Tuần 7 - Ngày 25/09/2016
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Hỏi:

cho e hỏi  e đang làm đồ án kiến trúc.  
nhà e thiết kế 40m2 mật độ xây dựng là 100% vậy e có thể thiết kế ban công nhô ra 1 chút đc k ạ 


Trả lời:  Bmktcn.com đã nhận được thư của em.
Theo Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, phần nhà được phép nhô quá chỉ giới đường đỏ trong trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ, gắn với điều kiện: 
- Độ cao so với mặt hè lớn hơn và bằng 3,5m;
- Ban công có thể đua ra tối đa: 0m với lộ giới rộng dưới 7m; 0,9m với lộ giới 7-12m; 1,2m với lộ giới 12-15m; 
- Độ vươn ra phải nhỏ hơn chiều rộng của vỉa hè ít nhất là 1m; 
- Trên phần nhô ra chỉ được làm ban công, không được che chắn tạo thành logia hay buồng; 
- Vị trí độ cao và độ vươn ra cụ thể phải phù hợp với cảnh quan chung.

Ngày 15/8/2016, Bmktcn.com


Hỏi:  Thầy cô cho e hỏi: 
Đồ án kiến trúc công nghiệp 1 e co làm và nộp bài sao trên trang đào tạo e lai ko co điểm ah ? 
Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.  
Em cần trình bày rõ: Không có điểm hay là điểm 0; em học tại lớp nào; giảng viên phụ trách và cần phải liên hệ ngay với giảng viên để hỏi rõ lý do tại sao. Có thể do vào điểm nhầm, vào điểm thiếu.... 
Sau đó phải làm ngay đơn xin phúc tra gửi Phòng Đào tạo. 

Ngày 19/7/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN. TS. Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:  Em chào thầy cô trong Bộ môn.

Em là sinh viên k57 chuẩn bị bước sang năm cuối. Lớp em vừa nhận được điểm đồ án công nghiệp 2 trong đó có em và nhiều bạn khác bị trượt .Em muốn hỏi thầy cô có thể mở lớp nguyện vọng học lại trong kì 1 năm học mới này để tạo điều kiện cho bọn em trả nợ và làm đồ án tốt nghiệp đúng hạn được không ạ. Mong muốn thầy cô giúp đỡ bọn em .

Em xin cảm ơn thầy cô !


Trả lời:  Bộ môn Kiến trúc Công nghiệp đã nhận được thư của em.

Theo quy định, Bộ môn KTCN (hay bất kỳ một Bộ môn nào khác trong trường) không được phép mở lớp nguyện vọng để sinh viên trả nợ học phần. Bộ môn giảng dạy và thi kết thúc học phần theo phân công giảng dạy của nhà trường. Vậy em phải trực tiếp lên phòng Đào tạo để hỏi thông tin về các lớp học lại trong năm học mới 2016-2017.

Chúc em học tập tốt!

Ngày 28/6/2016, Bộ môn Kiến trúc Công nghiệp
Hỏi: Em chào thầy ạ. Em là sinh viên năm cuối, e đang trong thời kỳ làm đồ án tốt nghiệp, đề tài về xây dựng nhà máy xử lý rác thải thành phân vi sinh compost. Em viết mail này xin thầy một vài tài liệu về quy trình sản xuất,dây chuyền công nghệ sản xuất  phân vi sinh compost. Em xin cám ơn thầy.


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện tại, trên trang WEB bmktcn.com có 3 dự án về nhà máy xử lý rác thải (Tại mục: Doanh nghiệp- Dự án/ Dự án công trình đầu mối HTKT): 
- Nhà máy xử lý rác thải thị xã Sông Công, Thái Nguyên 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5814&Itemid=228  
- Nhà máy phân loại, tái chế và xử lý chất thải Thuận Thành, Bắc Ninh  
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5169&Itemid=228 
- Nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt Sóc Sơn, Hà Nội  
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=4012&Itemid=228 
Em tìm thêm các tài liệu về dự án có liên quan khác, đặc biệt là từ các nước có công nghệ xử lý rác thải tiên tiến.
Ngày 22/2/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN: TS. Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Em chào các thầy cô trong bộ môn ạ. Em là sinh viên lớp 59KT5.
Em muốn tìm đề cương ôn tập môn Kiến Trúc 1, nhưng em lên trang web của bộ môn tìm mà không thấy, thầy cô có thể cho em xin đề cương môn học được không ạ. Em cảm ơn thầy cô ạ.


