
Thông tin chung:
Công trình: Quần thể di tích và danh lam thắng cảnh Yên Tử - Vinh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc (Yen Tu-Vinh Nghiem-Con Son, Kiep Bac Complex of Monuments and Landscapes)
Địa điểm: Tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh; Việt Nam
Thiết kế kiến trúc:
Quy mô: Diện tích đất: 525,748 ha; Vùng đệm: 5.717,878 ha
Thời gian hình thành: Thế kỷ 13, 14
Giá trị: Di sản thế giới (2025; hạng mục iii; vi)
Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc là một chuỗi các di tích nằm trên địa bàn ba tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh ở Đông Bắc Việt Nam.
Quần thể gồm 12 địa điểm, trải dài trên các vùng núi rừng, đồng bằng và thung lũng sông. Tập trung quanh dãy núi Yên Tử, đây từng là nơi cư ngụ của nhà Trần trong thế kỷ 13 và 14, đồng thời là cái nôi của Phật giáo Trúc Lâm, một truyền thống Thiền tông độc đáo của Việt Nam, đã định hình nên vương quốc Đại Việt. Khu phức hợp bao gồm các chùa chiền, đền thờ, miếu và các di tích khảo cổ liên quan đến các nhân vật tôn giáo và lịch sử. Nằm ở vị trí chiến lược trong điều kiện địa chất thuận lợi, nơi đây vẫn là một điểm hành hương sôi động.
Quần thể di tích và danh lam thắng cảnh Yên Tử - Vinh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc tại Việt Nam được UNESCO tôn vinh là Di sản thế giới (năm 2025) với các tiêu chí:
Tiêu chí (iii): Quần thể Yên Tử có sự kết hợp hài hòa giữa nhà nước, tôn giáo và cộng đồng nhân dân được phát triển từ vùng đất Yên Tử, tạo ra một truyền thống văn hóa được coi là độc đáo và có ý nghĩa toàn cầu, định hình bản sắc dân tộc, thúc đẩy hòa bình và an ninh trong khu vực, là minh chứng về Thiền phái Phật giáo Trúc Lâm.
Tiêu chí (vi): Quần thể Yên Tử và Thiền phái Trúc Lâm thể hiện ý nghĩa toàn cầu về cách thức một tôn giáo, xuất phát từ nhiều tín ngưỡng, bắt nguồn và phát triển từ Yên Tử, đã ảnh hưởng đến xã hội thế tục, thúc đẩy một quốc gia mạnh mẽ, bảo đảm hòa bình và hợp tác khu vực.
Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc là một chuỗi các di tích liên quan đến quê hương của các vị vua nhà Trần (cai trị Đại Việt từ năm 1226- 1400) và sự ra đời, lan tỏa và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm.
Thiền phái Trúc Lâm là thiền tông thứ tư ở Việt Nam do Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông (năm 1279 - 1293) lập ra. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam thế kỉ thứ 12. Đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi. Thiền phái Trúc Lâm có tính độc lập, đặc sắc của Phật giáo ở Việt Nam.
Quần thể Di sản nằm trong vùng cánh cung Đông Triều với độ cao trung bình trên 600m, đỉnh cao nhất là ngọn núi Yên Tử có độ cao 1.068m, so với mực nước biển. Đây được xem là "phên dậu" phía Đông Bắc của Việt Nam. Vùng núi này không chỉ là một thắng cảnh thiên nhiên mà còn là quê hương của Vương triều nhà Trần trong lịch sử, là "Đất tổ Phật giáo Trúc Lâm Việt Nam".
Năm 1299, Trần Nhân Tông (hoàng đế thứ ba của Nhà Trần, trị vì năm 1278- 1293; là một trong 14 vị Anh hùng dân tộc Việt Nam) xuất gia đến Yên Tử tu hành, lập nên Thiền phái Trúc Lâm bằng cả một hệ thống lý thuyết và hành động gắn đạo với đời.
Thiền sư Trần Nhân Tông (năm 1258- 1308) được coi là vị sư tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm mang Phật danh Điều Ngự Giác Hoàng. Kế tục sự nghiệp của ông, vị tổ thứ hai là thiền sư Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330) và vị tổ thứ ba là thiền sư Huyền Quang Tôn giả Lý Đạo Tái (1254-1334). Ba vị được gọi là Trúc Lâm Tam Tổ.
Từ đó, Yên Tử trở thành kinh đô tư tưởng của Phật phái Trúc Lâm, đánh dấu sự phát triển triết học và tư tưởng của dân tộc Việt Nam trong các thế kỷ 13 và 14.
Gắn liền với lịch sử phát triển dòng thiền Trúc Lâm tại Yên Tử là việc xây dựng và hình thành một quần thể công trình kiến trúc gồm nhiều chùa và hàng trăm am, tháp, mộ, bia, tượng.
Di sản Quần thể di tích và danh lam thắng cảnh Yên Tử - Vinh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc tại Việt Nam gồm 12 hạng mục công trình (đánh số từ 1732- 001 đến 1732-012).

Sơ đồ vị trí 12 công trình trong Quần thể di tích và danh lam thắng cảnh Yên Tử - Vinh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc tại Việt Nam: 1) Thái Miếu; 2) Đền Kiếp Bạc; 3) Chùa Lân – Thiền Viện Trúc Lâm Yên Tử; 4) Chùa Hoa Yên; 5) Chùa Ngọa Vân; 6) Chùa Vĩnh Nghiêm; 7) Chùa Thanh Mai; 8) Chùa Côn Sơn; 9) Chùa Bổ Đà; 10) Chùa Nhẫm Dương; 11) Động Kính Chủ; 12) Bãi cọc Yên Giang
1. Thái Miếu
Thái Miếu (Thai Mieu /Imperial Ancestral Shrine) nằm tại trung tâm Quần thể Di sản (N21 7 49.63; E106 33 1.44). Diện tích Di sản 0,53ha; Diện tích vùng đệm 2,92ha.
Thái Miếu thuộc di tích quốc gia đặc biệt trong Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều, Quảng Ninh. Đây là Khu di tích quan trọng bậc nhất của vương triều Trần (năm 1226 - 1400), nằm trên quê hương đất tổ nhà Trần và là nơi lưu giữ Thái miếu cũng như phần lớn lăng mộ của các vua Nhà Trần.
Đông Triều tức triều đình phía Đông, còn được xem như là một trong những trung tâm lịch sử, văn hoá đặc biệt tiêu biểu, là “Trung tâm Phật giáo” của nước Đại Việt dưới thời Trần.
Triều đại nhà Trần với võ công, văn trị hiển hách, đã mở ra một kỷ nguyên hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Vùng Đông Triều chính là đất tụ cư đầu tiên của họ Trần ở Việt Nam. Sau đó, vùng đất này được vua Trần Thái Tông (Hoàng đế Đại Việt, trì vì năm 1226- 1258) ban cho anh trai là Trần Liễu (An Sinh Vương, năm 1210- 1251) làm Ấp thang mộc (hay Thực ấp, là một hình thức đất phong thời phong kiến Việt Nam, đặc biệt thời Lý, nơi quan lại được ban cho một vùng đất bao gồm dân và ruộng đất để hưởng tô thuế, coi như một đơn vị quản lý kinh tế-xã hội nhỏ, với quyền lợi và trách nhiệm nhất định. Mục đích: Vừa là ban thưởng cho quan lại, vừa khuyến khích họ khai hoang, phát triển kinh tế nông nghiệp, đồng thời tạo nguồn thu cho triều đình; Thành phần: Bao gồm một số hộ dân và ruộng đất, người dân sống trong vùng ấp phải nộp thuế cho người được ban ấp), chính vì vậy, nơi đây luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các vua nhà Trần.
Khu di tích lịch sử nhà Trần hình thành từ năm 1299, khi vua Trần Nhân Tông (hoàng đế thứ ba của Nhà Trần nước Đại Việt, trị vì năm 1278- 1293; là một trong 14 vị Anh hùng dân tộc Việt Nam) xuất gia đến Yên Tử tu hành, lập nên Thiền phái Trúc Lâm.
Đến cuối thế kỷ XIV, nhiều lăng mộ của các vua Trần được xây dựng hoặc di chuyển về Đông Triều. Cùng với việc xây dựng lăng mộ, triều đình còn xây dựng đền, miếu để thờ cúng các bậc tiên đế, cùng nhiều công trình kiến trúc tôn giáo để phục vụ cho việc tu hành, giảng đạo. Vì thế, nơi đây đã trở thành một vùng “thánh địa” linh thiêng, nơi tập trung nhiều kiến trúc độc đáo mang đậm dấu ấn của triều đại nhà Trần.
Khu di tích hiện nay là một quần thể, gồm hệ thống lăng mộ, đền - miếu, công trình tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với lịch sử nhà Trần và Thiền phái Trúc Lâm, bao gồm 14 điểm di tích: i) Đền An Sinh: Thờ các vị vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông. Trần Giản Định; ii) Lăng Tư Phúc: Xây dựng năm 1381 nhằm lưu giữ thần vị của Chiêu Lăng và Dụ Lăng từ Tam Đường (Thái Bình) chuyển về; iii) Đền Thái hay Thái miếu: Thờ 8 vị vua nhà Trần; iv) Thái Lăng: Lăng vua Trần Anh Tông và Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng thái hậu; v) Mục Lăng: Lăng vua Trần Minh Tông; vi) Ngải Sơn Lăng: Lăng vua Trần Hiến Tông; vii) Phụ Sơn Lăng: Lăng vua Trần Dụ Tông; viii) Nguyên Lăng: Lăng vua Trần Nghệ Tông; ix) Đồng Hỷ Lăng: Lăng vua Trần Duệ Tông; x) Chùa Ngọc Thanh; xi) Chùa Ngọa Vân; xii) Chùa Tuyết; xiii) Chùa Quỳnh Lâm; xiv) Chùa Hồ Thiên.
Thái miếu:
Dưới các triều đại phong kiến phương Đông, thái miếu là nơi thờ các vị vua đã qua đời của một triều đại, là miếu thờ vào bậc quan trọng nhất của một triều đại phong kiến. Các vua xây dựng thái miếu để thờ tổ tiên của mình.
Thái Miếu thờ tổ tiên nhà Trần còn gọi là đền Thái nằm trên một ngọn đồi thấp có tên là Đồi Đình thuộc thôn Trại Lốc, xã An Sinh, thành phố Đông Triều, nay là phường An Sinh, tỉnh Quảng Ninh.
Đền được xây dựng từ thời Trần và là nơi thờ ba vị vua đầu tiên của triều Trần là Trần Thái Tổ (Trần Thừa, năm 1184-1234, bố của Trần Thái Tông, được vua Trần Thái Tông tôn lên làm Thượng Hoàng); Trần Thái Tông (Trần Cảnh 1218 – 1277); Trần Thánh Tông (Trần Hoàng, năm 1240- 1290).
Thời Nguyễn, Đền được xây dựng lại và gọi là đền Đốc Trại.
Trải qua thời gian dài bị thiên nhiên và chiến tranh huỷ hoại, tàn phá, đền chỉ còn là phế tích.
Năm 1993, nhân dân trong vùng xây dựng lại ngôi đền nhỏ như ngày nay và đặt tên chữ là Đại Vương đền, tên thường gọi là đền Thái.
Năm 2008 đã tiến hành khai quật một số địa điểm trong khu vực và đã phát hiện các tàn tích kiến trúc, đồ gốm sứ, kim loại từ 38 công trình xây dựng, kết nối liên hoàn với 3 giai đoạn khác nhau ở thời Trần.
Năm 2014, Thái Miếu nhà Trần được tôn tạo lại.
Quần thể đền theo hướng Tây Nam, tọa lạc trên một gò núi thấp, dựa lưng vào núi phía xa, nhìn ra sông Kinh Thày.
Khu vực Nội đền có diện tích khoảng 2,6ha, gồm: Nghi môn, bố trí tại chân núi. Từ đây có bậc thang dẫn lên phía trên, tới Vườn Trung tâm. Vườn có mặt bằng gần vuông, giữa vườn là Đền Đốc Trại. Phía sau Vườn Trung tâm là Thái miếu. Điện thờ có mặt bằng bố cục theo kiểu” tiền nhất, hậu đinh” (tòa Tiền đường thẳng, tòa Hậu đường như chữ T, gồm Thiêu Hương và Hậu cung). Hai bên Thái miếu có các công trình phụ trợ.
Khu vực Ngoại đền là nơi bố trí các công trình phụ trợ và không gian tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội.

