Tuần 46 - Ngày 19/06/2024
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em cảm thấy vô hướng quá  

Em chào thầy ạ, em là 1 sinh viên đang theo học tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội và cũng đang học trong lớp Kiến trúc Công nghiệp của thầy ạ. Em có 1 số vấn đề nội tâm rất mong muốn được thầy giúp đỡ và mách bảo ạ. 
Vấn đề chính em đang gặp phải là em cảm thấy rất vô hướng như trong tiêu đề ạ. Em thấy bản thân mình không có tý năng lực nào để mai sau có thể hành nghề kiến trúc sư. Hiện tại em bị nản chí và cũng lo sợ nữa. Em vào trường cũng vì ước mơ có thể xây ngôi nhà do chính mình thiết kế và hành nghề. Nhưng em cảm thấy mình không đủ năng lực để có thể hành nghề, kiến thức trên trường là vô cùng lớn mà dù e đã học rồi nhưng lại bị quên lãng chỉ sau 1 học kỳ. Em cũng không giỏi vẽ và vẽ rất xấu nếu vẽ tay thì nhìn rất trẻ con và thiếu chuyên nghiệp, nhìn các bạn khác em cảm thấy rất tự ti, Em cũng không biết mình còn có thể đủ trình độ để đi thực tập không nữa. Chuyên môn của em em tự đánh giá là khá tệ, em rất suy sụp và cố gắng học những gì có thể mà chuyên ngành cần. Thầy có thể cho em xin ý kiến và liệu có giải pháp khắc phục không ạ, em rất sợ rằng nếu hành nghề thì bản thân không giỏi giang thì kinh tế làm ra sẽ bị thấp, không đủ sống. Vậy em phải làm sao ạ. 


Trả lời:

Thày đã nhận được thư.

Năng lực tự thân thời điểm này là kết quả của năng lực tự rèn luyện giai đoạn trước. Như em nêu trong thư, năng lực tự thân yếu, trước hết thể hiện:
i) Kiến thức chuyên môn còn nhiều khoảng trống và ngày càng rộng ra, do việc học không chăm chỉ;
ii) Trình bày bản vẽ kiến trúc xấu, do không cẩn thận khi thiết kế;
iii) Mất niềm tin vào chính mình, nản chí và dẫn đến lo sợ cho tương lai. 
Phải thấy đó là điều không tốt đẹp do chính em gây ra, để có trách nhiệm mà sửa mình. 
Được gia đình hỗ trợ, có sức khỏe và năng lực để học đến năm thứ 3, là may mắn lắm, khi so sánh với rất nhiều thanh niên người Việt khác. 

Một số việc phải làm ngay: 
i) Thay đổi ngay nhận thức cũ: Ta phải trở thành người tài với cả kỹ năng cứng và mềm phù hợp để cạnh tranh và hợp tác, không chỉ trong kiến trúc mà cả lĩnh vực liên quan khác mà xã hội đang cần và tạo ra giá trị gia tăng;
ii) Sử dụng thời gian hợp lý: Một ngày ngủ đủ 6- 7 tiếng để tái tạo sức lao động. Thời gian còn lại dành cho: Học ngoại ngữ và chuyển đổi số; Đi học đầy đủ và lắng nghe bài giảng; Đọc sách và tài liệu bổ sung kiến thức; Chủ động trao đổi chuyên môn với giảng viên và bạn bè;
iii) Chăm chỉ tự học tập: Lời chê ghê gớm nhất là Kẻ lười nhác. Từ Kẻ lười nhác đến Kẻ hèn hạ và vô dụng rất gần nhau. Không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mà học hỏi, mà phải có kế hoạch tự học, từ trong sách vở đến mạng xã hội và thực tế;
iv) Mở ra với thế giới bên ngoài: Tìm người có đức, có tài mà chơi để học kiến thức và sự đồng thuận; Ra với môi trường tự nhiên mà hòa vào trong đó. Sẵn sàng trải nghiệm làm những điều tốt đẹp; 
v) Còn 2 năm nữa mới ra trường. Phải học để tốt nghiệp đại học, điểm khởi đầu sự nghiệp của một người tri thức. Đây là thời gian đủ để em tìm lại sự cân bằng cảm xúc và tận tâm thay đổi chính mình.

Nếu có vấn đề gì về việc học tập có thể trao đổi với thày. Thày sẵn sàng đồng hành.

Ngày 4/11/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Em kính chào thầy ạ.
Em đang đọc lần 2 quyển sách Nghĩ giàu làm giàu, xuất bản lần đầu năm 1937. Quyển sách được viết từ 90 năm trước nhưng nó vẫn đang phản ánh nhiều thực tế.
Em đã đọc được rằng "các cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm hơn nữa trong việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên".
Em nghĩ đó là việc các thầy đang làm không ngừng. 
Em viết mail này để cảm ơn công việc của thầy ạ.