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Đề cương ôn tập môn học Kiến trúc 1 theo quy định đã đăng trên WEB bmktcn.com: (Mục thông tin định kỳ, bên trái màn hình giao diện): http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=274&Itemid=85 
Ngày 22/2/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN: TS. Phạm Đình Tuyển
Hỏi:

Em chào thầy ạ! E là học sinh lớp 56kd3! E đang trong thời kỳ làm báo cáo thực tập! Em muốn lựa chọn đề tài nhà quy hoạch khu nhà ở công nhân cho khu công nghiệp để làm đề tài tốt nghiệp, cũng như bổ sung vào bẩn báo cáo thực tập của mình, nhưng e tìm mãi mà không có  có tài liệu của 1 dự án cụ thể nào để phát triển thành nhiệm vụ thiết kế cho đề tài của mình. Vậy thầy cũng như bộ môn có thể cho em tài liệu về 1 dự án nhà ở công nhân nào để em phát triển thành đề tài đồ án tốt nghiệp được không ạ! E xin cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Em có thể tham khảo các tài liệu về dự án nhà ở công nhân tại web: http://nhaoxahoivietnam.vn (do Bộ môn KTCN lập)

Chúc em đạt kết quả tốt học phần đồ án tốt nghiệp

Bộ môn KTCN


Hỏi: Em chào thầy cô trong bộ môn 
Em muốn tìm tài liệu slide về môn" KTCN và CT đầu mối hạ tầng KT"  trên trang wed bộ môn nhưng ko thấy , thầy cô có thể chỉ cho em cách tìm và dowload nội dung giáo trình dc ko ạ , em xin cám ơn

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Các tài liệu về nội dung giáo trình liên quan đến Nguyên lý thiết kế Kiến trúc công nghiệp và Công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật có thể tìm thấy tại mục: Học liệu mở tại WEB bmktcn.com.
http://bmktcn.com/ocw.php
Ngày 18/11/2015 Bộ môn KTCN

Hỏi:  Em có câu hỏi về Xây Dựng Công Nghiệp mong thầy trả lời giúp em. Em cảm ơn
Ảnh hưởng thiết kế nhà công nghiệp đến tổ chức các điều kiện làm việc


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Tổ chức điều kiện làm việc trong XNCN có nội dung liên quan đến 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến thiết kế kiến trúc XNCN và công trình công nghiệp: Nhóm nhân tố về khoa học lao động; Nhóm nhân tố về công nghệ sản xuất; Nhóm các nhân tố về kinh tế XNCN và Nhóm nhân tố về kiến trúc- xây dựng. 
Nội dung có tính nguyên lý của vấn đề này em có thể đọc trong Học liệu mở, tại WEB bmktcn.com : http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Đương nhiên, giải pháp thiết kế nhà công nghiệp hiệu quả sẽ góp phần tác động tích cực đến điều kiện làm việc của người lao động, tăng năng suất lao động, tạo lập môi trường làm việc an toàn và văn hóa doanh nghiệp...

Ngày 10/11/2015. Bộ môn KTCN


Hỏi:  Em chào Thầy. Em là sinh viên nhóm đồ án tổng hợp do Bộ môn KTCN hướng dẫn.

Đồ án này em lựa chọn đề tài ' Xây khu nhà ở cho công nhân'  nhưng chưa biết lựa chọn khu đất thế nào cho hợp lý. Thầy cho em hỏi:

-Khu đất xây dựng nên nằm ngoài hay nằm trong khu công nghiệp ạ. 

-Nếu nằm trong KCN thì chọn khu đất là các lô đất XNCN quy hoạch trong KCN đúng không ạ

-Nhiệm vụ có nói khu đất =40-60ha, nhưng như thế thì khu đất rất to so với hầu hết KCN. Có phải đất xây dựng khu nhà ở công nhân = 15-16% diện tích toàn KCN đúng ko ạ. (có tài liệu có phân tích như vậy).

-Khu đất lựa chọn có thể cách xa khu hành chính KCN được không vì em muốn chọn khu đất nằm hướng gió mát mà nhiều KCN khu hành chính lại nằm phái bên kia hướng gió mát.


Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Các vấn đề em nêu, Bộ môn KTCN trả lời như sau:

- Khu đất xây dựng nhà ở cho công nhân phải nằm ngoài KCN (Theo quy định, khu công nghiệp tập trung là khu vực không có dân cư sinh sống...). Trong trường hợp thực hiện học phần đồ án, nếu sử dụng bản vẽ nền của một dự án KCN, có thể lấy một phần của khu đất để xây dựng nhà ở cho công nhân. Song phải vẽ lại ranh giới KCN và quy hoạch lại, để khu nhà ỏ cho công nhân nằm ngoài KCN và có khoảng cách cách hàng rào KCN tối thiêu 50m.

- Việc tính toán nhu cầu đất xây dựng nhà ở công nhân có thể tính sơ bộ theo một số giả định sau:

. Số lượng công nhân làm việc trong KCN với chỉ tiêu 100 lao động/ha. Ví dụ KCN 100 ha, tỷ lệ chiếm đất của XNCN khoảng 60%, đất XNCN là 60ha, số lao động làm việc trong KCN khoảng 6000 người.

. Giả đình vế số công nhân có nhu cầu về nhà ở, ví dụ là 30%, số còn lại sống trong các khu dân cư khác. Trong trường hợp này, số người trong khu nhà ở cho công nhân là 6000 người x0,3= 1800 người.

. Giả định về tỷ lệ số người sống trong khu nhà ở công nhân dạng ở tập thể (1 lao động CN = 1 người ở) và có gia đình (1 lao động công nghiệp và 2- 3 người kèm theo).  Đây cũng là tỷ lệ để đưa ra giải pháp xây dựng nhà ở công nhân dạng chung cư hay nhà ở tập thể.

.  Trong phạm vi đồ án, sinh viên nên chọn khu nhà ở công nhân có quy mô khoảng 3000-5000 người ( tiêu chuẩn đất ở khoảng 50-60m2/người với nhu cầu khung về hạ tầng xã hội: nhà trẻ, chợ, trạm xá...) Cần chú ý bổ sung thêm tuyến phố, khu vực dịch vụ để công nhân và gia đình của họ có cơ hội tạo thêm việc làm, tăng thu nhập.

- Bố trí khu nhà ở công nhân không có liên quan trực tiếp đến bố trí khu hành chính của KCN mà trước hết gắn liền với khu dân cư lân cận, để tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau.

Chú ý:

- Nhà ở cho công nhân phải thiết kế phù hợp với khả năng chỉ trả của người lao động (với mức lương bình quân khoảng 4-5 triệu đồng/tháng, tiền chi trả cho nhà ở chiếm 30%). Chung cư nên xây dựng cao đến 6 tầng (không sử dụng thang máy) để giảm giá thành xây dựng và giảm giá thuê và thuê mua. Khuyến khích dạng nhà ở cho người dân tự tổ chức xây dựng theo quy hoạch.

- Tài liệu tham khảo xem thêm trên WEB: nhaoxahoivietnam.vn

 

Ngày 26/8/2015, TS. Phạm Đình Tuyển, Chủ nhiệm Bộ môn KTCN 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Văn bản quy định của Bộ môn KTCN về thực hiện học phần đồ án KTCN
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Các mẫu văn bản về đào tạo và KHCN có liên quan tại ĐHXD
+ Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert
+ Danh sách cán bộ Bộ môn KTCN, ĐHXD
+ Cuốn sách nên đọc : “Quốc gia khởi nghiệp – Câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel”
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình Đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2015-2016
+ Chương trình đào tạo Kiến trúc sư công trình
+ Chương trình đào tạo kiến trúc sư quy hoạch
+ Chương trình khung đào tạo thạc sỹ Kiến trúc - Quy hoạch, ĐHXD
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung Giáo dục Đại học hệ vừa học vừa làm
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Ban hành Điều lệ trường đại học
+ Thông tư 07/2015/TT-BGDĐT quy định về năng lực phải đạt được khi tốt nghiệp ĐH, sau ĐH
+ Quyết định 10/2007/QĐ-TTg ban hành hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục các Tiêu chuẩn Xây dựng Việt Nam (đến năm 2013)
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
Chuyên mục PT nông thôn
BỨC TRANH KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
23/05/2008

Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị sản xuất và bảo đảm cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế. Nhưng trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển.