Sơ đồ phạm vi Di sản Thái Miếu, phường An Sinh, tỉnh Quảng Ninh

Tổng mặt bằng Thái Miếu, Quảng Ninh

Phối cảnh tổng thể Thái Miếu, Quảng Ninh

Đền Đốc Trại, Thái Miếu, Quảng Ninh

Chính điện Thái Miếu, Quảng Ninh

Ban thờ chính tại Thái Miếu, Quảng Ninh
2. Đền Kiếp Bạc
Đền Kiếp Bạc (Kiep Bac Temple) hay Đền Trần Hưng Đạo vương, nằm tại trung tâm Khu vực Di sản (N21 09 03.8; E106 19 39.2).
Diện tích Di sản 3,44 ha; Diện tích vùng đệm 247,65 ha.
Đền Kiếp Bạc thuộc địa phận hai thôn Vạn Yên hay Vạn Kiếp (làng Kiếp) và Dược Sơn (làng Bạc), phường Trần Hưng Đạo, TP. Hải Phòng.
Nơi đây là thung lũng trù phú, xung quanh có dãy núi Rồng bao bọc, nằm gần Lục Đầu Giang, là nơi tụ hội của 6 con sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính của sông Thái Bình. Nhiều người cho rằng đây là vùng đất lành của thiên hạ.
Vào thế kỷ 13, Kiếp Bạc là nơi Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (năm 1228 – 1300, nhà chính trị, quân sự, tôn thất hoàng gia thời Trần) lập căn cứ, tích trữ lương thực, huấn luyện quân sĩ trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông.
Sang thế kỷ 14, đền thờ ông được xây dựng tại đây và là nơi tổ chức lễ hội hàng năm (20/8 âm lịch, ngày mất của Trần Hưng Ðạo) để dâng hương tưởng niệm vị Anh hùng của dân tộc Việt Nam, được dân gian tôn sùng là Đức Thánh Trần.
Ðền Kiếp Bạc nằm trên một khu đất ở trung tâm thung lũng Kiếp Bạc, bao gồm: Nghi môn, Sân trong với hai tòa Tả Hữu mạc, nhà Bạc, Tam bảo và các công trình phụ trợ.
Nghi môn đền đồ sộ, như một cổng thành. Trên trán cổng mặt ngoài có bốn chữ "Hưng thiên vô cực", dưới có 5 chữ "Trần Hưng Đạo Vương từ". Nghi môn có 3 cổng vòm. Cổng vòm chính giữa cao và rộng. Trên bề mặt cổng đắp vữa trang trí các hình tượng tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai), âm dương, trời đất, tự nhiên, con người nơi vùng đất lành.
Qua Nghi môn đến một sân rộng, hai bên sân là hai tòa Tả mạc, Hữu mạc gắn với hành lang hai bên đền, là nơi du khách chuẩn bị nghi lễ.
Bên phải sân có một giếng gọi là Giếng Ngọc, được cho là bắt nguồn từ mạch nước ngầm trên núi Rồng phía sau đền.
Nhà Bạc nằm trên trục chính (trục Thần đạo), giữa Nghi môn và Tam bảo, là bình phong cho điện thờ.
Tòa Tam bảo bố cục theo kiểu” tiền nhất, hậu đinh” (tòa Tiền đường thẳng, tòa Hậu đường như chữ T).
Tòa Tiền đường gồm 5 gian, 2 chái, 4 mái, là nơi thờ Phạm Ngũ Lão. Tại đây còn trưng bày 2 đoạn xương ống chân voi, tương truyền là voi chiến của Trần Hưng Đạo. Voi bị sa lầy tại cánh đồng, mặc dù quân sĩ dốc sức nhưng vẫn không kéo lên được. Trần Hưng Đạo đành phải bỏ voi lại để tiếp tục tiến quân. Khi thắng trận trở về thì voi đã chìm sâu xuống bùn lầy. Xương voi được mang về thờ trong đền.
Tòa Hậu đường gồm hai khối là Chính điện và Hậu cung.
Chính điện, gồm 7 gian, tường hồi chắn mái xây cao, mái 2 tầng. Đây là nơi thờ Hưng Đạo Vương.
Hậu cung đặt vuông góc với Chính điện, gồm 7 gian, tường hồi chắn mái xây cao như Chính điện. Đây là nơi thờ phu nhân của Hưng Đạo Vương là công chúa Thiên Thành và hai con gái được gọi là Nhị vị Vương cô. Trong đền hiện còn 7 pho tượng bằng đồng: tượng Trần Hưng Đạo, phu nhân, hai con gái, con rể là Phạm Ngũ Lão, Nam Tào, Bắc Đẩu và 4 bài vị thờ các con trai của ông cùng 2 gia tướng là Yết Kiêu và Dã Tượng.
Gần đền là Viên Lăng, là một quả núi nhỏ cây cối mọc um tùm, một số người cho rằng đây là nơi an táng Trần Hưng Đạo.

Sơ đồ phạm vi Di sản Đền Kiếp Bạc, phường Trần Hưng Đạo, TP. Hải Phòng

Tổng mặt bằng Đền Kiếp Bạc, Hải Phòng

Phối cảnh tổng thể Đền Kiếp Bạc, Hải Phòng

Nghi môn đền Kiếp Bạc, Hải Phòng

Mặt sau Nghi môn và giếng Ngọc, Đền Kiếp Bạc, Hải Phòng

Nhà Bạc tại sân trong đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương

Tòa Tiền đường, đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương

Đoạn xương ống chân voi tại tòa Tiền đường, Đền Kiếp Bạc, Hải Phòng

Ban thờ Trần Hưng Đạo tại Chính điện, Đền Kiếp Bạc, Hải Phòng
3. Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử
Chùa Lân (Chua Lan Pagoda) nằm tại phía đông Khu vực Di sản (N21 6 38.44; E106 43 38.56).
Diện tích Di sản 9,68 ha; Diện tích vùng đệm 50,31ha. Chùa Lân hay Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử là một ngôi chùa trên núi Yên Tử, thuộc địa phận thôn Nam Mẫu, phường Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh.
Chùa nằm trong Quần thể di tích danh thắng Yên Tử.
Năm 1293, vua Trần Nhân Tông (hoàng đế thứ 3 nhà Trần, trị vì năm 1278- 1293) đã cho tôn tạo, xây dựng chùa Lân thành một nơi khang trang lộng lẫy. Chùa Lân trở thành Viện Kỳ Lân, là nơi giảng đạo, độ tăng. Ba vị sư tổ Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang thường đến đây thuyết pháp, giảng kinh.
Chùa Lân là một trong những ngôi chùa quan trọng nhất trong hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm.
Theo thời gian, Chùa gần như bị thiêu huỷ hoàn toàn, chỉ còn hệ thống các mộ tháp gồm 23 tháp, trong đó tháp lớn nhất là tháp mộ thiền sư Chân Nguyên (1647-1726).
Năm 2002, Chùa được phục dựng lại.
Chùa Lân nằm trên một quả đồi có hình dáng một con lân nằm phủ phục.
Trục chính của Thiền viện hướng về phía tây nam với nhiều hạng mục công trình.
Các công trình chính của chùa gồm: Chính điện (Đại hùng bảo điện), Nhà thờ Tổ, Lầu trống, Lầu chuông, Nhà tăng, La Hán đường…
Trong toà Chính điện có tượng đồng Thích ca mâu ni nặng gần 4 tấn.
Sau Chính điện, trước nhà thờ Tam tổ Trúc Lâm có tượng Bồ Đề Đạt Ma làm bằng gỗ dáng hương có nguồn gốc từ Nam Mỹ, tượng cao 3,2m, bệ đỡ cao 0,65m, chiều rộng bệ đỡ 0,95m, nặng khoảng 3,2 tấn với những đường nét chạm khắc tinh tế.
Trước sân Thiền viện đặt một quả cầu Như ý báo ân Phật bằng đá hoa cương đỏ, đường kính 1,6m, trọng lượng 6,5 tấn. Quả cầu được đặt trên một bệ đá có tiết diện vuông, nặng 4 tấn, bên ngoài là bể nước hình bát giác với tám bồn hình cánh hoa bao quanh tượng trưng cho bát chính đạo.
Trong La Hán đường có bộ tượng gỗ 18 vị La Hán được chạm khắc tinh tế với các dáng điệu điển hình của từng vị.
Phía bên trái tháp Thiền viện có một cây đa cổ thụ bảy trăm năm tuổi, cành lá tươi tốt.
Bài trí trong chùa đơn giản, dùng ngay chữ quốc ngữ trên các hoành phi, câu đối.

