Tuần 19 - Ngày 14/12/2017
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Hỏi:

cho e hỏi  e đang làm đồ án kiến trúc.  
nhà e thiết kế 40m2 mật độ xây dựng là 100% vậy e có thể thiết kế ban công nhô ra 1 chút đc k ạ 


Trả lời:  Bmktcn.com đã nhận được thư của em.
Theo Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, phần nhà được phép nhô quá chỉ giới đường đỏ trong trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ, gắn với điều kiện: 
- Độ cao so với mặt hè lớn hơn và bằng 3,5m;
- Ban công có thể đua ra tối đa: 0m với lộ giới rộng dưới 7m; 0,9m với lộ giới 7-12m; 1,2m với lộ giới 12-15m; 
- Độ vươn ra phải nhỏ hơn chiều rộng của vỉa hè ít nhất là 1m; 
- Trên phần nhô ra chỉ được làm ban công, không được che chắn tạo thành logia hay buồng; 
- Vị trí độ cao và độ vươn ra cụ thể phải phù hợp với cảnh quan chung.

Ngày 15/8/2016, Bmktcn.com


Hỏi:  Thầy cô cho e hỏi: 
Đồ án kiến trúc công nghiệp 1 e co làm và nộp bài sao trên trang đào tạo e lai ko co điểm ah ? 
Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.  
Em cần trình bày rõ: Không có điểm hay là điểm 0; em học tại lớp nào; giảng viên phụ trách và cần phải liên hệ ngay với giảng viên để hỏi rõ lý do tại sao. Có thể do vào điểm nhầm, vào điểm thiếu.... 
Sau đó phải làm ngay đơn xin phúc tra gửi Phòng Đào tạo. 

Ngày 19/7/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN. TS. Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:  Em chào thầy cô trong Bộ môn.

Em là sinh viên k57 chuẩn bị bước sang năm cuối. Lớp em vừa nhận được điểm đồ án công nghiệp 2 trong đó có em và nhiều bạn khác bị trượt .Em muốn hỏi thầy cô có thể mở lớp nguyện vọng học lại trong kì 1 năm học mới này để tạo điều kiện cho bọn em trả nợ và làm đồ án tốt nghiệp đúng hạn được không ạ. Mong muốn thầy cô giúp đỡ bọn em .

Em xin cảm ơn thầy cô !


Trả lời:  Bộ môn Kiến trúc Công nghiệp đã nhận được thư của em.

Theo quy định, Bộ môn KTCN (hay bất kỳ một Bộ môn nào khác trong trường) không được phép mở lớp nguyện vọng để sinh viên trả nợ học phần. Bộ môn giảng dạy và thi kết thúc học phần theo phân công giảng dạy của nhà trường. Vậy em phải trực tiếp lên phòng Đào tạo để hỏi thông tin về các lớp học lại trong năm học mới 2016-2017.

Chúc em học tập tốt!

Ngày 28/6/2016, Bộ môn Kiến trúc Công nghiệp
Hỏi: Em chào thầy ạ. Em là sinh viên năm cuối, e đang trong thời kỳ làm đồ án tốt nghiệp, đề tài về xây dựng nhà máy xử lý rác thải thành phân vi sinh compost. Em viết mail này xin thầy một vài tài liệu về quy trình sản xuất,dây chuyền công nghệ sản xuất  phân vi sinh compost. Em xin cám ơn thầy.


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện tại, trên trang WEB bmktcn.com có 3 dự án về nhà máy xử lý rác thải (Tại mục: Doanh nghiệp- Dự án/ Dự án công trình đầu mối HTKT): 
- Nhà máy xử lý rác thải thị xã Sông Công, Thái Nguyên 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5814&Itemid=228  
- Nhà máy phân loại, tái chế và xử lý chất thải Thuận Thành, Bắc Ninh  
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5169&Itemid=228 
- Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt Sóc Sơn, Hà Nội  
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=4012&Itemid=228 
Em tìm thêm các tài liệu về dự án có liên quan khác, đặc biệt là từ các nước có công nghệ xử lý rác thải tiên tiến.
Ngày 22/2/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN: TS. Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Em chào các thầy cô trong bộ môn ạ. Em là sinh viên lớp 59KT5.
Em muốn tìm đề cương ôn tập môn Kiến Trúc 1, nhưng em lên trang web của bộ môn tìm mà không thấy, thầy cô có thể cho em xin đề cương môn học được không ạ. Em cảm ơn thầy cô ạ.