1 - Đổi mới vị trí, vai trò của kinh tế hộ

Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ).

Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển. Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31-1-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã. Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Ngoài ra, đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 3-2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước đối với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ. Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản. Động lực mới cho sự phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn đã xuất hiện.

2 - Những kết quả tích cực bước đầu

Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân. Và mặc dầu phong trào hợp tác xã không còn phát huy tính tích cực như xưa, nhưng diện mạo của kinh tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao sản lượng nông nghiệp, mở mang ngành nghề mới, nâng cao thu nhập. Theo số liệu điều tra, trên 74,5% số hộ đã có từ 2 - 4 loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập(1).

Một động thái tích cực rất đáng được lưu ý của kinh tế hộ nông dân là sự xuất hiện ngày càng nhiều các hộ bứt phá khỏi tình trạng tự cung, tự cấp vươn lên sản xuất hàng hóa, trong đó phương thức trang trại gia đình phát triển mạnh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.

Cơ cấu hộ nông dân theo ngành nghề đang chuyển dịch theo hướng tăng dần số lượng và tỷ trọng nhóm các hộ tham gia sản xuất phi nông nghiệp, như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; số hộ làm nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 80,9% năm 2001 xuống còn 70,9% năm 2006. Các nghiên cứu đều cho thấy, giai đoạn 2001 - 2006 tốc độ chuyển dịch ấy đã diễn ra nhanh hơn trước. Nếu thời gian này GDP nông nghiệp đóng góp 20,23% vào cơ cấu kinh tế, nhưng là nền tảng của sự ổn định chính trị - xã hội vì chúng ta có tới trên 70% dân số sống tại nông thôn, thì trong số đó, đã có tới 40% dân số nông thôn có nguồn thu từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Đây là một động thái tích cực.

Trong bản thân lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, số hộ sản xuất thuần túy nông nghiệp giảm dần, trong lúc số hộ tham gia sản xuất lâm nghiệp, thủy sản tăng lên. Tuy vậy, tính đến năm 2006, số lượng và tỷ trọng các hộ trong lĩnh vực thủy sản (chiếm 6,2%), lâm nghiệp (chiếm 0,3%) vẫn bị đánh giá là còn quá thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thực tế.

Trong bản thân kinh tế hộ trang trại cũng có sự phát triển về chất, xuất hiện nhiều nhu cầu đầu tư vốn lớn, thuê đất canh tác và lao động thường xuyên hoặc theo thời vụ, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây, con theo hướng đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thị trường. Chẳng hạn, trang trại chăn nuôi tăng rất nhanh, bên cạnh số trang trại sản xuất cây hàng năm và cây lâu năm cũng có sự phát triển về số lượng và chất lượng. Lượng hàng hóa nông sản của các trang trại đang ngày càng có vị trí trên thương trường. Một số các trang trại lớn đã bắt đầu phát triển thương hiệu, mở rộng các quan hệ làm ăn với các công ty lớn trong chế biến, thu mua và xuất khẩu.

Khi nhắc tới những thành tựu chung của kinh tế đất nước như giữ được vị thứ thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo (tính đến năm 2007), đứng đầu về xuất khẩu cà phê rô-bu-sta và hạt tiêu, một trong 10 nước hàng đầu về thủy sản..., thì phải nói, kinh tế hộ nông nghiệp trong nông thôn đã đóng vai trò chính trong việc tạo ra lượng hàng hóa lớn để phục vụ xuất khẩu. Trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, đã có 5 mặt hàng đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD. Đó là thủy sản (3,8 tỉ USD), gỗ (2,4 tỉ USD), cà phê (1,86 tỉ USD), gạo (1,46 tỉ USD), cao su (1,4 tỉ USD).