Em cảm ơn thầy đã đọc ạ.
Sinh viên 60KD3


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Rất cám ơn về những dòng chia sẻ, động viên. 
Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên không chỉ liên quan đến việc đào tạo kỹ năng cứng mà còn phải là kỹ năng mềm, liên quan trước hết đến năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. 
Cuốn sách "Nghĩ giàu, làm giàu" chỉ là một trong những nội dung mà thế hệ trẻ quan tâm.
Điều lớn lao hơn là họ phải có năng lực tự thân và năng lực tự rèn luyện để hình thành sự nghiệp và trở thành người tốt cho gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với chuẩn mực chung của loài người trong thế kỷ 21. 
Sinh viên là tương lai của thày.
Thày cùng các thày cô giáo khác đang nỗ lực hết sức để biến tương lai tốt đẹp đó thành hiện thực. 
Thày đang viết một cuốn sách với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên (và cựu sinh viên) trong lĩnh vực xây dựng'. Dự kiến tháng 5/2023 xuất bản. 
Chúc mọi điều tốt lành. 
Ngày 8/3/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 

 
 
Hỏi:

 

Thưa thầy, em xin gửi kết quả bigfive mới của bản thân, qua đây em cũng xin cảm ơn thầy vì thông qua bài khảo sát bigfive và những lời thầy nói, em đã cố gắng khắc phục những yếu điểm của bản thân và cũng như trau dồi thêm kiến thức để khai phá bản thân, và thực tế đã có những chuyển biến tích cực trong cuộc sống và công việc của em, tuy vậy bản thân em cũng vẫn còn những thiếu sót, những điều em chưa thay đổi đc, em mong thầy thông cảm và trân thành cảm ơn thầy đã lắng nghe em.

 

Sinh viên Khóa 53KD, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, ĐHXD Hà Nội

 


Trả lời:

 

Đã nhận được kết quả Big Five. Nên ghép thêm kết quả của những sinh viên khác, người khác để có thể so sánh và rút ra được nhận xét ta là ai và từ đó tự sửa mình. 

Kết quả cho thấy: Tính cách (hay kỹ năng mềm) thuộc loại trung bình. Yếu về tính hướng ngoại. 

Từng bước, từng bước mà cố gắng hơn. 

 

Ngày 3/2/2023, thày Phạm Đình Tuyển 

 


Hỏi:  Em gửi thầy kết quả Big Five ạ.




Trả lời: Thày đã nhận được kết quả đánh giá Big Five của em. 
Sau một năm tự nhìn nhận mình là ai và đã có những thay đổi . 
Tính cách Tận tâm và Hướng ngoại được cải thiện so với trước. 
Tính cách Cân bằng cảm xúc vẫn yếu như cũ. Theo các nghiên cứu mà thày được biết, tính cách Cân bằng cảm xúc là cốt lõi. Mọi năng lực hoạt động chuyên môn, xã hội của một con người đều dựa vào đây mà ra cả. 
Ta có mặt trên đời này đều có nguyên cớ tốt đẹp nào đó.  Phải tự tin hơn nữa vào chính mình, trước hết là từ công việc chuyên môn, nay chính là đồ án tốt nghiệp. 
Thày sẽ hỗ trợ chuyên môn để em có kết quả tốt nhất trong việc thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 
Ngày 10/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển.  
 

Hỏi: E chào thầy ạ! E là Thắng ,sinh vien nhận đồ án tốt nghiệp nhóm thầy, nhóm mình có nhóm zalo riêng hay thế nào để trao đổi về đồ án k ạ ? Em tìm sđt thầy để add Zalo nhưng không được ạ! Em cảm ơn thầy.
Trả lời: Trao đổi trực tiếp với thày qua mail. 
 
Một số nội dung chính thực hiện trong 4 tuần đầu tiên: :
 
1) Đọc kỹ các yêu cầu về nội dung Học phần đồ án tốt nghiệp của Khoa và Bộ môn KTCN; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành ngay trong tuần thứ 1)  
2) Báo cáo về tên đề tài tốt nghiệp, vị trí cụ thể khu đất dự kiến theo tỷ lệ 1/500 (hoàn thành trong tuần thứ 1)
3) Chuản bị các quy định, tiêu chuẩn thiết kế có liên quan đến đề tài; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành trong tuần thứ 2)
4) Tìm 5 ví dụ trên thế giới về các công trình tương tự với loại hình dự kiến trong đề tài tốt nghiệp; nhận xét và đánh giá, kết luận rút ra để có thể ứng dụng cho đề tài (4 tuần phải hoàn thành); 
5) Đọc lại các nguyên lý thiết kế kiến trúc đã được học (phải làm ngay và liên tục cho đến khi bảo vệ đề tài);
6) Nên tự đánh giá Ta là ai. Đánh giá theo phần mềm  Big Five- tính cách sinh viên, để thày biết rõ hơn về sinh viên. 
Phần mềm đánh giá: http://talaai.com.vn/   (talaai.com.vn)
Sau đó gửi ngay kết quả đánh giá tính cách cho thày, để có thể hỗ trợ. 
 
Gặp nhau 2 tuần/lần. Mỗi lần gặp cần chuẩn bị sẵn câu hỏi để có thể trao đổi tối đa những vấn đề liên quan đến đề tài tốt nghiệp mà không tự trả lời được. 
Địa điểm gặp: Chiều thứ tư hàng tuần, từ 16h - 17h30 tại Văn phòng Bộ môn KTCN. 
 