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Đề cương ôn tập môn học Kiến trúc 1 theo quy định đã đăng trên WEB bmktcn.com: (Mục thông tin định kỳ, bên trái màn hình giao diện): http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=274&Itemid=85 
Ngày 22/2/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN: TS. Phạm Đình Tuyển
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Văn bản quy định của Bộ môn KTCN về thực hiện học phần đồ án KTCN
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Các mẫu văn bản về đào tạo và KHCN có liên quan tại ĐHXD
+ Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Danh sách cán bộ Bộ môn KTCN, ĐHXD
+ Cuốn sách nên đọc : “Quốc gia khởi nghiệp – Câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel”
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quyết định số 01/2017/QĐ-TTg ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân
+ Chương trình đào tạo Kiến trúc sư công trình
+ Chương trình đào tạo kiến trúc sư quy hoạch
+ Chương trình khung đào tạo thạc sỹ Kiến trúc - Quy hoạch, ĐHXD
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung Giáo dục Đại học hệ vừa học vừa làm
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Thông tư 08/2017/TT- BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ
+ Lớp giới thiệu Nghệ thuật gấp giấy Việt Nam
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2017-2018
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Quyết định 10/2007/QĐ-TTg ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục các Tiêu chuẩn Xây dựng Việt Nam (đến năm 2013)
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
Đào tạo khởi nghiệp và khác
Nâng cao chất lượng luận văn khoa học – Kết quả của quá trình đào tạo sau đại học
09/10/2017
 


NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LUẬN VĂN KHOA HỌC – 
KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC * 

Luận văn (LV), Luận án (LA), gọi chung là Luận văn khoa học (LVKH), dù thuộc bậc đào tạo nào, cao học hay nghiên cứu sinh, cũng cần được xem là một công trình khoa học. 
LVKH vừa mang tính chất một công trình nghiên cứu khoa học (NCKH), nhưng lại vừa nhằm mục đích học tập phương pháp NCKH. Nó vừa phải thể hiện những ý tưởng khoa học của tác giả, nhưng lại vừa phải thể hiện kết quả của quá trình tập sự nghiên cứu trước khi bước vào sự nghiệp làm khoa học thực thụ. 
Với ý nghĩa như vậy, người viết LVKH cần chuẩn bị không những chỉ nội dung KH, mà qua đó còn phải thể hiện biết vận dụng những kiến thức về phương pháp luận NCKH. 
LVKH là chuyên khảo trình bầy có hệ thống về một vấn đề khoa học hoặc công nghệ nhằm các mục đích: Rèn luyện về phương pháp và kỹ năng NCKH; Thể nghiệm kết quả nâng cao kiến thức của một giai đoạn học tập; Bảo vệ kết quả nghiên cứu của mình trước hội đồng chấm LV. 
Như vậy, có thể nói LVKH là một công trình tập sự NCKH, và qua đó tác giả  LV được ghi nhận đạt tới một trình độ học vấn và phương pháp làm việc khoa học cao hơn.  

1. Bản chất NCKH và phương pháp luận NCKH (PPLNCKH) của một LVKH.

Trước khi viết một LVKH, nghiên cứu sinh hoặc học viên cao học cần phải có những kiến thức cần thiết về bản chất của NCKH và PPLNCKH.

Bản chất của NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, khám phá thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới.

Mục đích của NCKH là tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất vật chất hay tạo ra những giá trị tinh thần, để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của con người. NCKH không chỉ là nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới. Khoa học đích thực luôn vì cuộc sống của con người.

Sản phẩm của NCKH là hệ thống thông tin mới về thế giới và về những giải pháp cải tạo thế giới. Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng tới cái mới. Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại và có giá trị dẫn dắt sự phát triển.

Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, bổ xung, hoàn thiện theo đà tiến bộ của xã hội loài người và ngày một tiệm cận tới chân lý khách quan. Mỗi lý thuyết khoa học được hình thành, phát triển hưng thịnh, rồi lạc hậu nhường chỗ cho cái mới, cái tiến bộ, cái có triển vọng hơn.

Giá trị của khoa học được quyết định bởi tính thông tin, tính ứng dụng và sự đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Thông tin khoa học phải có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm tra được bằng các phương pháp khác nhau.