3 - Khó khăn và thách thức trong thời gian tới

- Khó khăn và thách thức lớn đối với nông dân nước ta nói chung và kinh tế hộ nói riêng trong tiến trình hội nhập ngày một sâu vào kinh tế thế giới là chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Đây là một trong số các nguyên nhân chính đang làm tăng thêm khoảng cách cả thu nhập lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn và thành thị... Thêm vào đó, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn tuy đã giảm mạnh, tới hơn một nửa trong khoảng thời gian 10 năm, năm 1993 - 2004, từ 66,4% xuống còn 25%. Hai năm gần đây, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007, vượt kế hoạch đề ra (16%). Nhưng trong nông thôn, cá biệt một số tỉnh miền núi, tại những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, số hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ trọng cao: ở Lai Châu hiện nay là 55,32%; Điện Biên 40,77%; Hà Giang 39,44% và Bắc Kạn 37,8%. Dù khu vực nông thôn chiếm tới 90% số hộ thuộc diện nghèo của cả nước, nhưng tốc độ giảm nghèo ở nông thôn vẫn chậm hơn thành thị tới 20%. Tính bền vững trong các trường hợp thoát đói nghèo trong nông nghiệp, nông thôn không chắc chắn, do thiên tai, dịch bệnh, ốm đau... Điểm xuất phát thấp, tốc độ phát triển chậm, rủi ro lớn, thì khoảng cách khó có thể rút ngắn nếu không có những giải pháp mang tính đột phá.

Nếu chia toàn bộ dân số ra 5 nhóm bằng nhau về số người và theo các mức thu nhập từ thấp đến cao để so sánh chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất với nhóm 20% dân số có mức thu nhập thấp nhất, thì nếu năm 1994, chênh lệch giữa nhóm giàu và nghèo là 6,50 lần, đến năm 2006 đã tăng lên 8,34 lần. Nhưng nếu nhóm dân số càng nhỏ lại, 10%, hay 5%, thì sự chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo lại càng tăng lên đáng kinh ngạc. Theo một cách suy luận khác, chênh lệch giàu nghèo là rất lớn khi đang tồn tại nghịch lý ở Việt Nam, rằng thu nhập GDP đầu người còn rất thấp, nhưng giá nhà, đất lại cao, ngang với cả những nước có thu nhập GDP cao gấp hàng chục lần.

Người nông dân bị thu hồi đất cho công nghiệp hóa, hay đô thị hóa cũng rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp. Phần đông nông dân có tiền (tiền đền bù do bị thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào cho hiệu quả để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh làm cho nó sinh sôi nảy nở.

- Hộ nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối khắc nghiệt của quy luật thị trường. Cơ hội kiếm tiền đến với người có vốn, có điều kiện về thông tin, và kể cả điểm xuất phát cao, sẽ nhiều hơn rất đáng kể so với các đối tượng khác, nhất là người nghèo. Về nguyên lý, thị trường dường như mang lại cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng không phải mọi người đều có đủ khả năng như nhau để tận dụng cơ hội đó. Người nắm thông tin, người nhiều vốn, người lanh lợi và phải có chút "tinh quái" mới tận dụng cơ hội tốt hơn và do đó giàu lên nhanh hơn. Không ít người lợi dụng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước những năm gần đây nắm giữ nhiều cổ phiếu; hay những người biết trước thông tin về quy hoạch nên đầu cơ được những khu đất đắc địa..., từ đó càng có điều kiện thu vén những nguồn lợi từ các cơ hội tốt, lại càng có điều kiện tích lũy làm giàu - giàu sẽ dễ giàu thêm hơn, nghèo thì thua thiệt và dễ nghèo đi.

Nhiều hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt trước "vòng xoáy" của các quy luật thị trường, nhất là ở những nơi hợp tác xã không còn tồn tại, chính quyền cơ sở lại yếu kém, thì không biết dựa vào đâu? Bởi vậy, sự nghiệt ngã của tình cảnh "nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu nhanh hơn" đang là tác nhân chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị. Đây là nguyên nhân chính của hiện tượng số người tự do di cư ra thành thị kiếm việc làm đang tăng lên. Họ luôn trong tâm lý lo sợ rủi ro, bởi vậy, tư duy "ăn chắc, mặc bền" vẫn là phổ biến, có đồng nào đổ vào "xây nhà xây cửa" chắp vá, cơi nới một cách manh mún và rất tốn kém.

