Tuần 8 - Ngày 01/10/2014

SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi: Em chào thầy cô giáo bộ môn,qua mục hỏi đáp trên trang web http://bmktcn.com  em được biết bộ môn có lưu trữ file cad các khu vực Hà Nội.Nay em đang chuẩn bị cho đề tài quy hoạch chi tiết công viên Việt Hưng,em muốn xin bản cad khu vực công viên Việt Hưng (KDTM Việt Hưng)-huyện Gia Lâm-Hà Nội.Vậy em mong quý thầy cô giáo giúp đỡ để em hoàn thành tốt đề tài của mình.Em xin trân thành cảm ơn
Trả lời:
Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em
Gửi em bản vẽ cad vị trí, quy mô khu đất cây xanh công viên tại Khu đô thị mới Việt Hưng, quận Long Biên, Hà Nội (bản đồ quy hoạch sử dụng đất tỷ lệ 1/2000), là cơ sở cho việc nghiên cứu, thực hiện học phần đồ án quy hoạch công viên tại khu đô thị Việt Hưng.
Ngày 30/9/2014. Bộ môn KTCN
 

Hỏi:
e chào các thầy ( Cô) ạ
hiện e đang làm đồ án kiến trúc 2 về nhà công nghiệp
e rất băn khoăn trong cách thể hiện tường, trục ... như thế nào cho đúng. thầy có thể cho e xin ít tài liệu về cách vẽ và các quy chuẩn của tuong va một số chi tiết trong bản vẽ đc k ạ
e cảm ơn thầy ạ

Trả lời:
Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Những vấn đề em hỏi đã được giảng dạy trong Học phần lý thuyết thiết kế kiến trúc công nghiệp (Học phần 1- Nguyên lý thiết kế kiến trúc nhà công nghiệp).
Em có thể đọc tài liệu này tại Học liệu mở tại WEB bmktcn.com
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=20
Em có thể xem thêm cách vẽ trong các bản vẽ thiết kế cấu tạo kiến trúc nhà công nghiệp (bản vẽ thiết kế thực tế) tại mục Doanh nghiệp - Dự án
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=blogcategory&id=172&Itemid=303
Ngày 27/9/2014 Bộ môn KTCN

Hỏi:

Kính gửi Thầy Chủ nhiệm Bộ môn Kiến trúc Công nghiệp trường Đại Học Xây Dựng

Em tên là Cao Hoàng Anh là cựu sinh viên Khóa 52 Khoa kiến trúc quy hoạch Đại Học Xây Dựng,hiện là học viên cao học tại trường Đại học Kiến Trúc TP Hồ Chí Minh. 
Em có hai việc muốn được xin ý kiến của Thầy.
Việc thứ nhất : Em đang chuẩn bị làm Đề tài luận văn Cao học về "Mô hình Nhà ở giá rẻ nhỏ cho người thu nhập thấp tại TP Hồ Chí Minh theo hướng sinh khí hậu",dựa vào những tài liệu thu thập được thì em đã có hình thành được một số khái niệm về nội dung đề tài của mình,đã trao đổi với giảng viên hướng dẫn nhưng chưa thỏa mãn và có một số băn khoăn như sau:
1.Khái niệm nhà ở giá rẻ cho người thu nhập thấp (low cost-housing in come) trên thế giới đã được định nghĩa rõ nhưng ở Vệt Nam nó chỉ là một danh xưng chưa được công nhận nằm trong Nhà ở Xã hội,nếu như em chọn đối tượng nghiên cứu chưa được định nghĩa rõ ràng,chưa được công nhận về mặt pháp lý như vậy  thì có thiếu cơ sở hay không?
2.Trong phần giới hạn nghiên cứu khác với các luận văn khác là đề xuất trong một phạm vi  không gian có quy hoạch,thì em lại chọn xây dựng mô hình nhà ở theo dạng tự xây giá rẻ loại hình nhà riêng lẻ,nhà liền kế cho đối tượng công nhân,người nghèo ven khu công nghiệp,các khu ở tự phát.Trên thế giới đã làm nhiều,tuy nhiên ở Việt Nam còn là vấn đề rất mới,ví dụ như  khu vực nhà ở đó chưa được quy hoạch,tự phát, nên thiếu cơ sở pháp lý như vậy không thuyết phục...Vậy quan điểm của Thầy em nên chọn phạm vi nghiên cứu : giới hạn không gian  nào cho phù hợp với một luận văn Cao học?
Việc thứ hai: Em rất quan tâm đến vấn đề nhà ở xã hội hay nhà ở giá rẻ vì đây là một vấn đề hay càng đi sâu em càng thầy càng hay và vấn đề này thực sự cần thiết cho đất nước và người dân còn nghèo như nước mình,em mong muốn được làm cộng tác viên  của trang web nhaoxahoivietnam.vn khu vực phía Nam  để có thêm thời gian nghiên cứu, trao đổi với Thầy cũng như các Thầy cô khác  trong bộ môn nhiều hơn nữa vấn đề chúng ta quan tâm,kính mong Thầy xem xét và cho ý kiến.(Thông tin cá nhân của em có đính tệp kèm theo)
Em xin cảm ơn và chúc Thầy mạnh khỏe.

