Tuần 11 - Ngày 20/10/2018
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Hỏi:

cho e hỏi  e đang làm đồ án kiến trúc.  
nhà e thiết kế 40m2 mật độ xây dựng là 100% vậy e có thể thiết kế ban công nhô ra 1 chút đc k ạ 


Trả lời:  Bmktcn.com đã nhận được thư của em.
Theo Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, phần nhà được phép nhô quá chỉ giới đường đỏ trong trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ, gắn với điều kiện: 
- Độ cao so với mặt hè lớn hơn và bằng 3,5m;
- Ban công có thể đua ra tối đa: 0m với lộ giới rộng dưới 7m; 0,9m với lộ giới 7-12m; 1,2m với lộ giới 12-15m; 
- Độ vươn ra phải nhỏ hơn chiều rộng của vỉa hè ít nhất là 1m; 
- Trên phần nhô ra chỉ được làm ban công, không được che chắn tạo thành logia hay buồng; 
- Vị trí độ cao và độ vươn ra cụ thể phải phù hợp với cảnh quan chung.

Ngày 15/8/2016, Bmktcn.com


Hỏi:  Thầy cô cho e hỏi: 
Đồ án kiến trúc công nghiệp 1 e co làm và nộp bài sao trên trang đào tạo e lai ko co điểm ah ? 
Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.  
Em cần trình bày rõ: Không có điểm hay là điểm 0; em học tại lớp nào; giảng viên phụ trách và cần phải liên hệ ngay với giảng viên để hỏi rõ lý do tại sao. Có thể do vào điểm nhầm, vào điểm thiếu.... 
Sau đó phải làm ngay đơn xin phúc tra gửi Phòng Đào tạo. 

Ngày 19/7/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN. TS. Phạm Đình Tuyển. 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Văn bản quy định của Bộ môn KTCN về thực hiện học phần đồ án KTCN
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Các mẫu văn bản về đào tạo và KHCN có liên quan tại ĐHXD
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Danh sách cán bộ Bộ môn KTCN, ĐHXD
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quyết định số 01/2017/QĐ-TTg ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân
+ Chương trình đào tạo Kiến trúc sư công trình
+ Chương trình đào tạo kiến trúc sư quy hoạch
+ Chương trình khung đào tạo thạc sỹ Kiến trúc - Quy hoạch, ĐHXD
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Đào tạo khởi nghiệp và khác
Rất cần khoa học mở cho Cách mạng Công nghiệp 4.0
04/03/2018
 

Tại Việt Nam thời gian gần đây, bạn có thể nghe nói nhiều tới CMCN4.0 ở khắp mọi nơi, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các trang mạng xã hội… Gần đây, tạp chí Tia Sáng tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: “CNTT Việt Nam có thể làm gì trong CMCN4.0?” Quả thật, để trả lời cho câu hỏi ở trên vào lúc này là không dễ, và tôi tin sẽ có nhiều câu trả lời khác nhau, thậm chí rất khác nhau, từ góc nhìn và quan điểm của những người khác nhau, với các lĩnh vực chuyên sâu khác nhau của họ. Là người có đam mê tìm hiểu các thông tin trong lĩnh vực nguồn mở, bao gồm cả phần mềm nguồn mở, phần cứng nguồn mở, khoa học mở, truy cập mở, dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở và nhiều khái niệm “NGUỒN MỞ” khác, tôi muốn thông qua bài viết này để thử trả lời cho câu hỏi khó đó với góc nhìn của “NGUỒN MỞ”, cùng lúc đối chiếu với hiện trạng của Việt Nam để bạn đọc, đặc biệt là những người trong cuộc, có thể cảm nhận được ngay những khó khăn mà chúng ta gặp phải khi đối mặt với CMCN4.0.  