Quá trình NCKH diễn ra phức tạp, luôn chứa đựng những mâu thuẫn, liên tục xuất hiện những xu hướng, các trường phái lý thuyết, các giả thuyết, các dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và kết cục cái nào phù hợp với quy luật, với hiện thực, đem lại lợi ích cho con người là cái chiến thắng.

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (PPLNCKH) là lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học , lý thuyết về con đường nhận thức, khám phá, cải tạo thế giới.

PPLNCKH đặt ra những nhiệm vụ quan trọng:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động NCKH, tổng kết các quy luật phát triển của khoa học hiện đại.

- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ.

- Nghiên cứu những quan điểm, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức, đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp NCKH với nội dung là các quy trình, cách thức và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu khoa học (PPNCKH) là phạm trù trung tâm của PPLNCKH. Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình NCKH.

Bản chất của PPNCKH chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của phương pháp thể hiện ở chỗ:

- Phương pháp luôn gắn với chủ thể nghiên cứu (yếu tố chủ quan) và đối tượng nghiên cứu (yếu tố khách quan).

- Phương pháp có tính mục đích vì mọi hoạt động của con người đều có mục đích. Mục đích nghiên cứu chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung nghiên cứu quy định phương pháp nghiên cứu. Trong mỗi đề tài khoa học có một phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ phương pháp đặc trưng.

- Phương pháp nghiên cứu có cấu trúc đặc biệt, đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không logich tối ưu của các thao tác hoạt động và biết sử dụng nó một cách có ý thức.

- Phương pháp NCKH luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Căn cứ vào đối tượng NC mà ta chọn phương pháp NC, theo yêu cầu của phương pháp NC mà ta chọn các phương tiện phù hợp.

PPL NCKH khẳng định PPNCKH không những nằm trong logich nhận thức mà còn thể hiện trong cấu trúc nội dung một công trình khoa học.

Cho nên PPNCKH một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài KH, mặt khác còn phải xác định được cấu trúc logich nội dung của công trình khoa học đó.

Ngoài ra PPLNCKH cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý hoạt động NCKH và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng các thành tựu khoa học nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và tổ chức quá trình NCKH đạt hiệu quả cao.

Tóm lại, PPLNCKH là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học, bao gồm các lý thuyết về cơ chế sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đối tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp, kỹ thuật và logich tiến hành nghiên cứu một công trình khoa học, cũng như phương pháp tổ chức, quản lý quá trình ấy.  

2. Cấu trúc logich của một công trình NCKH (LVKH).

Bất kỳ một công trình khoa học nào, từ bài báo ngắn vài trang đến tác phẩm khoa học hàng trăm trang, xét về cấu trúc logich, cũng đều có 3 bộ phận hợp thành: Luận đề, Luận cứ, Luận chứng.

Toàn bộ nội dung về phương pháp luận khoa học xoay quanh việc tìm kiếm phương pháp, tức luận chứng, liên quan đến việc thu thập và xử lý thông tin để xây dựng luận cứ, thu thập luận cứ để chứng minh luận đề.

- Luận đề:  Luận đề là điều cần chứng minh trong một công trình khoa học. Luận đề trả lời câu hỏi: “ Cần chứng minh điều gì?” Về mặt logich học, luận đề là một phán đoán mà tính chân xác của nó cần được chứng minh.

- Luận cứ:  Luận cứ là bằng chứng được đưa ra để chứng minh luận đề. Luận cứ được xây dựng từ những thông tin thu thập được nhờ phân tích và sử lý các tài liệu, quan sát hoặc thực nghiệm. Luận cứ trả lời câu hỏi:

“ Chứng minh bằng cái gì?” Về mặt logich, luận cứ là phán đoán mà tính chính xác đã được công nhận và được sử dụng làm tiền đề để chứng minh luận đề. Trong NCKH có 2 loại luận cứ:

+ Luận cứ lý thuyết: Đó là các cơ sở lý thuyết khoa học, luận điểm khoa học, các tiền đề, định lý, định luật, quy luật đã được khoa học xác nhận là đúng. Có người gọi luận cứ lý thuyết là luận cứ logich hoặc cơ sở khoa học. Trả lời câu hỏi:” Dựa trên những cơ sở khoa học nào?”.