Đồ án tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng của đời người lao động trí óc. 
Phải nỗ lực hết sức và dành tất cả thời gian, nguồn lực cho đồ án. Từ đây mới có kết quả tốt nhất, để trải nghiệm, hình thành năng lực cần thiết chuẩn bị cho việc ra trường và làm việc với vô số những người tài khác trong xã hội. 
 
2/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển. 
 

Hỏi:  Em chào bộ môn ạ, em là Hoàng Đức Dương lớp 66XD8 msv-0013966 đang làm bài tiểu luận về công trình dân dụng ạ em thấy bộ môn có đăng bài về công trình galaxy soho ở Trung Quốc vậy em muốn xin bộ môn cho em bài đăng đó được không ạ, em xin cảm ơn bộ môn,em chào bộ môn ạ.


Trả lời: Trang WEB bmktcn.com được thành lập với mục tiêu chính là phục vụ sinh viên. Đương nhiên là em được đăng lại các bài viết trên trang WEB này. 
Chủ  biên: TS. Phạm ĐÌnh Tuyển 

Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Bộ Xây dựng cung cấp 37 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4
+ NĐ 109/2022/NĐ-CP quy định về hoạt động KHCN trong cơ sở giáo dục ĐH
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Truyền thuyết Kiến trúc kho báu Chùa Một Cột
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Đào tạo khởi nghiệp và khác
Nâng cao chất lượng luận văn khoa học – Kết quả của quá trình đào tạo sau đại học
09/10/2017
 


NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LUẬN VĂN KHOA HỌC – 
KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC * 

Luận văn (LV), Luận án (LA), gọi chung là Luận văn khoa học (LVKH), dù thuộc bậc đào tạo nào, cao học hay nghiên cứu sinh, cũng cần được xem là một công trình khoa học. 
LVKH vừa mang tính chất một công trình nghiên cứu khoa học (NCKH), nhưng lại vừa nhằm mục đích học tập phương pháp NCKH. Nó vừa phải thể hiện những ý tưởng khoa học của tác giả, nhưng lại vừa phải thể hiện kết quả của quá trình tập sự nghiên cứu trước khi bước vào sự nghiệp làm khoa học thực thụ. 
Với ý nghĩa như vậy, người viết LVKH cần chuẩn bị không những chỉ nội dung KH, mà qua đó còn phải thể hiện biết vận dụng những kiến thức về phương pháp luận NCKH. 
LVKH là chuyên khảo trình bầy có hệ thống về một vấn đề khoa học hoặc công nghệ nhằm các mục đích: Rèn luyện về phương pháp và kỹ năng NCKH; Thể nghiệm kết quả nâng cao kiến thức của một giai đoạn học tập; Bảo vệ kết quả nghiên cứu của mình trước hội đồng chấm LV. 
Như vậy, có thể nói LVKH là một công trình tập sự NCKH, và qua đó tác giả  LV được ghi nhận đạt tới một trình độ học vấn và phương pháp làm việc khoa học cao hơn.  

1. Bản chất NCKH và phương pháp luận NCKH (PPLNCKH) của một LVKH.

Trước khi viết một LVKH, nghiên cứu sinh hoặc học viên cao học cần phải có những kiến thức cần thiết về bản chất của NCKH và PPLNCKH.

Bản chất của NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, khám phá thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới.

Mục đích của NCKH là tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất vật chất hay tạo ra những giá trị tinh thần, để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của con người. NCKH không chỉ là nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới. Khoa học đích thực luôn vì cuộc sống của con người.

Sản phẩm của NCKH là hệ thống thông tin mới về thế giới và về những giải pháp cải tạo thế giới. Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng tới cái mới. Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại và có giá trị dẫn dắt sự phát triển.

Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, bổ xung, hoàn thiện theo đà tiến bộ của xã hội loài người và ngày một tiệm cận tới chân lý khách quan. Mỗi lý thuyết khoa học được hình thành, phát triển hưng thịnh, rồi lạc hậu nhường chỗ cho cái mới, cái tiến bộ, cái có triển vọng hơn.

Giá trị của khoa học được quyết định bởi tính thông tin, tính ứng dụng và sự đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Thông tin khoa học phải có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm tra được bằng các phương pháp khác nhau.

Quá trình NCKH diễn ra phức tạp, luôn chứa đựng những mâu thuẫn, liên tục xuất hiện những xu hướng, các trường phái lý thuyết, các giả thuyết, các dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và kết cục cái nào phù hợp với quy luật, với hiện thực, đem lại lợi ích cho con người là cái chiến thắng.

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (PPLNCKH) là lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học , lý thuyết về con đường nhận thức, khám phá, cải tạo thế giới.

PPLNCKH đặt ra những nhiệm vụ quan trọng:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động NCKH, tổng kết các quy luật phát triển của khoa học hiện đại.

- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ.

- Nghiên cứu những quan điểm, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức, đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp NCKH với nội dung là các quy trình, cách thức và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu khoa học (PPNCKH) là phạm trù trung tâm của PPLNCKH. Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình NCKH.