Tổng mặt bằng Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, phường Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh

Phối cảnh tổng thể Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Quảng Ninh

Tam quan nội Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Quảng Ninh

Bên trong Chính điện, Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Quảng Ninh

Quả cầu Như ý báo ân Phật, Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Quảng Ninh

Cây đa cổ thụ bảy trăm năm tuổi, Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, Quảng Ninh
4 Cụm di vật Chùa Hoa Yên
Cụm di vật Chùa Hoa Yên (Hoa Yen Pagoda relic cluster) nằm tại phía đông Khu vực Di sản (N21 9 11.22; E106 42 55.69), phía bắc của di tích Chùa Lân – Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.
Diện tích Di sản 193,45 ha; Diện tích vùng đệm 4.631,07 ha.
Cụm di vật Chùa Hoa Yên nằm trong Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, thuộc phường Yên Tử, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Khu Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, được phân theo hai cụm:
Cụm di tích dọc theo tuyến đường chính (đường Yên Tử) từ Dốc Đỏ đến bến xe Giải Oan, bao gồm các chùa: Chùa Trình, chùa Suối Tắm, chùa Cầm Thực, chùa Lân (Thiền viện Trúc Lâm).
Cụm di tích trung tâm, bao gồm các di tích từ chùa Giải Oan đến chùa Đồng, gồm các di tích chính: Chùa Giải Oan, Hòn Ngọc, Tháp Tổ, chùa Hoa Yên, chùa Một Mái, am Hoa, am Dược, am Thiền Định, am Ngọa Vân, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu, tượng An Kỳ Sinh, bia Phật, chùa Đồng và các am, thất chưa phát lộ,... các tuyến đường hành hương, các cảnh quan danh thắng gắn với các di tích như thác Ngự Dội, thác Vàng, thác Bạc, cổng Trời, đường Tùng, rừng trúc, đỉnh núi Yên Tử.
Chùa Hoa Yên tọa lạc ở độ cao 516m so với mực nước biển. Đây là nơi đức vua Trần Nhân Tông đã xuất gia và sau đó lập ra Thiền phái Trúc Lâm và là ngôi chùa to nhất nên còn được gọi là chùa Cả.
Chùa vốn được khởi dựng từ thời nhà Lý, lấy tên là Phù Vân.
Ban đầu, chùa chỉ là một thảo am rất nhỏ, là nơi để Phật hoàng Trần Nhân Tông giảng đạo, lấy tên là Vân Yên.
Đến năm 1317, chùa Hoa Yên mới được xây dựng nguy nga, tạo thành một quần thể kiến trúc rộng lớn. Cả ba vị sư tổ của Thiền phái Trúc Lâm đều đã trụ trì tại chùa này.
Khi vua Lê Thánh Tông (Hoàng đế vương triều Lê, trị vì 1460- 1497) về đây vãng cảnh chùa, thấy cảnh sắc tốt tươi, muôn hoa đua nở, đã đổi tên chùa Vân Yên thành chùa Hoa Yên.
Đến thời Nguyễn, chùa bị hoả hoạn chỉ còn lại phế tích.
Năm 2002, chùa Hoa Yên được tôn tạo lại theo kiến trúc chùa thời Lý, Trần, kiểu "Nội công, ngoại quốc" (bên trong chữ Công/chữ H, bên ngoài chữ Quốc, hình vuông).
Chùa bao gồm: Nghi môn, tiền đường, thượng điện để thờ Phật, lầu trống, lầu chuông, nhà thờ tổ, nhà nghỉ khách, nhà giảng đạo, nhà dưỡng tăng…
Phía trước chùa là ba cây Đại cổ kính trên 700 năm tuổi. Ở bên phải, bên trái sân chùa là hai cây Sung cổ. Theo dân gian truyền lại, quả Sung, quả Vả trong rừng là món ăn chay của các Thiền sư tu hành ở Yên Tử.
Nền chùa cao hơn sân và được kết cấu bậc tam cấp bằng đá, hai bên lan can đặt hai con Rồng đá mang phong cách kiến trúc thời Trần.
Trước tòa Tam bảo đặt một lầu hương bằng đồng.
Tam bảo được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài kép, riềm bò nóc trang trí hình hoa thị, có hai con Rồng miệng há to ngậm hai đầu bờ nóc bờm giống sóng nước vân mây uốn cong lên mềm mại, dưới đầu Rồng là đôi Uyên ương. Vì ruồi trang trí hình hổ phù cách điệu. Hệ thống cánh cửa bức bàn để mộc trơn không trang trí.
Tượng thờ trong chùa được bài trí theo chùa Việt và Phật giáo Đại thừa.
Tiền Đường: bên trái là Đức Chúa Ông, Hộ pháp Khuyến Thiện, bên phải là Thánh Tăng, Hộ pháp Trừng Ác, Quan Âm Nam Hải.
Chính điện hay Thượng điện có tam cấp thờ: cấp trên cùng là bộ tượng Tam Thế Phật; Cấp thứ hai là bộ tượng Đức Phật Thích Ca thành đạo, hai bên là hai đệ tử Ma Ha Ca Diếp và A Nan Đà. Cấp thứ ba là Toà Cửu Long. Góc bên trái hậu cung là tượng Địa Tạng Bồ Tát, góc bên phải là tượng Quan Âm Chuẩn Đề.
Lầu trống, lầu chuông đều được mô phỏng kiến trúc đời Trần.
Nhà thờ Tổ gồm 7 gian, bài trí tượng thờ 5 gian, 2 gian để đồ thờ và tế khí. Chính giữa thờ Tam Tổ Trúc Lâm và Tượng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn và tượng Bảo Sái đệ tử của Ngài. Tiếp theo, bên trái thờ Tam Vương: Ngọc Hoàng ở giữa, Nam Tào, Bắc Đẩu ở hai bên, Ban thờ Đức Thánh Trần và hai Thị giả. Bên phải, ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu gồm: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải và các Thị giả, tiếp bên phải là ban thờ Chúa Thượng Ngàn và hai Thị giả.
Phía sau chùa Hoa Yên là phế tích của chùa Phổ Đà Quan Âm Bồ Tát.
Gần chùa Hoa Yên có vườn tháp Huệ Quang với 97 ngọn tháp (lăng mộ) bằng gạch hoặc đắp đất kề nhau tạo thành một quần thể. Nằm chính giữa trong lăng Quy Đức là tháp Huệ Quang, nơi an nghỉ của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Trong lăng an trí tượng Trần Nhân Tông với tư thế tọa thiền.

Sơ đồ phạm vi Di sản Chùa Hoa Yên, phường Yên Tử, TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Tổng mặt bằng Chùa Hoa Yên, Quảng Ninh

Phối cảnh tổng thể Chùa Hoa Yên, Quảng Ninh

Chính điện Chùa Hoa Yên, Quảng Ninh

Ban thờ bên trong Chính điện Chùa Hoa Yên, Quảng Ninh

Tháp tổ Trần Nhân Tông tại Chùa Hoa Yên, Quảng Ninh
5. Di tích chùa Ngọa Vân
Di tích chùa Ngọa Vân (Ngoa Van Hermitage Pagoda relic cluster) nằm tại phía bắc Khu vực Di sản và phía bắc của di tích Thái Miếu (N21 10 33.01; E106 34 44.01).
Diện tích Di sản 195,93 ha.
Quần thể di tích Am - Chùa Ngọa Vân nằm ở trung tâm sườn phía Nam của núi Bảo Đài (hiện được biết đến là núi Vây Rồng), thuộc địa phận 2 phường An Sinh và Bình Khê, Quảng Ninh.
Chùa Ngọa Vân là quần thể kiến trúc chùa tháp của Thiền Phái Trúc Lâm trên dãy Yên Tử. Đây là thánh địa của Phật giáo Việt Nam khi là nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông đã tu hành, đắc đạo và nhập Niết Bàn.
Am Ngọa Vân sau đó đã được sử dụng để thờ cúng Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Từ những năm 2000, Khu di tích chùa Ngọa Vân bắt đầu được đầu tư và tôn tạo trên nền những phế tích cổ.
Ngày nay, Di tích Ngọa Vân trở thành quần thể chùa tháp lớn, bố trí thành 3 lớp trên núi Bảo Đài.
Lớp thứ nhất – 4 cụm và 15 di tích dưới chân núi: Khu rừng già Tàn Lọng, Phủ Am Trà, Đô Kiệu, Thông Đàn, Đá Chồng, Ba Bậc, Tàn Lọng, Cửa Phủ… Các điểm di tích được kết nối với nhau bằng con đường uốn lượn dọc theo triền dốc lên đến đỉnh núi.
Lớp thứ hai – chùa Ngọa Vân trung: Nằm ở sườn phía Nam của núi Bảo Đài. Được xây dựng lại trên nền chùa cũ vào năm 2014. Ngọa Vân trung mô phỏng theo kiến trúc từ thời Lê Trung Hưng. Chùa gồm hai tòa chính, Tiền đường và Hậu đường.
Lớp thứ ba – di tích Ngọa Vân: Là lớp cao nhất của Quần thể, gồm: chùa Ngọa Vân thượng, am Ngọa Vân, Phật Hoàng tháp, Đoan Nghiêm tháp và Am Sơn thần. Đây là nơi lưu giữ nhiều dấu tích về những ngày cuối cùng trong cuộc đời tu thiền của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Tổng mặt bằng Chùa Ngọa Vân, phường Anh Sinh và phường Bình Khê, Quảng Ninh