- Vốn tích lũy của các hộ gia đình cũng có sự phân biệt khá rõ giữa các loại hình sản xuất. Theo số liệu của tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 2006 của Tổng cục Thống kê, tính đến giữa năm 2006 vốn tích lũy bình quân một hộ nông thôn là 6,7 triệu đồng, tăng gấp 2,1 lần so với thời điểm tháng 10 năm 2001. Nhưng vốn tích lũy của các hộ sản xuất phi nông nghiệp vẫn vượt lên cao hơn các hộ thuần nông. Hộ vận tải tích lũy bình quân là 14,9 triệu đồng, hộ thương nghiệp là 12,1 triệu đồng, hộ thủy sản là 11,3 triệu đồng, trong khi đó hộ nông nghiệp thuần chỉ tích lũy dưới 4,8 triệu đồng. Lý do chính của việc tiết kiệm tiền trong phần đông các hộ gia đình nông thôn(2) không phải là để tích lũy mở rộng sản xuất, mà 82% số người được hỏi trả lời là để chi trả khám và chữa bệnh khi cần thiết và 70% trả lời là để đề phòng các nhu cầu chi tiêu đột xuất khác, chỉ 6% mong đợi lợi nhuận hay lãi suất.

- Trong kinh tế thị trường, việc tìm ra cây gì, con gì để cho sản xuất hàng hóa lớn đã khó, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy năm gần đây cũng đang khó khăn không kém. Đã thế, thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân, giá lên cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giá thấp với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung cấp tin cậy và ổn định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương án tối ưu.

- Khó khăn trong khâu sơ chế và chế biến sau thu hoạch cũng là một cản trở lớn đối với kinh tế hộ nông dân. Phần lớn các hộ nông dân đều thiếu kỹ thuật và khả năng sơ chế nông sản sau thu hoạch, thiếu thông tin thị trường, chi phí giao dịch cao... Nên phần lớn nông sản chưa nâng được thêm giá trị kinh tế đáng kể trong các khâu tiếp theo của quy trình sản xuất đến tay người tiêu dùng, kể cả mẫu mã, tiếp thị và tiêu thụ, xuất khẩu.

- Nhiều hộ nông dân đang rất cần đến những sự trợ giúp có tính chất cộng đồng, hiệp hội ngành hàng hay hợp tác trong các khâu, nhất là đầu vào và đầu ra của sản xuất, nhưng các hợp tác xã (HTX) hiện nay trong nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ, do chưa hoạt động thật hiệu quả và thiết thực. Theo số liệu điều tra của Trung tâm Phát triển nông thôn (RUDEC) năm 2007, thì HTX chỉ đáp ứng 6,9% nhu cầu phân bón và 13,8% nhu cầu giống, trong khi đó các đại lý tư nhân cung cấp tới 59,2% phân bón và 43,1% giống (xem bảng).

Bảng: Nguồn cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp của các hộ (% hộ điều tra)

Loại vật tư

Nguồn cung cấp

HTX

Công ty

Đại lý tư nhân

Tự cung cấp

Giống cây trồng

13,8

7,5

43,1

5,7

Phân bón

6,9

6,9

59,2

2,3

Thuốc BVTV, diệt cỏ

5,7

6,9

55,7

0

Thức ăn chăn nuôi, kể cả thủy sản

0

2,3

20,1

6,3

Giống con, vật nuôi

0

2,9

20,7

5,7

Thuốc thú y

4,0

1,1

17,8

0,6

Các loại đầu vào sản xuất khác

0,6

0

20,1

0

Thực trạng chung của các HTX là, mức vốn hoạt động còn nhỏ, đặc biệt là các HTX trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại. Tỷ lệ vốn cố định ở các HTX rất cao, từ trên 70% đến 95%. Tình trạng này làm cho HTX thường không đủ vốn lưu động để hoạt động, do đó cũng không phát huy được vốn cố định, trong khi vay ngân hàng thì gặp nhiều khó khăn về tài sản thế chấp. Ngược lại, trong lĩnh vực tín dụng thì tỷ trọng vốn cố định rất thấp (chưa đạt 5%), dẫn đến tình trạng chung ở các quỹ tín dụng là cơ sở làm việc rất nghèo nàn, không bảo đảm an toàn cho việc mở rộng hoạt động huy động và cho vay. Tỷ lệ HTX có quan hệ tín dụng với ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác chỉ bằng 11,3% số HTX được thống kê, điều đó cho thấy các HTX chưa phát triển các quan hệ tín dụng với ngân hàng để có thêm vốn phát triển các dịch vụ phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của xã viên.

- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với quá trình sản xuất nông nghiệp. Nhưng khó khăn lớn hiện nay là diện tích đất nông nghiệp đang mất vào các khu công nghiệp, khu đô thị và giao thông với tốc độ quá nhanh. Đất trồng lúa nước năm 2005 đã giảm trên 302 ngàn héc-ta so với năm 2000. Theo số liệu thống kê, trong 5 năm qua cả nước đã có khoảng 13% số hộ nông dân bị mất đất, mà lý do chính là bị thu hồi do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Trong khi đó, nhiều hộ khác tuy đã năng động chuyển đổi ngành nghề, nhưng vẫn không đủ "can đảm" (tính chắc chắn của nghề mới chưa bảo đảm cho các hộ chuyển nghề yên tâm) để nhượng ruộng cho người khác canh tác hay thuê người làm. Phần lớn là giữ đất hay có chăng cũng là cho con cháu làm để vừa đủ mức nộp thuế sử dụng đất. Bởi vậy, tốc độ tích tụ, hoặc dồn điền, đổi thửa diễn ra quá chậm so với nhu cầu phát triển sản xuất hàng hóa. Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí sử dụng đất diễn ra khá phổ biến. Tại Nam Định, có địa phương người nông dân muốn trả ruộng thì chính quyền xã không nhận, vì thời hạn giao đất vẫn còn hiệu lực, nếu nhận thì xã không thu được lệ phí. Trong khi đó người dân nơi khác đến canh tác thì khó khăn do chính sách cư trú... Tại huyện Từ Sơn, Bắc Ninh có 10.600 hộ nông dân mất đất, làm cho 21.000 lao động không có việc làm, nhưng diện tích thu hồi lại bỏ hoang, chờ dự án, hoặc chỉ sử dụng khoảng 30%...

Quan điểm chung của nhiều nhà hoạch định chính sách ở nước ta hiện nay là làm sao sớm "thoát" khỏi nông nghiệp. Đây là cách hiểu rất thiển cận, thiếu tính bền vững, đối với một nước phải bảo đảm có nguồn lương thực ổn định cho gần 90 triệu dân trong một vài năm tới như nước ta.

- Lề lối làm ăn còn nặng về sản xuất nhỏ, manh mún, chưa thích ứng với kinh tế thị trường. Chữ tín trong làm ăn là rất quan trọng, thế nhưng một số địa phương nông dân sẵn sàng "phá hợp đồng" để được lợi trước mắt do giá thị trường đột ngột lên cao so với hợp đồng, như trong hợp đồng bán hoa hồi cho đối tác Bắc Âu tại Lạng Sơn. Còn chuyện giá cả lên xuống thất thường là quy luật "cung - cầu" của thị trường. Đối với sản xuất nông nghiệp, tính chất mùa vụ và sự lệ thuộc vào đất đai, tiểu khí hậu rất chặt chẽ, nên khó có thể thành công nếu cứ chạy theo sự "lên - xuống" của thị trường. Thế mà, một số nông dân ở huyện Đông Triều, Quảng Ninh, khi giá vải xuống, thì chặt vải trồng cây sưa (cây lấy gỗ phải mất 50 năm mới cho thu hoạch, mà giá lúc đó chưa ai có thể nói rõ là sẽ như thế nào). ở một số địa phương phía Nam cũng vậy, thấy giá một số cây trồng khác đang "sốt", thì vội chặt cây điều đang kỳ cho thu hoạch... Trong khi đó, các ngành chức năng thiếu sự tuyên truyền, giải thích hữu hiệu để có định hướng sản xuất đúng và hơn nữa có quy hoạch cây, con một cách khoa học, ổn định lâu dài. Chẳng hạn, nhiều địa phương đã khá thành công trong việc tìm kiếm thị trường "cần những cái mình có", như chè Nghệ An vào thị trường Trung Đông, gạo, hạt tiêu, cà phê... xuất khẩu ra thế giới.