+ Luận cứ thực tiễn: Đó là các đòi hỏi xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, với những phán đoán đã được xác nhận, được hình thành từ sự phân tích, đánh giá  các tư liệu, số liệu, sự kiện, hiện tượng thu thập được do quan sát thực tế hoặc thực nghiệm khoa học. Trả lời câu hỏi:“Thực tiễn có đòi hỏi cần nghiên cứu không?”

- Luận chứng:  Luận chứng là cách thức, quy tắc, phương pháp tổ chức thực hiện một phép chứng minh, nhằm vạch rõ mối liên hệ logich giữa các luận cứ và giữa toàn bộ luận cứ với luận đề. Luận chứng trả lời câu hỏi: “Chứng minh bằng cách nào?” Trong NCKH có thể tồn tại 2 luận chứng:

+ Luận chứng logich, bao gồm một chuỗi liên tiếp các phép suy luận được liên kết theo một trật tự xác định (diễn dịch, quy nạp, loại suy).

+ Luận chứng ngoài logich, bao gồm phương pháp tiếp cận và phương pháp thu thập thông tin.

Phương pháp tiếp cận là cách thức xem xét sự kiện. Tùy thuộc phương pháp tiếp cận được chọn mà sự kiện có thể được xem xét một cách toàn diện hoặc phiến diện. Chẳng hạn, tiếp cận lịch sử, tiếp cận logich, tiếp cận hệ thống,v.v…

Phương pháp thu thập thông tin là cách thức thiết lập luận cứ khoa học, phương pháp thu thập thông tin có vai trò quyết định đến độ tin cậy của luận cứ. Chẳng hạn, số liệu thống kê của cơ quan thống kê có độ tin cậy cao hơn số liệu báo cáo thành tích của các ngành; dư luận ngẫu nhiên trên đường phố có độ tin cậy thấp hơn kết quả thăm dò dư luận thông qua một cuộc điều tra.     

3. Lựa chọn đề tài LVKH.

Người nghiên cứu có thể chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn theo 2 cách:

- Đề tài LV được chỉ định: Người hướng dẫn hoặc bộ môn có thể chỉ định cho người nghiên cứu thực hiện một đề tài LV xuất phát từ những căn cứ rất khác nhau:

+ Một phần nhiệm vụ của đề tài NCKH mà thầy cô giáo hoặc bộ môn đang thực hiện. Đây là trường hợp có nhiều thuận lợi nhưng không nhiều.

+ Một phần  nhiệm vụ của đề tài NC của các viện hoặc cơ quan ngoài. Đây cũng là trường hợp có nhiều thuận lợi nhưng không nhiều.

+ Người nghiên cứu được cơ quan cử đi học chỉ định thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu của cơ quan.

+ Thầy cô giáo đưa ra một đề tài NC mang tính giả định, không liên quan đến nhiệm vụ NC của các thầy cô.

- Đề tài LV tự chọn:

Trong trường hợp được tự chọn đề tài LV, người nghiên cứu cần tìm hiểu tình hình và yêu cầu phát triển của lĩnh vực chuyên môn trong thực tế để xác định một hướng nghiên cứu thích hợp, trên cơ sở trả lời các câu hỏi:

+ Đề tài có ý nghĩa khoa học hay không?

+ Đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không?

+ Đề tài có cấp thiết phải nghiên cứu hay không?

+ Có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành LV không?

Đề tài LV dù có nhiều ý nghĩa khoa học, thực tiễn, cấp thiết nhưng nếu không có đủ điều kiện cần thiết (nguồn cung cấp thông tin, tư liệu, tài liệu, quỹ thời gian,thiên hướng khoa học của người hướng dẫn,…) thì cũng khó thực hiện.

- Đặt tên đề tài NC:

Tên đề tài NC phải phản ánh một cách chính xác đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu,có hàm chứa nội dung và phạm vi nghiên cứu.

Tên một đề tài NCKH khác với tên một bài báo KH, một chuyên đề KH, một tiểu luận hay một báo cáo tổng quan. Tên một đề tài KH chỉ được mang một ý nghĩa hết sức rõ ràng, không được phép hiểu hai hoặc nhiều nghĩa. Để đạt được yêu cầu này, người nghiên cứu cần lưu ý những hiện tượng cần tránh khi đặt tên đề tài:

+ Tên đề tài không ghi rõ hoặc làm rõ đối tượng NC, khách thể NC.