Bản chất của PPNCKH chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của phương pháp thể hiện ở chỗ:

- Phương pháp luôn gắn với chủ thể nghiên cứu (yếu tố chủ quan) và đối tượng nghiên cứu (yếu tố khách quan).

- Phương pháp có tính mục đích vì mọi hoạt động của con người đều có mục đích. Mục đích nghiên cứu chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung nghiên cứu quy định phương pháp nghiên cứu. Trong mỗi đề tài khoa học có một phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ phương pháp đặc trưng.

- Phương pháp nghiên cứu có cấu trúc đặc biệt, đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không logich tối ưu của các thao tác hoạt động và biết sử dụng nó một cách có ý thức.

- Phương pháp NCKH luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Căn cứ vào đối tượng NC mà ta chọn phương pháp NC, theo yêu cầu của phương pháp NC mà ta chọn các phương tiện phù hợp.

PPL NCKH khẳng định PPNCKH không những nằm trong logich nhận thức mà còn thể hiện trong cấu trúc nội dung một công trình khoa học.

Cho nên PPNCKH một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài KH, mặt khác còn phải xác định được cấu trúc logich nội dung của công trình khoa học đó.

Ngoài ra PPLNCKH cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý hoạt động NCKH và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng các thành tựu khoa học nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và tổ chức quá trình NCKH đạt hiệu quả cao.

Tóm lại, PPLNCKH là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học, bao gồm các lý thuyết về cơ chế sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đối tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp, kỹ thuật và logich tiến hành nghiên cứu một công trình khoa học, cũng như phương pháp tổ chức, quản lý quá trình ấy.  

2. Cấu trúc logich của một công trình NCKH (LVKH).

Bất kỳ một công trình khoa học nào, từ bài báo ngắn vài trang đến tác phẩm khoa học hàng trăm trang, xét về cấu trúc logich, cũng đều có 3 bộ phận hợp thành: Luận đề, Luận cứ, Luận chứng.

Toàn bộ nội dung về phương pháp luận khoa học xoay quanh việc tìm kiếm phương pháp, tức luận chứng, liên quan đến việc thu thập và xử lý thông tin để xây dựng luận cứ, thu thập luận cứ để chứng minh luận đề.

- Luận đề:  Luận đề là điều cần chứng minh trong một công trình khoa học. Luận đề trả lời câu hỏi: “ Cần chứng minh điều gì?” Về mặt logich học, luận đề là một phán đoán mà tính chân xác của nó cần được chứng minh.

- Luận cứ:  Luận cứ là bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận đề. Luận cứ được xây dựng từ những thông tin thu thập được nhờ phân tích và sử lý các tài liệu, quan sát hoặc thực nghiệm. Luận cứ trả lời câu hỏi:

“ Chứng minh bằng cái gì?” Về mặt logich, luận cứ là phán đoán mà tính chính xác đã được công nhận và được sử dụng làm tiền đề để chứng minh luận đề. Trong NCKH có 2 loại luận cứ:

+ Luận cứ lý thuyết: Đó là các cơ sở lý thuyết khoa học, luận điểm khoa học, các tiền đề, định lý, định luật, quy luật đã được khoa học xác nhận là đúng. Có người gọi luận cứ lý thuyết là luận cứ logich hoặc cơ sở khoa học. Trả lời câu hỏi:” Dựa trên những cơ sở khoa học nào?”.

+ Luận cứ thực tiễn: Đó là các đòi hỏi xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, với những phán đoán đã được xác nhận, được hình thành từ sự phân tích, đánh giá  các tư liệu, số liệu, sự kiện, hiện tượng thu thập được do quan sát thực tế hoặc thực nghiệm khoa học. Trả lời câu hỏi:“Thực tiễn có đòi hỏi cần nghiên cứu không?”

- Luận chứng:  Luận chứng là cách thức, quy tắc, phương pháp tổ chức thực hiện một phép chứng minh, nhằm vạch rõ mối liên hệ logich giữa các luận cứ và giữa toàn bộ luận cứ với luận đề. Luận chứng trả lời câu hỏi: “Chứng minh bằng cách nào?” Trong NCKH có thể tồn tại 2 luận chứng:

+ Luận chứng logich, bao gồm một chuỗi liên tiếp các phép suy luận được liên kết theo một trật tự xác định (diễn dịch, quy nạp, loại suy).

+ Luận chứng ngoài logich, bao gồm phương pháp tiếp cận và phương pháp thu thập thông tin.

Phương pháp tiếp cận là cách thức xem xét sự kiện. Tùy thuộc phương pháp tiếp cận được chọn mà sự kiện có thể được xem xét một cách toàn diện hoặc phiến diện. Chẳng hạn, tiếp cận lịch sử, tiếp cận logich, tiếp cận hệ thống,v.v…

Phương pháp thu thập thông tin là cách thức thiết lập luận cứ khoa học, phương pháp thu thập thông tin có vai trò quyết định đến độ tin cậy của luận cứ. Chẳng hạn, số liệu thống kê của cơ quan thống kê có độ tin cậy cao hơn số liệu báo cáo thành tích của các ngành; dư luận ngẫu nhiên trên đường phố có độ tin cậy thấp hơn kết quả thăm dò dư luận thông qua một cuộc điều tra.     