Triết lý của “NGUỒN MỞ” 

Tôi mê cái triết lý của “NGUỒN MỞ”, được diễn giải trong câu sau đây của Bernard Shaw trong cuốn sách “Giới thiệu phần mềm tự do”(1) của Viện Công nghệ Tự do – FTA (Free Technology Academy):
“Nếu bạn có một quả táo và tôi có một quả táo và chúng ta trao đổi táo cho nhau, thì bạn và tôi sẽ vẫn mỗi người có một quả táo. Nhưng nếu bạn có một ý tưởng và tôi có một ý tưởng và chúng ta trao đổi cho nhau những ý tưởng đó, thì mỗi người chúng ta sẽ có 2 ý tưởng”.
Đây chính là triết lý cơ bản nhất của thế giới nguồn mở, là nguyên tắc cộng lực tuyệt vời không chỉ cho phần mềm nguồn mở, mà còn cho và là nguồn cảm hứng để chia sẻ mở nhiều điều khác nữa trong thế giới của những thứ vô hình được chia sẻ mở khác, như trong các khái niệm mới được sinh ra thời gian gần đây như “Khoa học mở - Open Science”, “Truy cập mở - Open Access”, “Dữ liệu Mở - Open Data”, “Dữ liệu mở liên kết - Linked Open Data”, “Tài nguyên giáo dục mở - Open Educational Resources”…
Ngày nay, nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả nước Mỹ và châu Âu, đang triển khai rộng rãi triết lý này và sự chia sẻ mở trong các chương trình, dự án đi với các khái niệm được nêu ở trên, đặc biệt trong trường hợp các chương trình, dự án đó được cấp vốn từ nhà nước, về bản chất là từ tiền của những người dân đóng thuế của các nước đó.
Triết lý này không là đặc tính của thế giới nguồn đóng, bất kể lĩnh vực nào, nơi mà mọi ý tưởng thường không được chia sẻ mở và bản thân sự chia sẻ mở cũng là điều cấm kỵ, không được khuyến khích và/hoặc chào đón trong cái thế giới nguồn đóng đó.

A. Vài đặc tính nổi bật nhất của CMCN4.0

Trong thời gian qua, đã có không ít các bài viết nêu những đặc tính của CMCN4.0, trong số đó, có lẽ nổi bật nhất là: 1) người máy có khả năng thay thế con người; và 2) sự thông minh trong giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong cuộc sống của con người theo các mức độ ‘thông minh’ khác nhau, với mức thông minh cao nhất được cho là nhờ vào khả năng sử dụng các kết quả phân tích dữ liệu lớn theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực) để đưa ra các quyết định điều khiển sự vận hành của một (vài) quy trình công việc nào đó cũng theo thời gian thực (hoặc gần với thời gian thực).

B. Việt Nam trước các cơ hội và thách thức của CMCN4.0

Có một logic đơn giản có lẽ nhiều người sẽ cảm thấy là đương nhiên, đó là, để có thể tiếp cận được và làm được gì đó với CMCN4.0, yêu cầu hàng đầu là phải đổi mới sáng tạo. Để có được đổi mới sáng tạo thì cần phải có tri thức và đầu tư thích đáng cho nghiên cứu/ phát triển và triển khai, cả nhân lực, vật lực và tiền bạc.
Bạn đừng bao giờ nghĩ Việt Nam có thể tiếp cận được hoặc làm gì đó lớn với CMCN4.0 bằng con đường để trở thành “Người mua sắm vĩ đại” như những gì, có lẽ, Việt Nam đã từng làm trong vài thập kỷ vừa qua, và cũng đã được nhắc tới trong một bài trên tạp chí Tia Sáng thời gian gần đây. Vì sao? Vì, ít nhất, bạn cần các dữ liệu về Việt Nam và của Việt Nam.

C. Tại sao khoa học mở, truy cập mở, dữ liệu mở, và tài nguyên giáo dục mở lại cần thiết để Việt Nam có thể nâng cao năng lực tiếp cận trong cuộc CMCN4.0?