+ Tên đề tài dùng những cụm từ có độ bất định cao về thông tin. Ví dụ: Tìm hiểu về…, Suy nghĩ về…, Thử bàn về…, Nhận dạng về…, Một số biện pháp…, Một số vấn đề…, v.v…

+ Tên đề tài lạm dụng những cụm từ chỉ mục đích. Ví dụ: để…, nhằm…, góp phần…, v.v…

Việc sử dụng tùy tiện các cụm từ này thường xảy ra trong những trường hợp tác giả chưa hiểu và chưa nắm chắc đối tượng NC cũng như nội dung NC cần giải quyết.      

4. Đề cương nghiên cứu của LVKH.

Khi bắt tay vào nghiên cứu một đề tài KH thì một thao tác rất quan trọng là phải  xây dựng một đề cương ngiên cứu. Đề cương NC là văn bản dự kiến các bước đi và nội dung của công trình NC.

Đối với LV Thạc sĩ hay LA Tiến sĩ thì đề cương NC thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Tên đề tài: Thường được diễn đạt bằng một câu ngữ pháp ngắn gọn, cô đọng, bao quát được đối tượng NC, khách thể NC có hàm chứa nội dụng và phạm vi nghiên cứu.

a) Lý do chọn đề tài (hay gọi là tính cấp thiết của đề tài):

Phần này yêu cầu người nghiên cứu phải trình bầy rõ ràng, tường minh những lý do nào khiến tác giả chọn đề tài để nghiên cứu. Trả lời câu hỏi:”Tại sao cần nghiên cứu? và “Nghiên cứu để làm gì?”. Phải làm rõ sự nghiên cứu này là cần thiết về mặt lý luận và là một đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống. Nói chung, lý do chọn đề tài các LV, LA thường xuất phát từ những yêu cầu của thực tế công tác mà người nghiên cứu đảm nhiệm, từ việc phát hiện các thiếu sót trong nghiên cứu lý thuyết chuyên ngành cần bổ xung hoặc những vấn đề tồn tại cần giải quyết trong  thực tế cuộc sống.

Việc nghiên cứu này sẽ đem lại lợi ích cho hiện tại và tương lai của khoa học và thực tiễn cuộc sống.

b) Mục tiêu NC và mục đích NC.

Mục tiêu và mục đích NC là những khái niệm then chốt trong NCKH.

Mục tiêu NC là cái đích về nội dung  mà người nghiên cứu vạch ra để định hướng nỗ lực tìm kiếm. Mục tiêu là những điều cần làm trong quá trình NC. Mục tiêu của một LV, LA thường là tìm tòi làm rõ bản chất của một sự kiện hay hiện tượng mới hoặc tìm những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng một hoạt động thực tế nào đó. Mục tiêu NC trả lời câu hỏi:”Làm cái gì?”

Mỗi đề tài, tùy theo phạm vi NC, phải xác định rõ mục tiêu NC. Mục tiêu sẽ hướng dẫn các bước đi chiến lược của công trình để đạt tới mục đích cuối cùng.

Mục đích NC là ý nghĩa thực tiễn của NC, là đối tượng phục vụ của sản phẩm NC. Mục đích NC trả lời câu hỏi:”Nhằm vào việc gì?”, hoặc “Để phục vụ cho cái gì?”.

c) Đối tượng NC, Khách thể NC, Đối tượng khảo sát.

Đối tượng NC, khách thể NC, đối tượng khảo sát là những khái niệm công cụ luôn được sử dụng trong quá trình thực hiện một đề tài NCKH.

Đối tượng NC là bản chất sự vật hoặc hiện tượng cần được xem xét và làm rõ trong nhiệm vụ NC. Trả lời câu hỏi:” Nghiên cứu cái gì?”.

Khách thể NC là vật mang đối tượng NC, là hệ thống sự vật tồn tại khách quan trong các mối liên hệ mà người nghiên cứu cần khám phá. Khách thể NC chính là nơi chứa đựng những câu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm hiểu, trả lời câu hỏi:”…ở đâu?...của cái gì?...gắn với cái gì? v.v…

Đối tượng khảo sát là một bộ phận đủ đại diện của khách thể NC được người nghiên cứu lựa chọn để xem xét. Không bao giờ người nghiên cứu có đủ thời gian và kinh phí để khảo sát toàn bộ khách thể.

