt là tại các khu vực Làng đô thị.
Hiện tại, quan tâm của chính quyền và giới chuyên môn xây dựng tập trung chủ yếu cho các Khu đô thị mới, mà chưa chú ý đến Làng đô thị, tương tự như vấn đề cải tạo chung cư cũ. Phá bỏ hoặc tái sinh Làng đô thị, vấn đề này phải sớm được dự báo, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để xã hội cùng thực hiện.

TS. Phạm Đình Tuyển, Bộ môn KTCN, ĐHXD 

Nguồn:
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A0ng_(Vi%E1%BB%87t_Nam)
https://en.wikipedia.org/wiki/Urban_village
https://en.wikipedia.org/wiki/Service_economy
https://en.wikipedia.org/wiki/Garden_city_movement
https://en.wikipedia.org/wiki/New_Urbanism
https://en.wikipedia.org/wiki/Principles_of_intelligent_urbanism
https://en.wikipedia.org/wiki/Maslow%27s_hierarchy_of_needs
https://en.wikipedia.org/wiki/Urban_village_(China)
http://www.thatsmags.com/shenzhen/post/19140/the-fall-of-urban-villages-migrants-last-refuge
https://u.osu.edu/mclc/2017/05/30/the-fall-of-guangdongs-urban-villages/
https://en.wikipedia.org/wiki/Sense_of_place 
 

Cập nhật ( 14/10/2019 )
 
Tin đã đưa:
“Đặt ra kế hoạch thật tốt, thật sát là rất cần, nhưng đó chỉ là bước đầu, kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể phải 20 phần, chỉ đạo sát sao phải là 30 phần- có như thế mới hoàn thành kế hoạch”
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com