Khu Thông Đàn - Lớp thứ nhất, Di tích Am – Chùa Ngọa Vân, Quảng Ninh

Chùa Ngọa Vân trung - Lớp thứ hai, Di tích Am – Chùa Ngọa Vân, Quảng Ninh

Chùa Ngọa Vân thượng - Lớp thứ ba, Di tích Am – Chùa Ngọa Vân, Quảng Ninh

Am Ngọa Vân - Lớp thứ ba, Di tích Am – Chùa Ngọa Vân, Quảng Ninh
6. Chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm (Vinh Nghiem Pagoda) nằm tại phía bắc Khu vực Di sản (N21 12 48.3; E106 19 26.8).
Diện tích Di sản 4,79 ha; Diện tích vùng đệm 35,21ha.
Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm được tôn vinh là Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á- Thái Bình Dương (năm 2012).
Trước kia, chùa Vĩnh Nghiêm thuộc xã Đức La, tổng Trí Yên, phủ Lạng Giang, nay là thôn Đức La, phường Tân An, tỉnh Bắc Ninh nên còn gọi là chùa Đức La và lễ hội ở đây được gọi là lễ hội La.
Chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng từ đầu thời Lý Thái Tổ (hoàng đế sáng lập nhà Lý, trị vì năm 1009-1028), còn có tên gọi là Chúc Thánh thiền tự, toạ lạc tại xã Đức La (trong dân gian quen gọi là chùa Đức La).
Chùa Vĩnh Nghiêm tọa lạc nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn), cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là núi non trong đó có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.
Chùa được hoàn thành vào năm 1016, vị trụ trì đầu tiên là Thiền sư Vạn Hạnh (năm 938- 1018).
Thời vua Trần Thánh Tông (hoàng đế thứ 2 triều Trần, trị vì 1258 – 1278), chùa đều có các vị cao tăng tu hành nên được tôn tạo nguy nga, tráng lệ.
Thời Trần Nhân Tông (hoàng đế thứ 3 triều Trần, trị vì 1278- 1293), chùa được sửa sang, trùng tu và đổi tên là chùa Vĩnh Nghiêm (Vĩnh Nghiêm tự) với mong muốn ngôi chùa mãi mãi trường tồn, mãi mãi tôn nghiêm.
Cả 3 vị Tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm là Hương Vân Trần Nhân Tông (vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm), Pháp Loa (1284- 1330, tổ sư thứ 2 của Thiến phái Trúc Lâm); và Huyền Quang (1254- 1334, trạng nguyên khoa thi năm 1272, tổ thứ 3 của Thiến phái Trúc Lâm) đều thụ giới ở chùa Vĩnh Nghiêm. Chùa trở thành làm trung tâm Phật giáo thời Trần, là nơi đào tạo tăng đồ trong suốt gần 8 thế kỷ, góp phần hình thành và phát triển Phật phái Trúc Lâm Yên Tử.
Từ trung tâm Phật giáo Vĩnh Nghiêm, tư tưởng của dòng thiền này lan rộng khắp các miền trong cả nước và lan tỏa ra khu vực và thế giới.
Chùa Vĩnh Nghiêm là một trong những Thánh tích quan trọng bậc nhất của Phật giáo Việt Nam nói chung, của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng, được coi là trường Đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam.

Sơ đồ phạm vi Di sản chùa Vĩnh Nghiêm, phường Tân An, tỉnh Bắc Ninh

Sơ đồ mặt bằng chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Phối cảnh tổng thể chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh
Chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm trải qua gần một thiên niên kỷ với nhiều lần trùng tu, tôn tạo.
Chùa ngày nay là sản phẩm của triều đại Lê Trung Hưng và triều Nguyễn.
Để đáp ứng nhu cầu thờ Phật và nơi đào tạo tăng đồ của cả nước, chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng với quy mô lớn.
Quần thể chùa được sắp xếp trong một không gian hình chữ nhật, trải theo một trục dọc, hướng Đông Nam, gồm các khối: Tam quan; Tam tòa (hay Chính điện); Nhà thờ tổ đệ nhất; Gác chuông; Nhà thờ tổ đệ nhị; Các công trình khác như Nhà Vong; Tượng Phật Quan Âm; Tả hữu hành lang; Nhà in và nhà lưu giữ, trưng bày mộc bản…
Tam quan của Vĩnh Nghiêm mới được trùng tu, trên nền cũ, dài 7m, rộng 5m, được xây kiểu chồng diêm gồm 1 gian, 2 chái với hai tầng, tám mái đao cong. Các đầu đao được đắp trang trí hình đầu rồng. Tòa kiến trúc này được phục dựng lại vào năm 1993-1994.
Từ đây đi vào 100m là Tam tòa. Trên sân chùa có một tấm bia to, 6 mặt, dựng năm 1606 với nội dung ghi lại việc trùng tu chùa năm đó. Đối diện với tấm bia cổ là vườn tháp mộ của các vị sư tu hành tại đây.
Tam tòa có mặt bằng kiểu chữ "Công" (工), gồm 3 công trình: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Đây là một tổ hợp công trình thờ Phật theo phái Đại Thừa (Phật giáo Bắc Tông, thờ nhiều Phật, Bồ tát và hành giả).
Tiền đường gồm 5 gian 2 chái, 4 mái. Nối giữa Tiền đường với Thượng điện là Thiêu hương, 3 gian.
Thượng điện ở trong cùng, 3 gian.
Trong Tam tòa, nền nhà vẫn là nền đất nện từ lâu đời, là một điều hiếm có trong các ngôi chùa cổ Việt Nam. Trong giới nhà Phật, nền đất nện có ý nghĩa như là một chất liệu tạo sự hòa hợp âm dương. Cả 3 khối công trình trong Tam tòa đều có các cửa võng, được chạm khắc hoa lá, chim muông và sơn son thiếp vàng, trên là các hoành phi đại tự lớn.
Nhà thờ Tổ đệ nhất nằm phía sau Tam tòa, cũng có bố cục 3 công trình theo kiểu chữ “Công” nhưng thấp và nhỏ hơn, gồm Tiền đường 3 gian 2 chái; Thiêu hương 2 gian; Hậu cung 1 gian, 2 chái. Đây là nơi thờ Hương Vân Trần Nhân Tông. Tượng ba tổ Trúc Lâm đặt ở hậu cung, trên có tấm hoành phi "Trúc Lâm hội Thượng".
Gác chuông nằm phía sau nhà thờ Tổ đệ nhất, cao 2 tầng, 8 mái, bên trong treo một quả chuông lớn đúc năm 1830. Kiến trúc lầu chuông được kết hợp giữa cấu trúc gỗ và gạch.
Nhà thờ Tổ đệ nhị nằm sau Gác chuông, gồm 2 dãy: Bái đường 11 gian và Hậu cung, là nơi thờ các vị tổ sư kế tiếp ba vị tổ sư khai sáng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Hai bên khối công trình chính có Tả vu và Hữu vu. Mỗi dãy gồm 18 gian. Tại đây không đặt các tượng La Hán như nhiều chùa khác.
Chùa Vĩnh Nghiêm có hệ thống di vật rất đa dạng.
Hệ thống tượng thờ với hơn 100 pho tượng, phong phú về hình dáng và hoàn chỉnh về hình thức, vị trí, chức năng với tượng Phật, tượng các vị Tổ dòng Trúc Lâm, tượng các vị sư Tổ, tượng Hộ pháp, tượng La Hán… Điêu khắc tượng tròn ở chùa Vĩnh Nghiêm chiếm một vị trí đặc biệt về giá trị mỹ thuật tiêu biểu thời Nguyễn.
Trong chùa hệ thống hoành phi - câu đối, đồ thờ tự cũng rất đa đạng độc đáo.

Tam quan chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Sân trước Tam tòa, chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Tòa Tiền đường, một trong ba công trình của Tam tòa, chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Bên trong tòa Tiền đường, tại Tam tòa, chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Bên trong Thượng điện, thuộc Tam tòa, chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Phối cảnh cụm công trình Nhà thờ Tổ đệ nhất, phía sau Tam tòa, chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Bên trong Nhà thờ Tổ đệ nhất, chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Tượng thờ các vị Tổ Sư dòng phái Trúc Lâm trong chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh

Một bia đá 6 mặt tại chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang

Vườn mộ tháp, chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được tổ chức UNESCO công nhận là là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương vào năm 2012.
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm không chỉ là hệ thống bản khắc hình, chữ truyền bá Phật pháp bằng văn bản, mà còn là một tác phẩm mỹ thuật đồ họa khắc gỗ truyền thống đặc sắc.
Số lượng còn lưu giữ được là 3.050 mộc bản có từ 700 năm nay.
Mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt 2 trang sách khắc ngược (âm bản) khoảng 2000 chữ Nôm, chữ Hán. Đây là những bản khắc có niên đại sớm nhất, bản in của nhiều sách nhất, chữ chuẩn đẹp nhất và đạt đến độ tinh xảo, trong số mộc thư còn lưu giữ được ở Việt Nam.
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được chế tác bởi những người thợ thủ công lành nghề thuộc các phường thợ ở Bắc Ninh, Bắc Giang và đặc biệt là Liễu Tràng (Hải Dương) - một làng chuyên làm nghề khắc mộc bản từ lâu đời.
Các mộc bản đều được làm từ gỗ cây thị. Chữ khắc trên ván gỗ có độ sâu từ 1 – 1,5mm, bằng chữ Hán cổ và Nôm, một số khắc xen cài chữ Phạn.
Các mộc bản chủ yếu ghi chép kinh Phật, lịch sử Thiền phái Trúc Lâm, trước tác của 3 vị tổ Thiền phái, ngoài ra còn có các tác phẩm thơ, phú, nhật ký của một số vị cao tăng. Đặc biệt một số mộc bản còn giới thiệu cách chữa bệnh bằng thuốc nam, cách châm cứu với bản sơ đồ chỉ dẫn các huyệt.
Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm cung cấp cho các nhà nghiên cứu thông tin phong phú về lịch sử Phật giáo, Thiền phái Trúc Lâm, cũng như văn học, phong tục tập quán, kỹ thuật chạm khắc gỗ Việt Nam thời bấy giờ.