Ngày 24 tháng 9 năm 2014

Cao Hoàng Anh 


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Những vấn đề em hỏi, thày có một vài ý kiến trao đổi như sau:
1) Về khái niệm…:
Lý luận, lý thuyết (từ chủ trương, đường lối, chính sách…đến các khái niệm) đều xuất phát từ thực tiễn. Cái gì của thực tiễn đã xuất hiện, thì ắt sẽ nảy sinh ra lý luận, lý thuyết để dẫn dắt các tổ chức, cá nhân hiểu và làm cho khỏi lạc hậu so với thực tiễn. Vì vậy, việc “ em chọn đối tượng nghiên cứu (một vấn đề mới của thực tiễn) chưa được định nghĩa rõ ràng, chưa được công nhận về mặt pháp lý …”  hoàn toàn là điều bình thường.
2) Về phạm vi nghiên cứu; giới hạn không gian cho phù hợp với luận văn cao học…:
- Luận văn cao học không phải là một dự án (ví dụ như Dự án về nhà ở cho người thu nhập thấp tại một địa điểm nào đó) mà là một nghiên cứu khoa học mang tính sáng tạo (phù hợp với quy mô, nội dung của một luận văn cao học);
- Tính sáng tạo trong lĩnh vực xây dựng thường xuất phát từ các tiến bộ về kỹ thuật – công nghệ; môi trường; văn hoá mang tầm quốc gia và quốc tế để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó.
- Hướng đề tài của em về: “Nghiên cứu mô hình nhà ở theo dạng tự xây giá rẻ (cho những người có thu nhập thấp) tại ven các khu công nghiệp, các khu dân cư đô thị” là cần thiết, phù hợp với thực tiễn tại các đô thị lớn hiện nay ở Việt Nam. Cần chú ý:
. Là một nghiên cứu, nên kết quả phải là các luận điểm mang tính khoa học về mô hình nhà ở theo dạng tự xây giá rẻ …; Trong bài có thể có phần áp dụng mô hình mà em nghiên cứu tại địa điểm cụ thể nào đó để minh hoạ rõ hơn luận điểm khoa hoạ của đề tài;
- Mộ hình lý thuyết về nhà ở theo dạng tự xây giá rẻ do em đề xuất phải dựa trên các phân tích trong và ngoài nước về: công nghệ chiến lược (chủ trương, chính sách… mang tính vĩ mô); công nghệ quản lý (đất đai, tài chính, sở hữu, vận hành, phối hợp với các mô hình nhà ở khác…) và công nghệ kỹ thuật (quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, hạ tầng xã hội và kỹ thuật, trang thiết bị, giá thành xây dựng, môi trường…). Mô hình nhà ở theo dạng tự xây giá rẻ…chỉ có thể thành công (phát triển nhanh và bền vững) khi vận hành được đồng bộ cả 3 loại công nghệ này, góp phần vào việc thực hiện chính sách nhà ở của quốc gia, theo đúng nội dung và tinh thần của Hiến pháp: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp”. 