Với Việt Nam bây giờ và có lẽ trong vài thập kỷ tới, câu hỏi lớn được đặt ra: Làm thế nào để đổi mới sáng tạo khi mà nhân lực, vật lực và tiền bạc đều rất ít và rất hiếm?
Vô số các ví dụ ở các quốc gia như Mỹ và châu Âu hiện nay, những nơi đang phất cao ngọn cờ khoa học mở, truy cập mở, giáo dục mở và dữ liệu mở, có lẽ là tấm gương sáng để Việt Nam nhận thức ra được con đường tất yếu phải đi nếu thực sự Việt Nam muốn tiếp cận và làm được gì đó trong cuộc CMCN4.0. Biết rằng, để khoa học mở phát triển, Liên minh châu Âu (EU) đã từng đầu tư liên tục trong vòng hơn 1 thập kỷ qua, và chỉ riêng với chương trình Horizon 2020 (https://ec.europa.eu/programmes/horizon2020/en/what-horizon-2020), EU đã và đang đầu tư cho tới năm 2020 một khoản tiền khổng lồ gần 80 tỷ euro để hiện thực hóa ‘Đám mây khoa học mở của châu Âu’.

C1. Khoa học mở

Định nghĩa khoa học mở (2): Khoa học Mở (Open Science) là thực hành khoa học theo cách thức sao cho những người khác có thể cộng tác và đóng góp, nơi mà các dữ liệu nghiên cứu, các ghi chép trong phòng thí nghiệm và các quy trình nghiên cứu khác là sẵn sàng tự do, theo các điều khoản cho phép sử dụng lại, phân phối lại và tái tạo lại nghiên cứu đó và các dữ liệu và phương pháp nằm bên dưới của nó.
 


Hình 1: Khoa học mở - các thành phần và đặc tính. Trong đó, truy cập mở, dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở là các thành phần không thể thiếu của nó. 

Hình 1 cho chúng ta nhận biết được: 1) khoa học mở gồm những thành phần nào; và 2) khoa học mở ngày nay có thể được đặc trưng bằng những đặc tính nào (hoặc các ký tự nào theo tiếng Anh). Hình 1 cũng cho chúng ta thấy:
- Khoa học mở là chưa tồn tại ở Việt Nam.
- Ở Việt Nam hiện tại, không khó để thấy rằng, các tài liệu và dữ liệu khoa học là kết quả của các nghiên cứu khoa học, nhất là các nghiên cứu khoa học được nhà nước cấp tiền, hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, chưa mang/với tới được các tiêu chuẩn của bất kỳ đặc tính nào của khoa học mở như: 1) Khả năng tìm kiếm, phát hiện ra được (Findable) trên Internet; 2) Truy cập được (Accessible) trên/qua Internet; 3) Tương hợp được (Interoperable) - khả năng trao đổi và pha trộn thông tin và/hoặc dữ liệu với nhau nhờ sử dụng các tiêu chuẩn mở; 4) Sử dụng lại được (Re-usable); 5) Lần vết được (Traceable), ví dụ trích dẫn từ đâu, có rõ ràng và minh bạch hay không, có ‘đạo văn’ hay không?; 6) Được cấp phép mở (Licensed), ví dụ như Creative Commons; 7) Được kết nối với nhau (Connected).