3. Lựa chọn đề tài LVKH.

Người nghiên cứu có thể chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn theo 2 cách:

- Đề tài LV được chỉ định: Người hướng dẫn hoặc bộ môn có thể chỉ định cho người nghiên cứu thực hiện một đề tài LV xuất phát từ những căn cứ rất khác nhau:

+ Một phần nhiệm vụ của đề tài NCKH mà thầy cô giáo hoặc bộ môn đang thực hiện. Đây là trường hợp có nhiều thuận lợi nhưng không nhiều.

+ Một phần  nhiệm vụ của đề tài NC của các viện hoặc cơ quan ngoài. Đây cũng là trường hợp có nhiều thuận lợi nhưng không nhiều.

+ Người nghiên cứu được cơ quan cử đi học chỉ định thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu của cơ quan.

+ Thầy cô giáo đưa ra một đề tài NC mang tính giả định, không liên quan đến nhiệm vụ NC của các thầy cô.

- Đề tài LV tự chọn:

Trong trường hợp được tự chọn đề tài LV, người nghiên cứu cần tìm hiểu tình hình và yêu cầu phát triển của lĩnh vực chuyên môn trong thực tế để xác định một hướng nghiên cứu thích hợp, trên cơ sở trả lời các câu hỏi:

+ Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?

+ Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không?

+ Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không?

+ Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành LV không?

Đề tài LV dù có nhiều ý nghĩa khoa học, thực tiễn, cấp thiết nhưng nếu không có đủ điều kiện cần thiết (nguồn cung cấp thông tin, tư liệu, tài liệu, quỹ thời gian,thiên hướng khoa học của người hướng dẫn,…) thì cũng khó thực hiện.

- Đặt tên đề tài NC:

Tên đề tài NC phải phản ánh một cách chính xác đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu,có hàm chứa nội dung và phạm vi nghiên cứu.

Tên một đề tài NCKH khác với tên một bài báo KH, một chuyên đề KH, một tiểu luận hay một báo cáo tổng quan. Tên một đề tài KH chỉ được mang một ý nghĩa hết sức rõ ràng, không được phép hiểu hai hoặc nhiều nghĩa. Để đạt được yêu cầu này, người nghiên cứu cần lưu ý những hiện tượng cần tránh khi đặt tên đề tài:

+ Tên đề tài không ghi rõ hoặc làm rõ đối tượng NC, khách thể NC.

+ Tên đề tài dùng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin. Ví dụ: Tìm hiểu về…, Suy nghĩ về…, Thử bàn về…, Nhận dạng về…, Một số biện pháp…, Một số vấn đề…, v.v…

+ Tên đề tài lạm dụng những cụm từ chỉ mục đích. Ví dụ: để…, nhằm…, góp phần…, v.v…

Việc sử dụng tùy tiện các cụm từ này thường xảy ra trong những trường hợp tác giả chưa hiểu và chưa nắm chắc đối tượng NC cũng như nội dung NC cần giải quyết.      

4. Đề cương nghiên cứu của LVKH.

Khi bắt tay vào nghiên cứu một đề tài KH thì một thao tác rất quan trọng là phải  xây dựng một đề cương ngiên cứu. Đề cương NC là văn bản dự kiến các bước đi và nội dung của công trình NC.

Đối với LV Thạc sĩ hay LA Tiến sĩ thì đề cương NC thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Tên đề tài: Thường được diễn đạt bằng một câu ngữ pháp ngắn gọn, cô đọng, bao quát được đối tượng NC, khách thể NC có hàm chứa nội dụng và phạm vi nghiên cứu.

a) Lý do chọn đề tài (hay gọi là tính cấp thiết của đề tài):

Phần này yêu cầu người nghiên cứu phải trình bầy rõ ràng, tường minh những lý do nào khiến tác giả chọn đề tài để nghiên cứu. Trả lời câu hỏi:”Tại sao cần nghiên cứu? và “Nghiên cứu để làm gì?”. Phải làm rõ sự nghiên cứu này là cần thiết về mặt lý luận và là một đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống. Nói chung, lý do chọn đề tài các LV, LA thường xuất phát từ những yêu cầu của thực tế công tác mà người nghiên cứu đảm nhiệm, từ việc phát hiện các thiếu sót trong nghiên cứu lý thuyết chuyên ngành cần bổ xung hoặc những vấn đề tồn tại cần giải quyết trong  thực tế cuộc sống.

Việc nghiên cứu này sẽ đem lại lợi ích cho hiện tại và tương lai của khoa học và thực tiễn cuộc sống.

b) Mục tiêu NC và mục đích NC.

Mục tiêu và mục đích NC là những khái niệm then chốt trong NCKH.

Mục tiêu NC là cái đích về nội dung  mà người nghiên cứu vạch ra để định hướng nỗ lực tìm kiếm. Mục tiêu là những điều cần làm trong quá trình NC. Mục tiêu của một LV, LA thường là tìm tòi làm rõ bản chất của một sự kiện hay hiện tượng mới hoặc tìm những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng một hoạt động thực tế nào đó. Mục tiêu NC trả lời câu hỏi:”Làm cái gì?”