Một số Mộc bản được trưng bày tại chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Ninh
7. Chùa Thanh Mai
Chùa Thanh Mai (Thanh Mai Pagoda) nằm tại phía bắc Khu vực Di sản (N21 13 5.82; E106 27 41.29).
Diện tích Di sản 0,5ha; Diện tích vùng đệm 0,25ha.
Chùa Thanh Mai vốn thuộc làng Thanh Mai, huyện Phưỡng Nhãn, Kinh Bắc, tiếp đó thuộc địa phận xã Hoàng Hoa Thám, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nay thuộc phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Phòng.
Chùa được Thiền sư Pháp Loa tôn giả (năm 1284- 1330) xây dựng vào khoảng năm 1329, gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của ông, vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Chùa Thanh Mai nằm trên sườn núi Phật Tích hay còn gọi là núi Tam Ban (nghĩa là ba cấp núi nối liền nhau của ba tỉnh Bắc Giang-Hải Dương-Quảng Ninh, thuộc cánh cung Đông Triều), cao khoảng 200m so với mực nước biển.
Trải qua các biến cố lịch sử, ngôi chùa chỉ còn lại tàn tích.
Năm 1980 - 2005, Chùa Thanh Mai được phục dựng lại.
Chùa Thanh Mai là một quần thể gồm tam quan, chính điện, nhà bia, nhà khách, nhà tăng.
Chính điện chùa xây mới hoàn toàn, có kiến trúc kiểu chữ Đinh (chữ T), với 7 gian tiền đường, 3 gian hậu cung. Kết cấu khung chùa bằng gỗ lim với 12 cột cái đường kính 50 cm, cao 7,2m và 16 cột quân đường kính 42 cm, cao 3,5m được nối theo kiểu "chồng rường bát đấu" là kiểu kiến trúc thời Trần. Mái chùa gồm 8 mái, 8 đầu đao, lợp ngói mũi hài, trên nóc đắp bờ, chính giữa đắp nổi bốn chữ Thanh Mai thiền tự.
Hệ thống thờ tự hiện nay không còn giữ được pho tượng cổ.
Các hiện vật cổ còn lưu giữ tại chùa bao gồm:
Viên Thông Bảo Tháp xây dựng năm 1334, tương truyền là nơi các đệ tử đặt xá lị của thiền sư Pháp Loa.
Tháp Phổ Quang được xây dựng năm 1702; Tháp Linh Quang xây dựng năm 1703; 5 ngôi tháp mộ khác chưa xác định niên đại.
Trong chùa cũng còn 4 tấm bia: hai bia đá bốn mặt thời Lê, một bia thời Mạc, và một bia thời Trần là Thanh Mai Viên Thông tháp bi (Bảo vật quốc gia).
Bia Thanh Mai Viên Thông tháp bi là tấm bia được dựng năm 1362, hơn 30 năm sau ngày Pháp Loa viên tịch, ghi lại thân thế sự nghiệp của ông, đồng thời là một biên niên sử Phật giáo và những sinh hoạt tín ngưỡng Phật giáo của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Bia hiện được đặt trong nhà bia có mái che phía trước Chính điện. Bia cao 131 cm (không tính bệ rùa đá), rộng 82 cm, dày 14 cm. Bia đặt trên lưng một con rùa đá còn nguyên vẹn, đủ đầu, mai, đuôi, bốn chân đều có 5 móng.

Phạm vi Di sản Chùa Thanh Mai, phường Nguyễn Trãi, TP. Hải Phòng

Tổng mặt bằng Chùa Thanh Mai, Hải Phòng

Tam quan Chùa Thanh Mai, Hải Phòng

Chính điện Chùa Thanh Mai, Hải Phòng

Bên trong Chính điện, Chùa Thanh Mai, Hải Phòng

Viên Thông Bảo Tháp, Chùa Thanh Mai, Nguyễn Trãi, Hải Phòng

Bia Thanh Mai Viên thông Tháp bi (bên phải), Chùa Thanh Mai, Hải Phòng

Hai tấm bia Chùa Thanh Mai, Hải Phòng
8. Chùa Côn Sơn
Chùa Côn Sơn (Con Son Pagoda) nằm tại trung tâm Khu vực Di sản, phía đông của di tích Đền Kiếp Bạc (N21 9 5.64; E106 22 48.6).
Diện tích Di sản 5,85 ha; Diện tích vùng đệm 581,72 ha.
Chùa Côn Sơn (tên chữ là Thiên Tư Phúc tự hay Côn Sơn Tự), nghĩa là chùa được trời ban cho phước lành, còn gọi là chùa Hun, là một ngôi chùa nằm bên ngọn núi Côn Sơn (hay còn gọi là núi Hun) ở phường Trần Hưng Đạo, TP. Hải Phòng.
Năm 1304, nhà sư Pháp Loa (năm 1284- 1330, là Tổ sư thứ 2 của Thiền phái Trúc Lâm cho xây dựng một ngôi chùa nhỏ gọi là Kỳ Lân.
Năm 1329, chùa được mở rộng thành Côn Sơn Thiên Tư Phúc tự, giao cho Huyền Quang (năm 1254-1334), là Tổ sư thứ 3 của Thiền phái Trúc Lâm chủ trì. Trong thời gian này, Huyền Quang cho lập đài Cửu phẩm liên hoa, biên tập kinh sách, thuyết pháp phát triển đạo phái. Chùa được xây dựng rất nguy nga đồ sộ, trở thành một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm cùng với chùa Yên Tử và chùa Quỳnh Lâm, Quảng Ninh.
Năm 1334, Thiền sư Huyền Quang viên tịch tại Côn Sơn, vua Trần Minh Tông (vị hoàng đế thứ 5 triều Trần, trị vì năm 1314- 1329) đã cho xây tháp Tổ sau chùa.
Vào đời nhà Lê, chùa được trùng tu và tiếp tục mở rộng. Khi đó, chùa có đến 83 gian, bao gồm các công trình như: Tam quan, Tam bảo, Tả Hữu vu, Lầu chuông, Gác trống, nhà Tổ. Trong chùa có đến 385 pho tượng.
Tương truyền ở ban thờ đầu hồi phía Đông nhà Tổ có 2 pho tượng nhỏ ngồi xếp bằng, một đàn ông, một đàn bà hướng về bàn thờ Phật, được cho là tượng Nguyễn Trãi (1380 - 1442, khai quốc công thần triều Hậu Lê, nhà chính trị, văn hóa lỗi lạc và năm 1980 được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới) và Nguyễn Thị Lộ (vợ lẽ của Nguyễn Trãi, mất năm 1442).
Chùa Côn Sơn ngày nay có kiến trúc gồm: Tam quan ngoại, Tam quan nội, Tam bảo, Cửu Phẩm Liên Hoa, nhà Tổ, Tả vu, Hữu vu và các công trình phụ trợ.
Tam quan ngoại mới xây dựng nằm đối diện với hồ nước hình bán nguyệt.
Sau Tam quan ngoại là sân ngoài. Trục giữa sân là một tuyến đường lát gạch, chạy dài dưới hàng thông trăm năm xen lẫn những tán vải thiều, là một khu vườn rất rộng, dẫn đến Tam quan nội.
Tam quan nội mới được xây dựng, 3 gian, 2 chái, 2 tầng 8 mái. Hai bên có hai cổng phụ.
Sau Tam quan nội là sân trong của chùa. Trong sân có các hàng cây cổ thụ và 4 tòa lưu giữ các tấm bia cổ. Hai bên sân là hai dãy hành lang đặt trên bệ đá cao 3 bậc, là nơi chuẩn bị đồ lễ của du khách.
Tòa Tam bảo của chùa có bố cục theo kiểu chữ "công" hay chữ H, gồm tòa Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện.
Tòa Tiền đường đặt trên một bệ bằng đá, cao 7 bậc. Công trình gồm 5 gian, 2 chái, 4 mái.
Trong Thượng điện là nơi thờ Phật. Bên trong còn lưu giữ tượng Hộ pháp từ thời Lê cao tới 3m.
Sân sau của Tam bảo nằm trên bệ cao 5 bậc so với sân trong. Hai bên sân cũng có tòa Tả vu và Hữu vu, nơi đặt tượng Thập bát La Hán, được đúc bằng đồng nguyên khối vào năm 2014.
Chính giữa sân sau Tam bảo, trên khu đất tàn tích của tòa Cửu Phẩm Liên Hoa được xây dựng vào năm 1330, một tòa Cửu Phẩm Liên Hoa mới được phục dựng vào năm 2017. Công trình có kết cấu 3 tầng, 12 mái, bên trong đặt tháp Cửu phẩm Liên Hoa hình bát giác 9 tầng cao 10,3 m với những chi tiết chạm trổ, điêu khắc tinh xảo.
Phía sau tòa Cửu Phẩm Liên Hoa là nhà Tổ, nơi thờ các vị có công tu nghiệp đối với chùa: Điều ngư Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang.
Phía sau chùa Côn Sơn là khu mộ tháp, trong đó có Đăng Minh Bảo tháp. Tháp được dựng bằng đá xanh, cao 3 tầng, bên trong đặt xá lợi và tượng Thiền sư Huyền Quang.
Dưới chân Đăng Minh Bảo tháp là giếng Ngọc, được cho là mắt của con Kỳ Lân mà ngọn núi mang tên.
Phía trên đỉnh núi Côn Sơn có Bàn cờ Tiên và am Bạch Vân.
Hiện chùa Côn Sơn còn giữ lại được nhiều các di vật có giá trị, trong đó có hệ thống Văn bia với niên đại từ thế kỷ 13 đến 18. Đặc biệt là tấm bia Thanh Hư động. Ba chữ "Thanh Hư động" trên bia, là bút tích của vua Trần Duệ Tông (vị hoàng đế thứ 9 của nhà Trần, trì vì từ năm 1372- 1377), khi vua về thăm Côn Sơn năm 1373. Bia đặt trên lưng một con rùa. Hiện bia được để trong một nhà bia nằm bên phải từ cổng vào.
Bia cổ Thanh Hư Động với nhiều giá trị lịch sử đã được công nhận là Bảo vật quốc gia (năm 2015).
Năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm chùa Côn Sơn và đến đọc tấm bia mang tên Côn Sơn Tư Phúc tự bi. Đây là một trong số 14 tấm bia cổ hiện còn ở chùa Côn Sơn, nằm tại nhà bia thứ hai bên trái chùa Côn Sơn từ cổng vào. Bia Côn Sơn Tư Phúc tự dựng năm 1607, là loại bia 6 mặt rất hiếm tại nước ta (niên đại sớm nhất là tấm bia 6 mặt Quốc sư Báo Ân tự bi ở chùa Báo Ân, Hải Dương, dựng năm 1585, tiếp đến là tấm bia 6 mặt tại chùa Côn Sơn). Bia cao 1,20m; rộng 0,32m, có 6 mặt hình lục lăng, mỗi mặt có 68 dòng, mỗi dòng có 15 đến 30 chữ. Diềm chân vòng quanh 6 mặt bia là hoa dây uốn sóng.