Hơn nữa, cũng phải tính toán đến cả tình huống mới, khi đang có nhiều cảnh báo trên thế giới(3) đã nói về một cuộc khủng hoảng mới về lương thực đang xuất hiện và sẽ trở nên nghiêm trọng hơn bất kỳ cuộc khủng hoảng lương thực trước đây thế giới từng chứng kiến. Theo ông Đô-nan Cốc (Donald Coxe), thách thức lớn nhất đối với thế giới không phải là 100 USD/thùng dầu, mà thế giới phải có đủ lương thực cho các tầng lớp trung lưu mới và vì vậy đòi hỏi phải tăng sản lượng lương thực. Chỉ riêng giá lúa mì đã tăng 92% trong năm 2007, và ngày 3-1-2008, giá đóng cửa giao dịch là 9,45 USD cho 8 ga-lông tại sàn buôn bán Chi-ca-gô. Theo nhiều dự báo, trong những tháng tới của năm 2008, giá lương thực vẫn tiếp tục tăng.

Những nước xuất khẩu lương thực trước đây như Nga và Ấn Độ hiện nay đang ngừng xuất khẩu lương thực. Khu vực Trung - Tây của nước Mỹ cung cấp 54% sản lượng ngô của thế giới, nhưng gần đây số lượng lương thực được tích trữ của Mỹ cho những vụ tiếp theo đã tụt xuống mức thấp kỷ lục. Do vậy, những nước dư thừa lương thực sẽ có một lợi thế lớn.

Nếu không đánh giá đúng lợi thế này, không khéo chúng ta đang đánh mất những lợi thế đã có để chạy theo những "lợi thế ảo" mà thế giới đang mạnh hơn ta rất nhiều lần(4). Trong khi đó, muốn làm cho nền nông nghiệp nước nhà phát triển và hội nhập thành công trên đà của những thành tựu đã đạt được trong hơn 20 năm đổi mới đã qua, không có cách nào khác là phải có thêm những chính sách có tính chất đột phá để tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển. Đất nước đang cần có nhiều hộ nông dân làm ăn mang tính chuyên nghiệp hơn, bởi vậy kinh tế hộ đang cần có sự hỗ trợ, hợp lực mang tính cộng đồng chặt chẽ hơn mới hy vọng có được sức mạnh trong cạnh tranh khốc liệt của thương trường trước xu thế hội nhập ngày một sâu hơn của nền kinh tế quốc dân.

(1) Bài có sử dụng số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2005
(2) Số liệu điều tra, sđd
(3) Ông Donald Coxe, nhà chiến lược hàng đầu của Tập đoàn Tài chính BMO đã phát biểu tại câu lạc bộ đầu tư ở thành phố Toronto, Canada
(4) Các xí nghiệp Trung Quốc hiện xuất khẩu 800 triệu chiếc sơ mi mới đổi lấy được một máy bay chở khách, xuất khẩu một đầu máy DVD chỉ thu được 1 USD lợi nhuận, mà còn phải nộp cho công ty nước ngoài hơn 4 USD tiền sở hữu bản quyền. Khai thác than ở Tân Phổ Thương (Trung Quốc), đã biến một thành phố hoa quả thành một thành phố ô nhiễm. Còn sản phẩm than thì bán giá rẻ cho Nhật Bản; người Nhật mua để dự trữ cho đời sau
Lê Xuân Đình (tapchicongsan.org.vn) 
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:

“Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân.”

 
Trên thế giới, ĐÀO TẠO KHỞI NGHIỆP đang trở thành chương trình học bắt buộc đối với bất kỳ trường ĐH xuất sắc nào. SV dù đang học nhưng đã nghĩ đến sau tốt nghiệp và cho rằng kỹ năng khởi nghiệp sẽ giúp ích cho sự nghiệp mà họ theo đuổi. Nội dung đào tạo: 1)Lối suy nghĩ như doanh nhân; 2)Cách thức lựa chọn đối tác; 3)Học cách “bán hàng”; 4)Phân biệt ý tưởng và cơ hội; 5)Xây dựng niềm đam mê; 6)Thử nghiệm trong môi trường mô phỏng; 7)Thất bại trong khởi nghiệp; 8)Kết bạn với các con số (dòng tiền); 9)Học cách giảm thiểu rủi ro… Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá về mức độ quan tâm đến đào tạo khởi nghiệp:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com