Mỗi đề tài, tùy theo phạm vi NC, phải xác định rõ mục tiêu NC. Mục tiêu sẽ hướng dẫn các bước đi chiến lược của công trình để đạt tới mục đích cuối cùng.

Mục đích NC là ý nghĩa thực tiễn của NC, là đối tượng phục vụ của sản phẩm NC. Mục đích NC trả lời câu hỏi:”Nhằm vào việc gì?”, hoặc “Để phục vụ cho cái gì?”.

c) Đối tượng NC, Khách thể NC, Đối tượng khảo sát.

Đối tượng NC, khách thể NC, đối tượng khảo sát là những khái niệm công cụ luôn được sử dụng trong quá trình thực hiện một đề tài NCKH.

Đối tượng NC là bản chất sự vật hoặc hiện tượng cần được xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ NC. Trả lời câu hỏi:” Nghiên cứu cái gì?”.

Khách thể NC là vật mang đối tượng NC, là hệ thống sự vật tồn tại khách quan trong các mối liên hệ mà người nghiên cứu cần khám phá. Khách thể NC chính là nơi chứa đựng những câu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm hiểu, trả lời câu hỏi:”…ở đâu?...của cái gì?...gắn với cái gì? v.v…

Đối tượng khảo sát là một bộ phận đủ đại diện của khách thể NC được người nghiên cứu lựa chọn để xem xét. Không bao giờ người nghiên cứu có đủ thời gian và kinh phí để khảo sát toàn bộ khách thể.

Thế giới khách quan là đối tượng duy nhất của NCKH. Tuy nhiên thế giới vô cùng rộng lớn, mỗi lĩnh vực KH phải chọn cho mình một bộ phận, một phần nào đó để tập trung khám phá, tìm tòi. Đó chính là thao tác xác định khách thể NC.

Trong cái khách thể rộng lớn đó, mỗi đề tài cụ thể lại phải chọn cho mình một bộ phận, một vấn đề, một thuộc tính, một  mối quan hệ của khách thể để nghiên cứu. Bộ phận đó chính là đối tượng NC của đề tài.

Mỗi đề tài NC một vấn đề, cũng có nghĩa là mỗi đề tài có một đối tượng NC. Như vậy, xác định đối tượng NC là xác định cái trung tâm cần khám phá của một đề tài NCKH.

Khách thể đồng nghĩa với môi trường của đối tượng mà ta đang xem xét. Xác định đối tượng là xác định cái trung tâm, còn xác định khách thể là xác định cái giới hạn chứa đựng cái trung tâm, cái giới hạn mà đề tài không được phép vượt qua. Do đó xác định khách thể và đối tượng NC là thao tác bản chất của quá trình NCKH.

d) Giả thuyết KH:

Giả thuyết KH là mô hình giả định, một dự đoán về bản chất của đối tượng NC. Một công trình KH về thực chất là chứng minh một giả thuyết KH. Do đó xây dựng giả thuyết là thao tác quan trọng của mỗi công trình KH. Giả thuyết có chức năng tiên đoán bản chất sự kiện hay hiện tượng, đồng thời là chức năng chỉ đường để khám phá đối tượng NC.

Giả thuyết được xây dựng phải báo đảm các yêu cầu sau:

- Giả thuyết phải có tính thông tin về sự kiện, nghĩa là có khả năng giải thích được sự kiện cần NC.

- Giả thuyết có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm.

e) Nhiệm vụ NC:

Xuất phát từ mục tiêu và giả thuyết KH, mỗi đề tài phải xác định các nhiệm vụ NC cụ thể. Nhiệm vụ NC chính là mục tiêu cụ thể mà đề tài phải thực hiện . Một LV thạc sĩ hay LA tiến sĩ thường có 3 nhiệm vụ:

- Xây dựng cơ sở lý thuyết khoa học.

- Phân tích làm rõ bản chất và quy luật vận động của đối tượng NC.

- Đề xuất những giải pháp ứng dụng để cải tạo thực tiễn.

f) Phạm vi NC:

Không phải đối tượng NC và khách thể NC nào cũng cần xem xét, nghiên cứu một cách toàn diện trong mọi thời gian và không gian, mà nó có thể được giới hạn nghiên cứu trong một phạm vi nhất định: về quy mô của đối tượng, không gian của sự vật, thời gian của tiến trình của sự vật.

Xác định phạm vi NC của đề tài là thao tác logich xác định giới hạn về thời gian, không gian, những vấn đề, những số liệu cần điều tra, quan sát, nghiên cứu phát hiện,…Hay nói cách khác, phạm vi NC của đề tài là giới hạn mà đề tài phải thực hiện.

Xác định phạm vi NC của đề tài là thao tác quan trọng giúp cho việc nghiên cứu đi đúng trọng tâm, không lệch hướng.

g) Những luận điểm bảo vệ (luận đề):

Luận điểm bảo vệ là những luận đề quan trọng, những tư tưởng cốt lõi của đề tài. Nhờ có nó mà công trình KH có thể đứng vững và bảo vệ được.