Sơ đồ phạm vi Di sản Chùa Côn Sơn, phường Trần Hưng Đạo, TP. Hải Phòng

Cảnh quan khu vực xung quanh Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Phối cảnh tổng thể Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Tam quan ngoại, Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Tam quan nội, Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Sân trong Chùa Côn Sơn với các nhà bia. Bên phải là tấm bia "Thanh Hư Động"

Bia 6 mặt "Côn Sơn Thiên tư Phúc Tự" trong sân Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Tòa Bái đường, Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Bên trong tòa Tam bảo Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Mặt sau của Thượng điện, tòa Tam bảo Chùa Côn Sơn; cạnh đó tàn tích móng của công trình xưa

Tòa Cửu Phẩm Liên Hoa, Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Phía sau chùa Côn Sơn, gồm nhà Tổ và khu phụ trợ; phần nhô cao nhất là mái của tòa Cửu Phẩm Liên Hoa

Hai dãy Tả vu, Hữu vu đặt tượng Thập bát La Hán, Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Đăng Minh Bảo tháp, Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Giếng Ngọc tại Chùa Côn Sơn, Hải Phòng

Bạch Vân am trên đỉnh núi Côn Sơn, Hải Phòng
9. Chùa Bổ Đà
Chùa Bổ Đà (Bo Da Pagoda) nằm tại phía tây của Khu vực Di sản (N21 14 35.85; E106 3 2.46).
Diện tích Di sản 27,5ha; Diện tích vùng đệm 99,65 ha.
Chùa Bổ Đà, còn được gọi là chùa Bổ, chùa Tam Giáo, toạ lạc ở phía bắc chân núi Phượng Hoàng (Bổ Đà sơn), bờ tả dòng sông Cầu, thuộc địa phận thôn Thượng Lát, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh.
Chùa Bổ Đà là một trong những ngôi chùa độc đáo tại vùng đất Kinh Bắc, là trung tâm Phật giáo lớn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Chùa đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2016 và bộ kinh phật khắc trên gỗ thị lưu giữ trong chùa được đánh giá là cổ nhất của dòng thiền Lâm Tế.
Chùa Bổ Đà là một trong những nơi còn giữ nguyên bản nét kiến trúc truyền thống Việt cổ.

Sơ đồ phạm vi Di sản Chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh

Tổng mặt bằng Chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh
Quần thể chùa Bổ Đà bao gồm 2 cụm công trình: Cụm công trình di tích Phật giáo và cụm công trình di tích Thần đạo bản địa.
Di tích Phật giáo
Truyền thuyết về tên cũng như sự ra đời của chùa Bổ Đà mang nhiều huyền bí, trong đó có ý kiến cho rằng tên chùa bắt đầu từ chữ Buddha (chữ Phạn chỉ đạo Phật). Đây là nơi đức Quán Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời nên còn được gọi là chùa Quán Âm.
Chùa còn có gọi là Tứ Ân liên quan niềm tri ân đối với: Trời (vũ trụ, tự nhiên); Quốc gia; Cha mẹ và Thày dạy, gắn với việc thờ Phật, Trúc Lâm tam tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), Tứ Pháp (Pháp Vân – thần Mây, Pháp Vũ – Thần Mưa, Pháp Lôi – Thần Sấm, Pháp Điện – Thần Chớp); thờ Thạch tướng quân (vị thần có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm) và hai vị thày Khổng Tử, Lão tử.
Chùa có từ thời nhà Lý thế kỷ 11 và được xây dựng lại vào thời Lê, dưới triều vua Lê Dụ Tông (hoàng đế thứ 22 triều Hậu Lê, trị vì năm 1705- 1729), thế kỷ 18, được trùng tu vào thế kỷ 19 và năm 2007. Kiến trúc còn lại hiện nay mang phong cách triều Nguyễn.
Chùa Bổ Đà nằm dưới chân một đồi, xung quanh là tường đất che chắn, phía xa có núi sông bao bọc. Nhiều người vẫn gọi Bổ Đà là chùa Đất bởi không gian chùa man mác một màu nâu của đất, từ đường, sân, tường hào, tường nhà, mái ngói đến các tòa tháp mộ.
Chùa Bổ Đà là một trung tâm Phật giáo lớn thời bấy giờ, tương tự như chùa Bút Tháp, Bắc Ninh. Đây là nơi được vua, hoàng gia chọn làm nơi tu hành và nghe thuyết pháp.
Với chức năng là nơi đào luyện tăng đồ của Thiền phái Lâm Tế (liên quan đến vị Tổ là Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết, hay Lý Thiên Tộ; Ngài viên tịch trong tư thế ngồi thiền tại chùa Phật Tích, Bắc Ninh vào năm 1644, thọ 55 tuổi), chùa Bổ Đà còn lưu giữ nguyên vẹn gần 2000 mộc bản kinh Phật, bằng gỗ thị được khắc từ năm 1740. Bản kinh có kích thước dài trung bình 50cm, rộng 25cm và dày khoảng 2,5cm, một số bản đặc biệt có chiều dài 150 cm và rộng 30 - 40 cm. Trên các mộc bản không chỉ có văn tự mà còn nhiều hình ảnh chạm khắc rất tinh xảo, như hình khắc Phật Tổ tọa trên đài sen, Quán Thế Âm Bồ Tát, các vị La Hán.
Bản kinh Phật chùa Bổ Đà hiện được công nhận là bộ mộc bản Kinh Phật khắc bằng gỗ thị cổ nhất tại Việt Nam.

Kho mộc bản kinh Phật, chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh


Hình ảnh một số mộc bản kinh Phật tại chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh
Ngoài các bản kinh Phật, chùa Bổ Đà còn bảo tồn được nhiều tài liệu, hiện vật, cổ vật có giá trị lớn về mặt văn hóa, lịch sử, kiến trúc và mỹ thuật.
Trong chùa còn lưu giữ hệ thống tượng Phật thời Lê bằng gỗ khá đầy đủ. Tượng Phật chùa Bổ Đà không chỉ có giá trị lịch sử về sự phát triển của đạo Phật, của thiền phái Trúc Lâm, mà còn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc phong phú, trong đó có toà Cửu Long trong tòa Tam bảo. Ở đây còn cây đèn thời Lê bằng gỗ. Mỗi cây cao 0,60m; 1 choé cao 0,60 m; 1 lọ độc bình, 1 quả chuông đồng cao 1m, đường kính 0,60m có niên hiệu thời Tự Đức (vị hoàng đế thứ 4 triều Nguyễn, trị vì năm 1847- 1883). Hai án thư ở nhà Tam bảo sơn son thiếp vàng chạm khắc tinh xảo. Các bức đại tự, hoành phi, câu đối được sơn son thiếp vàng lộng lẫy; 1 chiếc mõ hình cá dài 0,60m...
Chùa Bổ Đà là là một trong những ngôi chùa cổ kính, đặc biệt và lớn nhất vùng Kinh Bắc xưa (gồm 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, toàn bộ khu vực phía Bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Văn Giang, Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên và Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn).
Xưa đã có câu ca dao "xếp hạng" chùa:
Thứ nhất là chùa Đức La (chùa Vĩnh Nghiêm, Yên Dũng Bắc Gang);
Thứ nhì chùa Bổ (chùa Bổ Đà, Việt Yên, Bắc giang);
Thứ ba chùa Tràng (chùa Kim Tràng, Tân Yên, Bắc Giang).
Chùa Bổ Đà còn được thiên hạ đánh giá là một trong hai ngôi chùa tiêu biểu của miền Bắc Việt Nam, như câu phương ngôn xưa:
“Nam Hương tích (Hương Tích Cổ tự hay chùa Thơm, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), Bắc Bổ Đà”.

Sơ đồ tổng mặt bằng chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh


Phối cảnh tổng thể chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh
Chùa Bổ Đà có diện tích khoảng 5,2ha, là một quần thể di tích lớn với nhiều hạng mục, trong đó có 4 hạng mục chính, đó là chùa Tứ Ân (chùa Hạ), chùa Cao (chùa Thượng), am Tam Đức, vườn Tháp:
Chùa Tứ Ân
Chùa Tứ Ân hay Tứ Ân tự nằm thấp nhất trong cụm các công trình Phật giáo tại đây, nên còn có tên là chùa Hạ.
Chùa có bố cục theo kiểu “Nội thông, Ngoại bế” (bên trong công trình liên thông, bên ngoài được tường, hào bao kín). Chùa có tường, hào bao quanh, giống như cấm thành hay pháo đài, do tại chùa có cả vua, hoàng gia tu hành, nghe thuyết pháp nên cần kín đáo, dễ bảo vệ. Bố cục này tạo sự khác biệt với các ngôi chùa cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ thường là “Nội công, ngoại quốc” (bên trong công trình tạo thành chữ H, bên ngoài là hành lang tạo thành hình chữ nhật) và mở ra với tự nhiên xung quanh.
Nhìn từ ngoài vào, chùa Tứ Ân được bao bọc bởi tường trình dày 0,8m, cao 2-3m, bằng đất pha trộn với sỏi và các mảnh gốm ngói, tiểu sành vùng Thổ Hà (thuộc xã Vân Hà, huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang).
Bên trong gồm 16 toà ngang dãy dọc với hơn 90 gian liên hoàn. Một số công trình được xây dựng hoàn toàn bằng đất nện theo kiểu chình tường.
Chùa Tứ Ân gồm các hạng mục công trình (hình vẽ ký hiệu I):
- Tòa Tam bảo (hình vẽ ký hiệu 1) có mặt bằng hình chữ “Đinh” hay chữ T. Hai bên có 2 tòa Hành lang Tả vu và Hữu vu (ký hiệu 2). Toà Tiền đường dài 21m x 11m có 7 gian, tường gạch, lợp ngói, nền lát gạch vuông, nền nhà cao 0,90m có 3 bậc. Bậc thềm được lát bằng những phiến đá xanh có kích thước to nhỏ khác nhau. Phía trên là 5 bộ cửa bức bàn. Phần Hậu cung dài 12m x 7,7m gồm 5 gian.
- Tiếp sau là nhà Tổ tiền tế (ký hiệu 3), hai bên là nhà Giảng đường (ký hiệu 5), nhà Trụ trì (ký hiệu 6) tạo thành hình chữ U. Phía sau nhà Tổ tiền tế là nhà Tổ hậu đường (ký hiệu 4).
- Ngoài ra, trong công trình còn có Gác kinh (ký hiệu 7); nhà Hành pháp (ký hiệu 8), Nhà khách 1 và 2 (ký hiệu 9 và 10), nhà Chuẩn bị (ký hiệu 12); nhà Tang lễ (ký hiệu 13); nhà Bếp (ký hiệu 14).
Xung quanh chùa là vườn chùa, có hào rộng 2m, sâu 1,5m để thoát nước và bảo vệ.
Một số cây lâu năm trong vườn như thị, vối đều có tuổi đời hàng trăm năm. khu vườn chùa Bổ Đà còn là nơi sinh hoạt cộng đồng tâm linh, tín ngưỡng của người dân.