Bộ môn KTCN rất hoan nghênh sự cộng tác của em tham gia vào trang web nhaoxahoivietnam.vn.
Chúc em thực hiện tốt luận văn cao học và có nhiều niềm vui trong cuộc sống.

Ngày 27/9/2014, Chủ nhiệm Bộ môn KTCN. TS. Phạm Đình Tuyển


Hỏi: Em chào thầy ạ!
Em là Phạm Như Quỳnh lớp 57KT3. Hiện nhóm e đang làm đồ án về 1 công trình công nghiệp có kết cấu thép. Em có tìm được 1 công trình phù hợp trên website của bộ môn, tuy nhiên công trình đó lại không có đầy đủ các bản vẽ mà bọn em cần. Vậy e gửi mail này mong thầy có thể gửi cho nhóm em file cad 1 công trình công nghiệp kết cấu thép (Cụ thể là nhà máy kính) được không ạ?
Em cảm ơn thầy ạ! :D

Trả lời:
Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Trong mục Dự án tại WEB bmktcn.com có rất nhiều tài liệu của các dự án khác tương tự về kết cấu thép để các em có thể tham khảo.
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=blogcategory&id=172&Itemid=303
Chú ý tham khảo trước hết về mặt cắt ngang nhà, giải pháp cấu tạo kiến trúc; thông gió....
 
Ngày 28/9/2014. Bộ môn KTCN.
Hỏi: Thưa thầy em là sinh viên khóa 57.em đang làm bài tập lớn số 1 về công trinh chế biến thủy sản.thầy có thể cho em xin bản cad về công trình này được không ạ?và bài tham khảo về bài tập lớn này ạ.em cám ơn thầy
Trả lời:
Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Tại WEB bmktcn, mục dự án XNCN và công trình công nghiệp có bản vẽ CAD về nhà máy thủy sản.
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5259&Itemid=303
Em có thể tham khảo để làm bài tập.
Ngày 09/5/2014 Chủ nhiệm Bộ môn KTCN. TS. Phạm Đình Tuyển
Hỏi:

Em chào thầy!

Em là sinh viên k57, khoa kinh tế và quản lí xây dựng. Hiện em chuẩn bị thi môn kiến trúc 1.Em có một số thắc mắc về việc vẽ mặt cắt đứng và bằng của nhà làm việc,trong đó thể hiện cấu tạo của sàn,nền,dầm chính,dầm phụ,mái nhà. Em mong thầy giúp đỡ thêm ạ

Em cảm ơn thây!


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Ngoài việc học trong các giáo trình, tài liệu giảng dạy về nguyên lý thiết kế kiến trúc nhà công cộng (trong đó có nhà làm việc), em nên tham khảo các tài liệu thực tế để hiểu thêm về cách vẽ mặt đứng, mặt bằng và cấu tạo kiến trúc của công trình nhà làm việc.

Trên web bmktcn.com hiện có một số dự án nhà làm việc có thể tham khảo:

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=4823&Itemid=166

Chú ý thêm việc trao đổi học tập với các bạn cùng lớp.

Chúc em học tập có kết quả.

Ngày 18/6/2014, Chủ nhiệm Bộ môn KTCN, TS. Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em tên là Hoàng Ngọc Anh, SV lớp 56 KDF. Em được biết lịch chấm đồ án công nghiệp 1 cuối kỳ của lớp em là ngày 25/6. Tuy nhiên em xin hỏi là em có được phép

nộp bài trước không ạ? Nếu được em phải viết đơn hay lên trực tiếp phòng bộ môn để xin ạ? Mong các thầy cô trả lời giúp em (Em có lý do chính đáng ạ). 