Luận điểm bảo vệ được trình bầy khái quát, cô đọng, chứa đựng những thông tin quan trọng nhất của đề tài.

h) Cái mới của đề tài:

Cái mới của một công trình NCKH  là những thông tin KH mà tác giả của công trình là người đầu tiên tìm ra hoặc kiến tạo. Chúng có giá trị đối với lý luận và thực tiễn. Cái mới của đề tài có thể là phát hiện mới, góp phần bổ xung, phát triển, hoàn thiện, hệ thống hóa lý thuyết hiện có, hoặc có thể là đề xuất những giải pháp ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn.

Mỗi đề tài phải có cái mới, đó chính là giá trị thực sự của công trình NCKH, là điều kiện để đề tài NC được bảo vệ thành công.

i) Cơ sở phương pháp luận và phương pháp NC:

Đề tài KH được tiến hành NC phải dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất quán. Nhờ có quan điểm nhất quán mà công trình có thể đi tới chân lý khách quan. Do đó người nghiên cứu phải trình bầy đầy đủ và rõ ràng phương pháp tiếp cận đối tượng NC và cơ sở phương pháp luận mà tác giả dựa vào để NC.

Để tiến hành NC một công trình KH, người nghiên cứu phải sử dụng phối hợp các phương pháp NC cụ thể. Các phương pháp được vận dụng hợp lý, phù hợp với đề tài NC sẽ bảo đảm cho công trình NC đạt tới kết quả.

Cho nên trong đề cương NC, người nghiên cứu phải trình bầy các phương pháp dự kiến sử dụng, ý đồ và kỹ thuật sử dụng chúng.

Đọc cơ sở phương pháp luận và các phương pháp NC dự kiến sử dụng trong quá trình NC đề tài, người ta có thể đánh giá năng lực làm việc KH của người nghiên cứu và khả năng thành công của công trình NC.

k) Cơ cấu nội dung NC:

Trong đề cương NC, yêu cầu phải trình bầy một cấu trúc logich nội dung dự kiến phù hợp với phương pháp NC của LV/LA. Để làm việc này, người nghiên cứu phải nghiên cứu công phu nhiều tài liệu tham khảo và đồng thời phải có khả năng tưởng tượng, sáng tạo, dự kiến một mô hình cho báo cáo kết quả nghiên cứu sau này.

Một báo cáo kết quả NCKH thường có, ngoài phần mở đầu và kết luận,  ít nhất 3 chương với cơ cấu nội dung được trình bầy cụ thể tới từng tiểu mục.

5. Đánh giá kết quả NC (Chất lượng KH của LV/LA):

Về nguyên tắc, bất kỳ công trình NCKH nào cũng được đánh giá theo các chỉ tiêu sau:

- Tính mới trong khoa học (Luận đề),

- Tính xác thực của các kết quả quan sát thực tiễn hoặc thực nghiệm,

- Tính chuẩn xác và tính hệ thống của các cơ sở lý thuyết KH (Luận cứ),

- Tính đúng đắn về phương pháp luận khoa học (Luận chứng),

- Khả năng ứng dụng vào thực tiễn.

Riêng chỉ tiêu thứ tư, trong đánh giá chất lượng các LV/LA có thể châm  chước, không yêu cầu như đối với các đề tài NCKH thực tế, vì các LV/LA chỉ là các công trình tập sự NCKH với những đặc thù của yêu cầu đào tạo trong nhà trường.

Ngoài ra, việc đánh giá chất lượng khoa học của LV/LA theo 3 tiêu chí trên cũng có những điểm khác biệt so với việc đánh giá kết quả NC của một đề tài NCKH thực tế.

- Đối với Luận chứng:

Đối với luận chứng, tức là phương pháp nghiên cứu, chất lượng cần được đòi hỏi yêu cầu cao nhất trong 3 bộ phận hợp thành cấu trúc logich: luận đề, luận cứ, luận chứng. Vì lẽ, trong quá trình tập sự NCKH, học tập phương pháp NC phải đạt được yêu cầu như một người nghiên cứu thực thụ. Nếu chấm điểm thì phần luận chứng có thể được nhân hệ số 3, hệ số cao nhất.

- Đối với Luận đề:

Đối với luận đề và vấn đề, chất lượng cũng cần được đòi hỏi yêu cầu cao, nhưng nên ở mức thấp hơn luận chứng. Vì lẽ, phát hiện vấn đề, từ đó xây dựng luận đề có giá trị KH, là công việc đòi hỏi có một quá trình tích lũy lâu dài. Không thể yêu cầu người tập sự NC có ngay những luận đề KH (tức giả thuyết) có giá trị KH cao như những người NC thực thụ.

Nếu chấm điểm thì phần luận đề có thể được nhân hệ số 2.

- Đối với Luận cứ:

Đối với luận cứ, cần xem xét tách riêng 2 loại luận cứ:

+ Luận cứ lý thuyết: Cần đặt yêu cầu về chất lượng ngang với chất lượng luận đề, nghĩa là phải có giá trị khoa học, hoặc là kế thừa, hệ thống hóa những luận cứ lý thuyết mà các đồng nghiệp đi trước đã xây dựng, hoặc là tự mình xây dựng. Tuy nhiên, cũng như luận đề và vấn đề, không thể yêu cầu người tập sự NC đưa ra những luận cứ lý thuyết có giá trị khoa học cao như các nhà nghiên cứu thực thụ. Nếu chấm điểm có thể cho hệ số 2.