Tòa Tam bảo, chùa Tứ Ân, Vân Hà, Bắc Ninh

Hậu cung tòa Tam Bảo, chùa Tứ Ân, Vân Hà, Bắc Ninh; hai bên là hai dãy hành lang

Sân trong nhà Tổ tiền tế và nhà Giảng đường, chùa Tứ Ân, Vân Hà, Bắc Ninh

Tòa Tiền đường bên trong Tam bảo, chùa Tứ Ân, Vân Hà, Bắc Ninh

Ban thờ Phật tại Hậu cung bên trong Tam Bảo, chùa Tứ Ân, Vân Hà, Bắc Ninh

Bàn thờ Tam tổ Trúc Lâm, chùa Tứ Ân, Vân Hà, Bắc Ninh
Am Tam Đức
Am Tam Đức (ký hiệu II) nằm tại phía sau của chùa Tứ Ân, phía trước của chùa Cao.
Tên gọi thể hiện 3 đức tính mà con người cần rèn luyện để làm điều tốt đẹp: Ân Đức, Tri Đức và Đoạn Đức. (Ân đức: Tâm hồn rộng lượng bao dung; Tri Đức: Trí huệ để hiệu các quy luật của trời đất; Đoạn đức: Dứt đoạn với các thứ vô minh, phiền lão.
Công trình được xây dựng vào thế kỷ 18, bị phá hủy trong chiến tranh và được xây dựng lại.
Am là một công trình 5 gian. Gian giữa xây kiểu chồng diêm bằng gỗ lim.

Am Tam Đức, quần thể chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh
Chùa Cao
Chùa Cao (ký hiệu III) hay chùa Thượng, nằm phía sau của am Tam Đức, tại vị trí cao nhất trong cụm công trình Phật giáo tại đây.
Chùa Cao còn có tên gọi là chùa Quán Âm, được xây dựng vào thế kỷ 11, trùng tu vào thế kỷ 18 và năm 2007. Chùa là một công trình nhỏ, có một gian và thờ một pho tượng duy nhất là tượng Quan Âm Tống Tử (Quán Âm ban con cho những người cầu xin) gắn với việc lưu truyền về “tích cầu con” cùa một gia đình tiều phu dưới chân núi Bổ Đà.

Chùa Cao, quần thể chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh
Vườn tháp
Vườn tháp (ký hiệu IV) nằm tại phía Đông của chùa Tứ Ân.
Vườn có diện tích khoảng 8000m2, gồm 110 ngôi tháp và mộ lớn nhỏ khác nhau, nằm nghiêng theo sườn dốc của núi Bổ Đà. Bao quanh vườn là một bức tường thấp bằng đất, đá núi và gạch chỉ.
Trong vườn có 97 ngôi tháp cổ có lịch sử hàng trăm năm, là nơi tàng lưu tro cốt xá lỵ nhục thân của trên 1214 tăng ni phật tử của Thiền phái Lâm Tế trong cả nước.
Vườn tháp được chia làm 2 khu: Khu trên là nơi lưu giữ tro cốt xá lỵ của sư tăng (trên đỉnh tháp có trang trí hình bình cam lồ); Khu dưới là nơi lưu giữ tro cốt xá lỵ của sư ni (trên đỉnh tháp có trang trí hình bông sen).
Các ngôi tháp đều được xây bằng gạch và đá với yỹ thuật truyền thống bắt mạch vôi mật mía. Đa số là tháp 3- 4 tầng với độ cao 4-5m.
Vườn tháp chùa Bổ Đà được đánh giá là một trong những vườn tháp đẹp và lớn nhất cả nước.

Phói cảnh vườn Tháp, chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh

Tháp có đỉnh tháp hình bình cam lồ, lưu giữ tro cốt xá lỵ của sư tăng, chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh
Di tích Thần đạo bản địa – Đền Thạch Tướng quân
Đền thờ Thạch Tướng quân (Thạch tướng Đại vương/Thạch linh Thần tướng), người có công giúp vua Hùng thứ 16 chống giặc ngoại xâm.
Truyền thuyết Thạch Tướng quân cũng như truyền thuyết Thánh Gióng có nhiều điểm tương đồng với nhau, về sự sinh nở thần kỳ, sự trưởng thành đặc biệt, trở thành thiên tướng khi có giặc ngoại xâm, được vua ban cho phương tiện và vũ khí đánh giặc, sau khi thắng giặc lên đỉnh núi mà bay về trời.
Căn cứ vào việc đối chiếu thời điểm ra đời của văn bản, thì truyền thuyết Thạch Tướng quân xuất hiện muộn hơn khoảng 500 năm so với truyền thuyết Thánh Gióng. Điều này thể hiện niềm tin mạnh mẽ theo thời gian của cộng đồng về các vị thánh thần bản địa chống giặc ngoại xâm, rằng các Ngài luôn ở bên cạnh, khi cần sẽ lại xuất hiện ở dạng này hay dạng khác để giúp dân, giúp nước.
Đền Thạch Tướng quân bao gồm 3 cụm công trình: Đền Thượng, đền Trung và đền Hạ, trải dài khoảng 2000m, dọc núi Bổ Đà.
Đền Thạch Tướng quân
Đền là một cụm 3 đền: Đền xây trên đỉnh núi Phượng Hoàng (núi Bổ Đà) là đền Thượng, nơi Thạch tướng quân hóa về trời sau khi giúp vua đánh giặc. Lưng chừng núi là đền Trung. Dưới chân núi là đền Hạ.
Ao miếu
Ao miếu là nơi sinh ra Thạch tướng quân, từ một hòn đá mẹ trong ao. Khu Ao miếu hiện nay gồm: Cổng đền, đền Hạ, ao Thạch Long và nhà Mẫu, bố cục hướng về phía Đông Nam, bao quanh là khu dân cư.
Cổng đền mới được trùng tu, xây đơn giản. Sân lát gạch vuông. Trong sân đặt một ông Voi tạc bằng đá xanh, được dựng theo Thần tích về vua ban tặng voi chiến, mà Thạch tướng quân đã cưỡi khi xung trận đánh giặc.
Xung quanh sân xây tường bao khép kín. Phía trước có hồ thủy đình, là nơi diễn ra nhiều trò chơi dân gian, hát quan họ trong ngày lễ hội.
Đền Hạ có mặt bằng hình chữ nhất, 1 gian 2 trái; mái chồng diêm 2 tầng, 8 mái. Công trình được trùng tu, tôn tạo năm 1993. Đây là nơi thờ thần Đá (Mẹ Đá).
Sau đền là ao Thạch Long rộng chừng 260m2 và ngôi miếu nhỏ lưu lại dấu tích của mẹ Đá khi sinh ra Thạch tướng. Trong ao vẫn còn lưu lại tảng đá gồm 3 phiến đá tách rời nhau, được người dân cho là “Mẹ Đá” nứt mà sinh ra Thạch tướng. Ao còn được gọi là Thánh Trì (Ao Thánh). Trên phiến đá lớn dựng một ngôi miếu thờ Thạch tướng Đại vương.
Khu nhà Mẫu mới được xây dựng vào năm 2009, là nơi thờ cha, mẹ nuôi của Thạch tướng.

Đền Hạ thờ Thạch Linh Thần tướng, quần thể chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh

Ban thờ đặt ngai và di ảnh của Thạch Linh Thần tướng bên trong đền Hạ, quần thể chùa Bổ Đà, Bắc Giang
“Đá Mẹ” sinh ra Thạch tướng trong khuôn viên Ao Miếu, phía sau đền Hạ, quần thể chùa Bổ Đà, Vân Hà, Bắc Ninh
10. Chùa Nhẫm Dương
Chùa Nhẫm Dương (Nham Duong Pagoda) nằm tại phía nam Khu vực Di sản (N21 2 16.9; E106 32 11).
Diện tích Di sản 11,864ha; Diện tích vùng đệm 34,347ha.
Chùa Nhẫm Dương (hay Thánh Quang tự) tọa lạc tại phường Duy Tân, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, nay là phường Nhị Chiểu, TP. Hải Phòng.
Chùa Nhẫm Dương gắn liền với Thiền phái Tào Động, là một trong năm Thiền phái của Thiền tông Trung Quốc, được sáng lập vào cuối nhà Đường (triều đại Trung Hoa, tồn tại năm 618–690, 705–907), được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ 17. Đây là nơi trụ trì của Thánh Tổ Đạo Nam Thông Giác Thủy Nguyệt (năm 1637–1704), người khai sáng chốn tổ Tào Động Việt Nam. Hiện chùa vẫn lưu giữ tháp đá 5 tầng đặt xá lị và tượng đá xanh thế kỷ 18, cùng nhiều dấu tích cổ phản ánh vai trò đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Chùa Nhẫm Dương Hải Phòng (Hải Dương cũ) được khởi dựng từ thời Trần (thế kỷ 13), sau đó được trùng tu vào các thời hậu Lê và Nguyễn. Chùa bị phá hủy trong chiến tranh.
Sau năm 1954, chùa được phục dựng bằng vật liệu đơn sơ.
Đến năm 1997 - 2002, Chùa được phục dựng lại trên nền cũ.
Chùa tựa lưng vào dãy núi đá tại phía tây, hướng về phía đông.
Ngôi chùa được thiết kế theo hình chữ “Công” (chữ H), trong đó nhà Tổ và nhà Khách bố trí theo hình chữ “Nhị”.
Khu chính điện bao gồm Tiền đường xây theo kiểu ba gian hai chái, tám mái đao cong và tường hồi bít đốc. Tiền đường nối liền với Thượng điện qua một nhà ống muống, tiếp tục giữ nguyên bố cục chữ Công cổ điển. Thượng điện đặc biệt nổi bật với thiết kế giả ba tầng, mười hai mái đao cong. Hệ thống tượng trong Chùa khá phong phú. Ngoài tượng Phật tại chính điện, tại Tiền đường còn bài trí tượng Đức Ông và Thánh Tăng, tại nhà Tổ là tượng Bồ Đề Đạt Ma và các vị tổ đã từng trụ trì tại chùa.
Một điểm đặc biệt tại Chùa Nhẫm Dương chính là hệ thống gần 30 hang động lớn nhỏ bao quanh. Trong đó, đáng chú ý nhất là:
Hang Thánh Hóa: Nằm sau chùa, là nơi sư Tổ Thủy Nguyệt viên tịch. Đây là di tích khảo cổ quan trọng, nơi phát hiện nhiều di cốt hóa thạch, tượng Phật bằng đá và hiện vật từ thời đồ đá đến nhà Nguyễn.
Hang Tối: Nằm ở sườn núi phía Tây Bắc, là nơi tìm thấy nhiều hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn, văn hóa từ thời Hán đến Nguyễn.