Thế giới khách quan là đối tượng duy nhất của NCKH. Tuy nhiên thế giới vô cùng rộng lớn, mỗi lĩnh vực KH phải chọn cho mình một bộ phận, một phần nào đó để tập trung khám phá, tìm tòi. Đó chính là thao tác xác định khách thể NC.

Trong cái khách thể rộng lớn đó, mỗi đề tài cụ thể lại phải chọn cho mình một bộ phận, một vấn đề, một thuộc tính, một  mối quan hệ của khách thể để nghiên cứu. Bộ phận đó chính là đối tượng NC của đề tài.

Mỗi đề tài NC một vấn đề, cũng có nghĩa là mỗi đề tài có một đối tượng NC. Như vậy, xác định đối tượng NC là xác định cái trung tâm cần khám phá của một đề tài NCKH.

Khách thể đồng nghĩa với môi trường của đối tượng mà ta đang xem xét. Xác định đối tượng là xác định cái trung tâm, còn xác định khách thể là xác định cái giới hạn chứa đựng cái trung tâm, cái giới hạn mà đề tài không được phép vượt qua. Do đó xác định khách thể và đối tượng NC là thao tác bản chất của quá trình NCKH.

d) Giả thuyết KH:

Giả thuyết KH là mô hình giả định, một dự đoán về bản chất của đối tượng NC. Một công trình KH về thực chất là chứng minh một giả thuyết KH. Do đó xây dựng giả thuyết là thao tác quan trọng của mỗi công trình KH. Giả thuyết có chức năng tiên đoán bản chất sự kiện hay hiện tượng, đồng thời là chức năng chỉ đường để khám phá đối tượng NC.

Giả thuyết được xây dựng phải báo đảm các yêu cầu sau:

- Giả thuyết phải có tính thông tin về sự kiện, nghĩa là có khả năng giải thích được sự kiện cần NC.

- Giả thuyết có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm.

e) Nhiệm vụ NC:

Xuất phát từ mục tiêu và giả thuyết KH, mỗi đề tài phải xác định các nhiệm vụ NC cụ thể. Nhiệm vụ NC chính là mục tiêu cụ thể mà đề tài phải thực hiện . Một LV thạc sĩ hay LA tiến sĩ thường có 3 nhiệm vụ:

- Xây dựng cơ sở lý thuyết khoa học.

- Phân tích làm rõ bản chất và quy luật vận động của đối tượng NC.

- Đề xuất những giải pháp ứng dụng để cải tạo thực tiễn.

f) Phạm vi NC:

Không phải đối tượng NC và khách thể NC nào cũng cần xem xét, nghiên cứu một cách toàn diện trong mọi thời gian và không gian, mà nó có thể được giới hạn nghiên cứu trong một phạm vi nhất định: về quy mô của đối tượng, không gian của sự vật, thời gian của tiến trình của sự vật.

Xác định phạm vi NC của đề tài là thao tác logich xác định giới hạn về thời gian, không gian, những vấn đề, những số liệu cần điều tra, quan sát, nghiên cứu phát hiện,…Hay nói cách khác, phạm vi NC của đề tài là giới hạn mà đề tài phải thực hiện.

Xác định phạm vi NC của đề tài là thao tác quan trọng giúp cho việc nghiên cứu đi đúng trọng tâm, không lệch hướng.

g) Những luận điểm bảo vệ (luận đề):

Luận điểm bảo vệ là những luận đề quan trọng, những tư tưởng cốt lõi của đề tài. Nhờ có nó mà công trình KH có thể đứng vững và bảo vệ được.

Luận điểm bảo vệ được trình bầy khái quát, cô đọng, chứa đựng những thông tin quan trọng nhất của đề tài.

h) Cái mới của đề tài:

Cái mới của một công trình NCKH  là những thông tin KH mà tác giả của công trình là người đầu tiên tìm ra hoặc kiến tạo. Chúng có giá trị đối với lý luận và thực tiễn. Cái mới của đề tài có thể là phát hiện mới, góp phần bổ xung, phát triển, hoàn thiện, hệ thống hóa lý thuyết hiện có, hoặc có thể là đề xuất những giải pháp ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn.

Mỗi đề tài phải có cái mới, đó chính là giá trị thực sự của công trình NCKH, là điều kiện để đề tài NC được bảo vệ thành công.

i) Cơ sở phương pháp luận và phương pháp NC:

Đề tài KH được tiến hành NC phải dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất quán. Nhờ có quan điểm nhất quán mà công trình có thể đi tới chân lý khách quan. Do đó người nghiên cứu phải trình bầy đầy đủ và rõ ràng phương pháp tiếp cận đối tượng NC và cơ sở phương pháp luận mà tác giả dựa vào để NC.