+ Luận cứ thực tiễn: Đây là nội dung có thể châm chước về chất lượng, thậm chí có thể cho phép một số tư liệu, tài liệu không thực sự mới, tiêu biểu; số liệu có nhiều tính ước lệ, chưa được thẩm tra, xác minh tính chân xác. Nếu chấm điểm có thể cho hệ số 1.

6. Kết luận:

Hàng năm, các trường Đại học có hệ đào tạo sau đại học chuyên ngành kiến trúc, quy hoạch cho tốt nghiệp hàng trăm học viên Cao học và Nghiên cứu sinh, với hàng trăm Luận văn Thạc sĩ và Luận án Tiến sĩ.

Việc đào tạo sau đại học đến nay không còn là vấn đề mới, chất lượng các Thạc sĩ và Tiến sĩ tốt nghiệp nói chung đa số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên, trong xã hội, thậm chí ngay cả những người làm công tác đào tạo sau đại học, đôi khi cũng còn những băn khoăn, lo lắng về chất lượng đào tạo sau đại học, từ khâu tuyển sinh, học tập, giảng dạy, quản lý, đến khâu làm LV/LA tốt nghiệp và đánh giá tốt nghiệp.

Riêng khâu làm LV/LA và đánh giá LV/LA còn tồn tại một số quan niệm và cách làm không thống nhất, thậm chí trái ngược nhau, về cơ cấu nội dung, phương pháp nghiên cứu và hình thức trình bầy. Nhưng tâm lý phổ biến của đa số những người tham gia hướng dẫn và đánh giá LV/LA là buông xuôi, tránh va chạm, không muốn tranh luận, làm rõ phải/trái trước những quan điểm và cách làm khác nhau, có thể do sự khác biệt về hiểu biết, trình độ kiến thức, kinh nghiệm, nguồn gốc đào tạo, v.v…Nếu tình trạng này kéo dài, chỉ có hại cho người học và có hại cho xã hội.

Nên chăng, cần có những diễn đàn (trên các tạp chí khoa học) để trao đổi, một cách cởi mở, thẳng thắn, những suy nghĩ, những quan điểm về những vấn đề tồn tại, không thống nhất trong khâu hướng dẫn và đánh giá LV/LA để dần đi đến một sự thống nhất, một chuẩn mực tương đối, để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ những người làm NCKH, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội./.


GS-TSKH. Ngô Thế Thi, Đại học Xây dựng 

----------------------------
Tài liệu tham khảo: 
- Ngô Thế Thi: Phương pháp luận NCKH – CN kiến trúc, Bài giảng cho Cao học Kiến trúc- ĐHXD.  
- Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận NCKH, Nhà XB Khoa học-Kỹ thuật, Hà nội-1998.  

* Bài đăng trong Tạp chí Kiến trúc, số 267, tháng 7/2017.

Xem thêm các bài viết của 
GS-TSKH. Ngô Thế Thi,

Cập nhật ( 09/10/2017 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:
“ Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.”
 
Trí thức trẻ là người tốt nghiệp đại học, tuổi từ 39 trở xuống. Do thu nhập sau ra trường hạn hẹp, thị trường nhà ở giá rẻ khan hiếm, nên điều kiện về an cư để lạc nghiệp còn khó khăn. Các bạn trí thức trẻ ước muốn gì về nơi ở của riêng mình (không phải do thừa kế, đi thuê):
 
 
 
Trong thời đại CMCN 4.0, Chuyển đổi số không còn là điều tốt đẹp nên có, mà là điều bắt buộc đối với tất cả tổ chức và doanh nghiệp, gắn với Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số. Trong bối cảnh đô thị hóa, ngành XD có vai trò tiên phong trong Chuyển đổi số đế nâng cao năng lực cạnh tranh. Người ta còn cho rằng "QH đô thị là bệ phóng cho Chuyển đổi số". Lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp XD phải chấp nhận và thích ứng dần với quá trình Chuyển đổi số. Các bạn SV, cựu SV trong lĩnh vực XD - Công dân kỹ thuật số trong tương lai, nghĩ gì về nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực Chuyển đổi số trong cơ sở đào tạo ĐH:
 
 
Thông báo
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K65
+ Kế hoạch "Thực tập cán bộ kĩ thuật đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 2" (2023-2024) ngành Kiến trúc K65
+ Danh sách lớp nguyện vọng - Học kì 2 (2023-2024)
+ Nhiệm vụ thiết kế "Đồ án Kiến trúc 5 - K66" (2023-2024)
+ Phân công giảng dạy Bộ môn KTCN, Học kỳ 2, Năm học 2023 – 2024
+ Phân công giảng dạy HK3 (2023 - 2024)
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) chuyên ngành Kiến trúc Công nghệ K64
+ Kế hoạch thực hiện "Đồ án tốt nghiệp đợt 3" (2023-2024) ngành Kiến trúc K64

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com