Sơ đồ phạm vi Di sản Chùa Nhẫm Dương, Nhị Chiểu, Hải Phòng

Tổng mặt bằng Chùa Nhẫm Dương, Nhị Chiểu, Hải Phòng

Phối cảnh tổng thể Chùa Nhẫm Dương, Nhị Chiểu, Hải Phòng

Chính điện Chùa Nhẫm Dương, Nhị Chiểu, Hải Phòng

Ban thờ trong Chính điện Chùa Nhẫm Dương, Nhị Chiểu, Hải Phòng

Hang Thanh Hoa, Chùa Nhẫm Dương, Nhị Chiểu, Hải Phòng
11. Động Kính Chủ
Động Kính Chủ (King Chu Cavern) nằm tại phía nam Khu vực Di sản, phía tây Chùa Nhẫm Dương (N21 1 54.1; E106 30 33.4).
Diện tích Di sản 56,134 ha; Diện tích vùng đệm 25,271 ha.
Động Kính Chủ hay động Dương Nham là hang động nằm ở vùng đất làng Dương Nham, phường Phạm Sư Mạnh, TP. Hải Phòng.
Chùa và Động Kính Chủ nằm tựa mình ở triền dãy núi đá vôi Dương Nham, gồm nhiều ngọn núi nối liền với nhau. Chân núi là dòng sông Kinh Thày.
Chùa Kính chủ nằm dưới chân núi. Chùa thờ Phật, thiền sư Minh Không (Nguyễn Minh Không/ Lý Quốc Sư, năm 1065- 1141; vị cao tăng đứng đầu tổ chức Phật giáo của triều đại nhà Lý, nước Đại Việt; vua Lý Thần Tông, hoàng đế thứ năm triều đại nhà Lý, trị vì năm 1128- 1138); Huyền Quang (Lý Tái Đạo, năm 1254-1334, nhà lãnh đạo Phật giáo Đại thừa ở Đại Việt thời Trần, tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử.
Các tượng trong chùa đều được tạc bằng đá.
Cửa chùa về phía trái có khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông (Hoàng đế Đại Việt, trị vì 1460 -1497) đề vịnh khi ngài tới vãn cảnh chùa và ban tặng nơi đây là Nam thiên đệ lục động.
Gần chùa có núi Yên Phụ, thờ đức An Sinh Vương Trần Liễu là thân phụ của Hưng Đạo Đại Vương.
Động Kính Chủ nằm trong hang động thuộc dãy núi Dương Nham. Động được xếp vào hàng Nam thiên đệ lục động (tức là hang động đẹp thứ sáu của trời Nam).
Động Kính Chủ Hải Dương lưu giữ 47 tấm văn bia khắc trực tiếp lên vách đá (bia Ma Nhai). Trong đó, tấm bia ngoài cùng bên trái – có niên đại từ thời nhà Mạc, khổ lớn (cao 2,2m, rộng 1,7m) và chứa tới 1.300 chữ.
Năm 2017, toàn bộ hệ thống bia tại đây đã được vinh danh là Bảo vật quốc gia.

Phạm vi Di sản Động Kính Chủ, Phạm Sư Mạnh, Hải Phòng

Phối cảnh Động Kính Chủ, Phạm Sư Mạnh, Hải Phòng

Cổng vào Động Kính Chủ, Phạm Sư Mạnh, Hải Phòng

Bên trong Động Kính Chủ, Phạm Sư Mạnh, Hải Phòng

Một số tấm bia chạm khắc trên đá bên trong Động Kính Chủ, Phạm Sư Mạnh, Hải Phòng
12. Bãi cọc Yên Giang
Bãi cọc Yên Giang (Yen Giang Stake-yard) nằm tại phía đông nam Khu vực Di sản (N20 56 10.2; E106 47 1.67).
Diện tích Di sản 16,08 ha; Diện tích vùng đệm 9,48 ha.
Trận địa bãi cọc là một trong những phương pháp phòng thủ cổ điển nhưng vô cùng hiệu quả trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của Việt Nam.
Bãi cọc thường được làm từ cọc gỗ nhọn, cắm sâu xuống đất hoặc dưới mặt nước, nhằm ngăn chặn đường rút lui hoặc làm chậm bước tiến của quân địch, đặc biệt là khi chúng sử dụng tàu thuyền đi qua khu vực sông có biên độ thủy triều lớn. Những trận địa này không chỉ là biểu tượng của trí tuệ chiến thuật mà còn thể hiện sự kiên cường và sáng tạo của người Việt Nam trong việc tận dụng mọi điều kiện tự nhiên và tài nguyên sẵn có để bảo vệ quốc gia.
Sông Bạch Đằng ngày nay dài hơn 20 km, bắt đầu từ Phà Rừng giữa Hải Phòng và Quảng Ninh, nơi giao nhau của sông Giá, sông Chanh và sông Đá Bạc, kéo dài đến cửa biển Nam Triệu. Sông có sự chênh lệch cao độ mực nước khi thủy triều dâng lên và hạ xuống là khoảng 4m. Nhờ các đặc điểm đó, khi triều lên, nước có khả năng che lấp hết toàn bộ bãi cọc, khi nước rút, các cọc nhọn nhô lên đến 2m, gây cản trở tàu thuyền của địch tháo chạy ra biển và người Việt có cơ hội phản công.
Hiện nay có ít nhất 5 cụm/bãi cọc đã được phát hiện:
3 bãi cọc thuộc tỉnh Quảng Ninh, gồm: Bãi cọc đầm Nhử, Yên Giang (phát hiện từ năm 1953 đến năm 1958); Bãi cọc đồng Vạn Muối (phát hiện năm 2005) và Bãi cọc đồng Má Ngựa (phát hiện năm 2009).
2 bãi cọc thuộc TP. Hải Phòng, gồm: Bãi cọc Cao Quỳ (phát hiện năm 2019) và Bãi cọc Đầm Thượng (phát hiện năm 2019).

Lược đồ trận địa và các bãi cọc trong chiến thắng quân Nguyên Mông của Quân đội Đại Việt năm 1288 trên sông Bạch Đằng (Bãi cọc được biết đến trước năm 2010).
Bãi cọc đầm Nhử, Yên Giang nằm trong một đầm nước giáp đê sông Chanh, gần ngã ba với sông Đá Bạch có tên là đầm Nhử nên đôi khi bãi cọc cũng được gọi là "bãi cọc đầm Nhử", nằm ở phường Yên Giang, Quảng Yên, Quảng Ninh. Hiện nay đã có khoảng 300 cọc đã được tìm thấy tại đây.
Khoảng năm 1953–1954, bãi cọc này dần được biết đến khi người dân địa phương ở xã Yên Giang phát hiện vài cọc gỗ lộ ra trên mặt đất ở một đầm nước nhỏ, cách ngã ba sông Chanh với sông Bạch Đằng khoảng 400 mét về phía đông.
Sau đó Bãi cọc tiếp tục được tiến hành nhiều cuộc khảo sát và khai quật vào các năm 1969, 1976, 1984 và 1988. Các cuộc nghiên cứu cho thấy những cọc ở đây đa phần được làm từ gỗ lim, thân dài từ 2,6 đến 2,8m và có đường kính khoảng 20 đến 30cm. Phần đầu cọc được đẽo nhọn để cắm xuống đáy sông dài từ 0,5 đến 1m. Khoảng cách trung bình giữa các cọc khoảng 1m.

Phạm vi Di sản Bãi cọc Yên Giang, Quảng Yên, Quảng Ninh

Sơ đồ vị trí Bãi cọc Yên Giang, Quảng Yên, Quảng Ninh

Khu vực khai quật Bãi cọc Yên Giang, Quảng Yên, Quảng Ninh
Di sản Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc tại Việt Nam là nơi hình thành, ra đời và phát triển của Trung tâm Phật giáo Thiền Tông, do người Việt trực tiếp sáng lập ra. Đây là nơi hội tụ của các công trình kiến trúc cổ kính do các Tăng, Ni, Phật tử và triều đình phong kiến của các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn kế tiếp nhau xây dựng, tu bổ và tôn tạo. Những công trình này đã phản ánh khá rõ nét sự phát triển của kiến trúc, mỹ thuật, điêu khắc, tiêu biểu cho tài năng sáng tạo nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Đây là một quần thể di tích rất lớn và ra đời sớm ở Việt Nam.
Đặng Tú, Bộ môn KTCN, ĐHXD
Nguồn
https://whc.unesco.org/en/list/1732/
https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A7n_th%E1%BB%83_di_t%C3%ADch_v%C3%A0_danh_th%E1%BA%AFng_
Y%C3%AAn_T%E1%BB%AD_%E2%80%93_V%C4%A9nh_Nghi%C3%AAm_%E2%80%93_C%C3%B4n_S%C6%A1n,
_Ki%E1%BA%BFp_B%E1%BA%A1c
https://truclamyentu.com.vn
https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_di_t%C3%ADch_nh%C3%A0_Tr%E1%BA%A7n_t%E1%BA%A1i_
%C4%90%C3%B4ng_Tri%E1%BB%81u
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81n_Th%C3%A1i
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81n_Ki%E1%BA%BFp_B%E1%BA%A1c
https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BB%81n_vi%E1%BB%87n_Tr%C3%BAc_L%C3%A2m_Y%C3%AAn_T%E1%BB%AD
https://vi.wikipedia.org/wiki/Khu_di_t%C3%ADch_l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_v%C3%A0_danh_th%E1%BA%AFng
_Y%C3%AAn_T%E1%BB%AD
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_V%C4%A9nh_Nghi%C3%AAm_(B%E1%BA%AFc_Ninh)
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5505&Itemid=153
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_Thanh_Mai
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_B%E1%BB%95_%C4%90%C3%A0
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5548&Itemid=153
https://www.phattuvietnam.net/chua-nham-duong-di-san-lich-su-tam-linh-va-khao-co-giua-long-nui-da-hai-duong/
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%99ng_K%C3%ADnh_Ch%E1%BB%A7
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1c_tr%E1%BA%ADn_%C4%91%E1%BB%8Ba_b%C3%A3i_c%E1%BB%8Dc_trong
_l%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Vi%E1%BB%87t_Nam
Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Á và châu Đại Dương
Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Âu
Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Mỹ
Danh sách và bài viết về Di sản thế giới tại châu Phi
|