Để tiến hành NC một công trình KH, người nghiên cứu phải sử dụng phối hợp các phương pháp NC cụ thể. Các phương pháp được vận dụng hợp lý, phù hợp với đề tài NC sẽ bảo đảm cho công trình NC đạt tới kết quả.

Cho nên trong đề cương NC, người nghiên cứu phải trình bầy các phương pháp dự kiến sử dụng, ý đồ và kỹ thuật sử dụng chúng.

Đọc cơ sở phương pháp luận và các phương pháp NC dự kiến sử dụng trong quá trình NC đề tài, người ta có thể đánh giá năng lực làm việc KH của người nghiên cứu và khả năng thành công của công trình NC.

k) Cơ cấu nội dung NC:

Trong đề cương NC, yêu cầu phải trình bầy một cấu trúc logich nội dung dự kiến phù hợp với phương pháp NC của LV/LA. Để làm việc này, người nghiên cứu phải nghiên cứu công phu nhiều tài liệu tham khảo và đồng thời phải có khả năng tưởng tượng, sáng tạo, dự kiến một mô hình cho báo cáo kết quả nghiên cứu sau này.

Một báo cáo kết quả NCKH thường có, ngoài phần mở đầu và kết luận,  ít nhất 3 chương với cơ cấu nội dung được trình bầy cụ thể tới từng tiểu mục.

5. Đánh giá kết quả NC (Chất lượng KH của LV/LA):

Về nguyên tắc, bất kỳ công trình NCKH nào cũng được đánh giá theo các chỉ tiêu sau:

- Tính mới trong khoa học (Luận đề),

- Tính xác thực của các kết quả quan sát thực tiễn hoặc thực nghiệm,

- Tính chuẩn xác và tính hệ thống của các cơ sở lý thuyết KH (Luận cứ),

- Tính đúng đắn về phương pháp luận khoa học (Luận chứng),

- Khả năng ứng dụng vào thực tiễn.

Riêng chỉ tiêu thứ tư, trong đánh giá chất lượng các LV/LA có thể châm  chước, không yêu cầu như đối với các đề tài NCKH thực tế, vì các LV/LA chỉ là các công trình tập sự NCKH với những đặc thù của yêu cầu đào tạo trong nhà trường.

Ngoài ra, việc đánh giá chất lượng khoa học của LV/LA theo 3 tiêu chí trên cũng có những điểm khác biệt so với việc đánh giá kết quả NC của một đề tài NCKH thực tế.

- Đối với Luận chứng:

Đối với luận chứng, tức là phương pháp nghiên cứu, chất lượng cần được đòi hỏi yêu cầu cao nhất trong 3 bộ phận hợp thành cấu trúc logich: luận đề, luận cứ, luận chứng. Vì lẽ, trong quá trình tập sự NCKH, học tập phương pháp NC phải đạt được yêu cầu như một người nghiên cứu thực thụ. Nếu chấm điểm thì phần luận chứng có thể được nhân hệ số 3, hệ số cao nhất.

- Đối với Luận đề:

Đối với luận đề và vấn đề, chất lượng cũng cần được đòi hỏi yêu cầu cao, nhưng nên ở mức thấp hơn luận chứng. Vì lẽ, phát hiện vấn đề, từ đó xây dựng luận đề có giá trị KH, là công việc đòi hỏi có một quá trình tích lũy lâu dài. Không thể yêu cầu người tập sự NC có ngay những luận đề KH (tức giả thuyết) có giá trị KH cao như những người NC thực thụ.

Nếu chấm điểm thì phần luận đề có thể được nhân hệ số 2.

- Đối với Luận cứ:

Đối với luận cứ, cần xem xét tách riêng 2 loại luận cứ:

+ Luận cứ lý thuyết: Cần đặt yêu cầu về chất lượng ngang với chất lượng luận đề, nghĩa là phải có giá trị khoa học, hoặc là kế thừa, hệ thống hóa những luận cứ lý thuyết mà các đồng nghiệp đi trước đã xây dựng, hoặc là tự mình xây dựng. Tuy nhiên, cũng như luận đề và vấn đề, không thể yêu cầu người tập sự NC đưa ra những luận cứ lý thuyết có giá trị khoa học cao như các nhà nghiên cứu thực thụ. Nếu chấm điểm có thể cho hệ số 2.