C2. Truy cập mở

UNESCO định nghĩa truy cập mở (http://en.unesco.org/open-access/what-open-access) như sau: “Truy cập mở tới tư liệu ngụ ý tính sẵn sàng tự do trên Internet công khai, cho phép bất kỳ người sử dụng nào để đọc, tải về, sao chép, phân phối, in, tìm kiếm, hoặc liên kết tới toàn văn các bài báo đó, đi sâu vào chúng để đánh chỉ mục, truyền chúng như là dữ liệu tới phần mềm, hoặc sử dụng chúng vì bất kỳ mục đích hợp pháp nào khác, mà không có các rào cản về tài chính, pháp lý hoặc kỹ thuật ngoại trừ những rào cản gắn liền với sự truy cập tới bản thân Internet”.
Triết lý của truy cập mở là để cung cấp sự truy cập miễn phí và không có rào cản tới nghiên cứu và các xuất bản phẩm của nó mà không có các hạn chế về bản quyền.
Để làm thỏa mãn những gì được nêu trong định nghĩa của truy cập mở, công việc cốt lõi là chuyển đổi hệ thống truyền thông nghiên cứu từ hệ thống người sử dụng trả tiền thành hệ thống truyền thông nghiên cứu tác giả trả tiền, đặc biệt đối với các nghiên cứu có sử dụng tiền từ nhà nước cấp (từ những người đóng thuế). Sự thay đổi này kéo theo sự thay đổi của quy trình xuất bản các kết quả nghiên cứu và mô hình kinh doanh của tất cả các bên tham gia đóng góp trong hệ thống truyền thông nghiên cứu, bao gồm cả các nhà nghiên cứu, các nhà xuất bản, các nhà cấp vốn nghiên cứu, các trường đại học/ các viện nghiên cứu và các thư viện, và xã hội học tập.
Đây là công việc rất khó, mất nhiều công sức và thời gian, vì cần phải làm hài hòa lợi ích của nhiều bên, trong khi các lợi ích của từng bên là khác nhau, đôi khi trái ngược nhau. Thực thể có khả năng nhất để kết nối để làm hài hòa hóa các lợi ích của các bên chính là nhà nước - thực thể thay mặt cho những người dân đóng thuế. 
 


Hình 2: Các dạng truy cập mở.

Có thể dễ dàng để thấy, các dạng truy cập mở là chưa tồn tại ở Việt Nam, trong khi nó là phổ biến hiện nay trên thế giới, với các chính sách truy cập mở ở nhiều mức, như ở mức nhóm các quốc gia, quốc gia, tổ chức quốc tế, trường đại học khắp nơi trên thế giới.

C3. Dữ liệu mở và dữ liệu mở liên kết 

Dữ liệu mở (Open Data) được định nghĩa như sau: Dữ liệu mở là dữ liệu có thể được bất kỳ ai tự do sử dụng, sử dụng lại và phân phối lại - nhiều nhất, chỉ tuân thủ yêu cầu ghi công và chia sẻ tương tự. (http://opendatahandbook.org/guide/en/what-is-open-data/)
Dữ liệu mở liên kết là sự liên kết chỉ của các dữ liệu mở với nhau tạo thành.
Nếu sử dụng hệ thống giấy phép Creative Commons để cấp phép cho dữ liệu mở, thì chỉ có 3 loại giấy phép ở khoang trên cùng phần bên trái của Hình 3 là đáp ứng được định nghĩa của dữ liệu mở. Dữ liệu mở cũng có thể sử dụng các giấy phép mở tương đương với 3 giấy phép ở trên nhưng của các hệ thống giấy phép mở khác (3).
Để có thể làm cho máy đọc/hiểu được và có được sự thông minh, kể cả ở mức cao nhất, từ năm 2006, nhà phát minh ra World Wide Web, ngài Tim - Berners Lee đã đưa ra (https://www.w3.org/DesignIssues/LinkedData.html) nguyên tắc 4 điểm và lược đồ tiêu chuẩn 5 sao của dữ liệu mở liên kết.
Với nguyên tắc 4 điểm, ông chỉ ra rằng, nếu như Internet trước đây là web của các tài liệu được liên kết với nhau, thì Internet của ngày nay là web của các dữ liệu được liên kết với nhau; nếu Internet của trước đây sử dụng bộ định vị tài nguyên thống nhất - URL (Uniform Resource Locator) để định vị tài nguyên thì Internet của ngày nay sử dụng mã nhận diện tài nguyên thống nhất - URI (Uniform Resource Identifier) để không chỉ con người, mà cả máy cũng có thể đọc/hiểuđược và có thể không chỉ dừng lại ở mức biết được tri thức về tài nguyên được định vị như trước kia, mà quan trọng hơn nhiều, là để sinh ra được các tri thức mới.
Với lược đồ tiêu chuẩn 5 sao: Để có thể đạt tới mức 5 sao, dữ liệu cần phải tuân thủ một số yêu cầu nhất định: 
 
Hình 3: Lược đồ tiêu chuẩn 5 sao và các giấy phép mở Creative Commons.