+ Luận cứ thực tiễn: Đây là nội dung có thể châm chước về chất lượng, thậm chí có thể cho phép một số tư liệu, tài liệu không thực sự mới, tiêu biểu; số liệu có nhiều tính ước lệ, chưa được thẩm tra, xác minh tính chân xác. Nếu chấm điểm có thể cho hệ số 1.

6. Kết luận:

Hàng năm, các trường Đại học có hệ đào tạo sau đại học chuyên ngành kiến trúc, quy hoạch cho tốt nghiệp hàng trăm học viên Cao học và Nghiên cứu sinh, với hàng trăm Luận văn Thạc sĩ và Luận án Tiến sĩ.

Việc đào tạo sau đại học đến nay không còn là vấn đề mới, chất lượng các Thạc sĩ và Tiến sĩ tốt nghiệp nói chung đa số đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.

Tuy nhiên, trong xã hội, thậm chí ngay cả những người làm công tác đào tạo sau đại học, đôi khi cũng còn những băn khoăn, lo lắng về chất lượng đào tạo sau đại học, từ khâu tuyển sinh, học tập, giảng dạy, quản lý, đến khâu làm LV/LA tốt nghiệp và đánh giá tốt nghiệp.

Riêng khâu làm LV/LA và đánh giá LV/LA còn tồn tại một số quan niệm và cách làm không thống nhất, thậm chí trái ngược nhau, về cơ cấu nội dung, phương pháp nghiên cứu và hình thức trình bầy. Nhưng tâm lý phổ biến của đa số những người tham gia hướng dẫn và đánh giá LV/LA là buông xuôi, tránh va chạm, không muốn tranh luận, làm rõ phải/trái trước những quan điểm và cách làm khác nhau, có thể do sự khác biệt về hiểu biết, trình độ kiến thức, kinh nghiệm, nguồn gốc đào tạo, v.v…Nếu tình trạng này kéo dài, chỉ có hại cho người học và có hại cho xã hội.

Nên chăng, cần có những diễn đàn (trên các tạp chí khoa học) để trao đổi, một cách cởi mở, thẳng thắn, những suy nghĩ, những quan điểm về những vấn đề tồn tại, không thống nhất trong khâu hướng dẫn và đánh giá LV/LA để dần đi đến một sự thống nhất, một chuẩn mực tương đối, để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ những người làm NCKH, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội./.


GS-TSKH. Ngô Thế Thi, Đại học Xây dựng 

----------------------------
Tài liệu tham khảo: 
- Ngô Thế Thi: Phương pháp luận NCKH – CN kiến trúc, Bài giảng cho Cao học Kiến trúc- ĐHXD.  
- Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận NCKH, Nhà XB Khoa học-Kỹ thuật, Hà nội-1998.  

* Bài đăng trong Tạp chí Kiến trúc, số 267, tháng 7/2017.

Xem thêm các bài viết của 
GS-TSKH. Ngô Thế Thi,

Cập nhật ( 09/10/2017 )
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:
"Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan. Bởi vậy, nhiệm vụ của chi bộ là: làm sao cho toàn thể nhân viên đều cố gắng. Vạch rõ các khuyết điểm và đề ra cách sửa chữa, không để khuyết điểm nhỏ chồng chất lên thành khuyết điểm to"
 
Tại Quyết định số 1982/QĐ- TTg, ngày 18/10/2016, Thủ tướng đã phê duyệt Khung trình độ quốc gia VN, quy định CHUẨN ĐẦU RA của người tốt nghiệp khóa đào tạo Đại học theo các tiêu chí:i) Kiến thức; ii) Kỹ năng; iii) Mức tự chủ và trách nhiệm. Về Kỹ năng, ngoài kỹ năng đầu tiên là có thể giải quyết các vấn đề phức tạp, kỹ năng thứ hai, rất mới là: DẪN DẮT, KHỞI NGHIỆP, TẠO VIỆC LÀM CHO MÌNH VÀ CHO NGƯỜI KHÁC. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá về MỨC ĐỘ QUAN TÂM tiếp nhận, Ý THỨC rèn luyện kỹ năng này trong quá trình học tập tại trường:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com