- Mức 1 sao là thấp nhất, yêu cầu dữ liệu phải được cấp phép mở để trở thành dữ liệu mở, như được nêu ở phần định nghĩa dữ liệu mở ở trên, vì thế bất kỳ doanh nghiệp nào, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, đều có thể sử dụng các dữ liệu mở đó để tạo ra các ứng dụng/dịch vụ được phép thương mại hóa (xem khoang trên cùng của Hình 3). Ở Việt Nam hiện chưa ở đâu có các dữ liệu được cấp phép mở để đạt được mức 1 sao này.
- Mức 2 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 1 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu đó phải có cấu trúc để máy còn có khả năng đọc được.
- Mức 3 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 2 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu phải ở định dạng mở (tiêu chuẩn mở), điều rất khó cho Việt Nam đạt được, khi mà thực tế hiện nay trong các cơ quan nhà nước và trong giáo dục, hầu như chỉ sử dụng các định dạng và tiêu chuẩn đóng, từ một nhà cung cấp độc quyền duy nhất. Nếu Việt Nam tiếp tục đi theo cách thức đào tạo và/hoặc sử dụng này, trong tương lai, có khả năng sẽ phải mất rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để thực hiện việc chuyển đổi các dữ liệu từ định dạng đóng sang định dạng mở. Một điều Việt Nam cần tránh càng xa càng tốt ngay từ bây giờ.
- Mức 4 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 3 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu đi với URI cho các các đối tượng hữu hình và/hoặc vô hình. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng kho từ vựng tiêu chuẩnđể dựa vào đó xây dựng các bộ mã URI cho Việt Nam, ví dụ như các bộ từ vựng được chuẩn hóa để làm URI của Eurovoc (http://eurovoc.europa. eu/) của châu Âu, hay tìm hiểu cách tham gia sử dụng các hệ thống mã khác của thế giới, như ORCID (https://orcid.org/) để cấp mã nhận diện cho từng nhà nghiên cứu hiện nay, hay mã nhận diện đối tượng số DOI (https://www.doi.org/) cho các bài báo hay dữ liệu nghiên cứu... Lưu ý là ở Việt Nam hiện nay còn chưa xây dựng xong hệ thống mã nhận diện các tỉnh, thành phố để sử dụng trong hệ thống chính phủ điện tử. Vì vậy, có khả năng Việt Nam sẽ phải cần nhiều năm để xây dựng được hệ thống mã dạng như của Eurovoc.
- Mức 5 sao yêu cầu dữ liệu phải đạt được mức 4 sao cộng thêm yêu cầu dữ liệu phải được kết nối theo nghĩa toàn cầu. Việt Nam bây giờ, dữ liệu còn chưa có, các cơ sở dữ liệu quốc gia vẫn ở giai đoạn chuẩn bị làm và/hoặc đang làm như từ thời kỳ IT-2000 của những năm 1996-2000, chưa thể nói gì tới việc kết nối toàn cầu. 
 
Hình 4: Lợi ích của việc áp dụng các tiếp cận dữ liệu mở và dữ liệu mở liên kết. Nguồn: https://ablvienna.wordpress.com/2013/02/05/the-power-of-linked-data/.

Trong khi đó, người châu Âu với chính sách Khoa học Mở đã được phê chuẩn và đã được triển khai trong thực tế từ 2007 cho tới nay, đã và đang chỉ ra cho thế giới thấy: Nếu đi theo tiếp cận dữ liệu mở, thì bạn thu được các ứng dụng thông minh, còn nếu đi theo tiếp cận dữ liệu mở liên kết, thì ngoài các ứng dụng thông minh ra, bạn còn có khả năng có được các sản phẩm thông minh và các hệ thống thông minh.
Cũng ngay từ bây giờ, bất kỳ ai trên thế giới, kể cả các nhà nghiên cứu khoa học của Việt Nam cũng như các công ty của Việt Nam, đều được tự do tải về để sử dụng các kết quả nghiên cứu của châu Âu, bao gồm cả các bài báo, tài liệu và các bộ dữ liệu, dưới cái ô khoa học mở theo chương trình Horizon 2020 ở các trang như OpenAIRE (https://www.openaire.eu/) hay Zenodo (https://zenodo.org/), ví dụ thế.

C4. Tài nguyên giáo dục được cấp phép mở / Tài nguyên giáo dục mở (OER)

Bộ Giáo dục Mỹ (https://tech.ed.gov/open/) định nghĩa tài nguyên giáo dục được cấp phép mở (hay tài nguyên giáo dục mở - Open Educational Resource, viết tắt là OER) là các tài nguyên học tập, giảng dạy, và nghiên cứu nằm trong phạm vi công cộng hoặc đã được phát hành theo giấy phép cho phép tự do sử dụng, sử dụng lại, sửa đổi và chia sẻ chúng với những người khác. Các tài nguyên số được cấp phép mở có thể gồm các khóa học đầy đủ trên trực tuyến, các sách giáo khoa số theo module cũng như các tài nguyên khác như các hình ảnh, video và các hạng mục đánh giá.
Khác với dữ liệu mở, tài nguyên giáo dục mở có thể được gán bất kỳ giấy phép Creative Commons nào như phần bên trái của Hình 3 ở trên, và/hoặc bất kỳ giấy phép mở nào tương đương từ các hệ thống giấy phép mở khác với Creative Commons.
Theo thống kê của Creative Commons (https://stateof.creativecommons.org/), năm 2016, trên thế giới có 1 tỷ 200 triệu tư liệu được cấp phép mở Creative Commons, nghĩa là từng công dân Việt Nam, nếu có đủ các kỹ năng và khả năng, đều có thể khai thác và sử dụng được hàng tỷ tư liệu được cấp phép mở nêu trên, mà không vi phạm các luật bản quyền.
Một câu hỏi lớn cho giáo dục Việt Nam là: ở đâu đang sản xuất và tiêu dùng OER ở Việt Nam?, bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài. Trong khi đó, tại nước Mỹ, có các trang web về OER cho cả bậc đại học như MERLOT (https://www.merlot.org/merlot/index.htm), cũng như giáo dục phổ thông 12 lớp như CK-12 (https://www.ck12.org/) cung cấp nội dung OER, kể cả bằng tiếng Việt. Điều đó có nghĩa là, từ giờ trở đi, mọi học sinh phổ thông và sinh viên đại học của Việt Nam hoàn toàn có khả năng ngồi ở Việt Nam và học các sách giáo khoa và các nội dung giáo dục của nước Mỹ bằng tiếng Việt mà không mất đồng xu nào ngoài việc phải có kết nối Internet. Không rõ, các giáo viên và các cơ sở giáo dục của Việt Nam rồi sẽ ra sao khi việc sử dụng đó trở nên dễ dàng, thuận tiện và phổ cập hơn? 
 


Hình 5: OER và các trang OER của giáo dục nước Mỹ có tiếng Việt.

Có thể, những trang như MERLOT hay CK-12 còn đưa ra một thông điệp cảnh báo cho chúng ta rằng: Từ nay trở đi, những gì người Việt Nam không có khả năng làm được bằng tiếng Việt cho người Việt Nam, thì thế giới sẽ làm hộ cho Việt Nam, và người Việt Nam chỉ cần bỏ tiền ra mua dịch vụ là được chăng? Bằng cách này, Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành “Người tiêu dùng vĩ đại” chăng?

D. Lời kết

Với những gì được nêu sơ lược ở trên về một vài thành phần của khoa học mở, có thể nói ngắn gọn rằng, để có thể tiếp cận được CMCN4.0, trước hết cần phải có tri thức! Với nguyên tắc cộng lực của “NGUỒN MỞ”, thì đi với “NGUỒN MỞ” là cách để vừa có được nhiều tri thức nhất với giá thành thấp nhất và số lượng người tham gia truy cập tới tri thức lớn nhất và không có giới hạn, vừa phù hợp với xu thế phát triển của thế giới! Điều này là đúng với bất kỳ quốc gia nào, dù là nước Mỹ, các nước châu Âu hay Việt Nam.
Trên tinh thần đó, một vài gợi ý cho Việt Nam như sau:
- Việt Nam cần một thế hệ trẻ các nhà khoa học có định hướng khoa học mở.
- Việt Nam cần hệ thống chính sách để khoa học mở/truy cập mở/giáo dục mở - tài nguyên giáo dục được cấp phép mở/dữ liệu mở phát triển.
- Việt Nam cần các hệ thống thư viện số, mở, kết nối được với nhau theo các tiêu chuẩn mở quốc tế với lực lượng các thủ thư thế hệ mới với đủ các kỹ năng và khả năng để quản lý toàn bộ vòng đời dữ liệu nghiên cứu.
- Việt Nam thời gian tới cần tập trung vào xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ cho CMCN4.0 theo cách thức của khoa học mở, từng bước một để với tới được đầy đủ các đặc tính FAIR+TLC, bao gồm: 1) Các hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và khác; 2) Các hệ thống mã nhận diện duy nhất, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
- Việt Nam cần bỏ hoàn toàn giáo dục CNTT phụ thuộc vào một nhà cung cấp nguồn đóng độc quyền từ bậc tiểu học, để tránh sau này tạo gánh nặng cho việc chuyển đổi các dữ liệu từ đóng sang mở để đạt được mức 3 sao theo lược đồ tiêu chuẩn 5 sao về dữ liệu mở liên kết của Tim - Berners Lee, một công việc được biết trước, vừa tốn công, tốn sức, tốn tiền và tốn thời gian một cách vô ích. Trong khi, đối với các học sinh bậc tiểu học, thầy cô giáo dạy cái gì thì cái đó nhiều khả năng sẽ trở thành thói quen đi với chúng suốt cuộc đời. Mặt khác, đừng để trẻ em Việt Nam được giáo dục về CNTT để trở thành công dân của quốc gia là thuộc địa số của một công ty (4) nguồn đóng độc quyền nào!!!
- Các nhà khoa học trẻ Việt Nam có quan tâm tới khoa học mở có thể tìm thấy cơ hội cho mình tại châu Âu ngay lúc này, với hy vọng là lực lượng đó sau này có thể giúp cho Việt Nam tiếp cận và làm được gì đó đúng với các yêu cầu của CMCN4.0, biết rằng, trong vòng 10 năm tới, châu Âu thiếu nửa triệu nhân viên dữ liệu cốt lõi (5), một triệu nhà nghiên cứu khoa học (6) để hiện thực hóa được ‘Đám mây khoa học mở châu Âu’. 
 

Lê Trung Nghĩa

Bài viết này chỉ nêu vài thông tin sơ lược của vài thành phần cơ bản của khoa học mở. Để có thêm nhiều thông tin liên quan, bạn có thể xem tại địa chỉ: https://vnfoss.blogspot.com/.
Giấy phép của bài viết: CC BY 4.0 Quốc tế (https://creativecommons.org/licenses/by/4.0/).

Nguồn: 
http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Rat-can-khoa-hoc-mo-cho-CMCN-40--10878

-----------
(1) https://www.dropbox.com/s/6ermd5ljljoq56q/GioiThieuPhanMemTuDo-Th9-2012.pdf?dl=0
(2) https://www.fosteropenscience.eu/foster-taxonomy/open-science-definition
(3) https://www.dropbox.com/s/dfpckbj7yoq1o2l/OpenDataHandbook-Vi-21122014.pdf?dl=0
(4) http://vnfoss.blogspot.com/2017/05/cac-nha-bao-ieu-tra-nghien-cuu-su-khoa.html
(5) https://www.dropbox.com/s/isr2sa0vmalm3qw/realising_the_european_open_science_cloud_2016-Vi-20122016.pdf?dl=0 
(6) https://www.dropbox.com/s/wn6io7ql98no5i4/h2020-wp1617-swfs_en-Vi-28062017.pdf?dl=0 

 
Tin đã đưa:

“Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.”

 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com