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Nếu giảng viên phụ trách học phần không yêu cầu phải tổ chức bảo vệ, mà chỉ nộp đồ án để chấm điểm đánh giá học phần thì em có thể nhờ lớp trưởng nộp bài hộ.

Em liên hệ trực tiếp với giảng viên để hỏi cụ thể.

Địa chỉ: http://bmktcn.com/index.php?option=com_dscanbo&Itemid=321

 

Ngày 09/6/2014 Bộ môn KTCN


Hỏi:

Thưa thầy cô, e thấy trên website http://bmktcn.com có rất nhiều bài viết về các dự án Quy hoạch 1 khu vực nào đó, e cần tìm bản vẽ mặt bằng, quy hoạch của một khu vực ví dụ huyện gia lâm, nhưng đều là dạng file ảnh, vậy em muốn tìm file cad thì tìm ở nguồn nào, trên http://bmktcn.com có những file này không ạ? Em xin cảm ơn!

 


Trả lời:

WEB bmktcn.com đã nhận được thư của em. Các dự án mà WEB bmktcn.com đã đăng đều có lưu trữ file cad. Em có thể chỉ ra một khu vực cụ thể nào đó tại huyện Gia Lâm (hoặc tại khu vực khác), phù hợp với nội dung thực hiện các học phần đồ án quy hoach, kiến trúc, WEB bmktcn.com sẽ chuyển file cad cho em.

Ngày 04/3/2014. WEB bmktcn.com


Hỏi: Em kính chào thầy Chủ nhiệm bộ môn KTCN!
Em thưa thầy, em là sinh viên Nguyễn Ngọc Hiếu, lớp 56QH. Đợt vừa rồi vừa có kết quả điểm đồ án Đầu mối hạ tầng kĩ thuật công nghiệp. Trong quá trình làm đồ án em đã đầu tư, cố gắng hoàn thành các nhiệm vụ đồ án. Nhưng khi nhận được kết quả không như em mong muốn. Vì vậy em rất muốn thầy cô giúp em kiểm tra lại điểm của đồ án. Em viết thư này mong thầy giúp em biết về quy trình, mẫu đơn phúc khảo của bộ môn ạ!
Em xin cảm ơn thầy.
Em chào thầy!

Trả lời:
Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Thày chủ nhiệm Bộ môn KTCN sẽ trao đổi trực tiếp với giảng viên phụ trách lớp để kiểm tra lại trường hợp của em.
Em cần làm đơn xin phúc tra gửi trực tiếp Phòng Đào tạo (Đơn theo mẫu của Phòng Đào tạo). Sau khi có yêu cầu phúc tra của Phòng Đào tạo, Bộ môn sẽ tổ chức đánh giá lại điểm đồ án của em.
Ngày 26/01/2014 Chủ nhiệm Bộ môn KTCN. TS. Phạm Đình Tuyển
Hỏi:
Kính gửi thầy,
Em là sinh viên KD54, em đang trong quá trình thực tập và làm báo cáo thực tập, đọc xong đề cương hướng dẫn thì em có thắc mắc về nội dung sau:
- Tìm 1 tài liệu dự án theo hướng làm tốt nghiệp có thể chuyển thành nhiệm vụ của đồ án tốt nghiệp (gồm yêu cầu thiết kế, yêu cầu quy hoạch, thành phần chức năng, chỉ tiêu diện tích chi tiết, các bản đồ quy hoạch, bản đồ khu đất…).
Có nghĩa là sinh viên phải tìm một dự án thực đang được thiết kế/ đầu tư xây dựng và xin công ty thiết kế các tài liệu này. (Do nhiều công ty thực tập chỉ thiết kế nhà dân nên tìm dự án thực tế về khách sạn, bảo tàng, thư viện.... khá khó khăn đối với em và nhiều bạn khác)
Hay là sinh viên tìm hiểu các dự án theo hướng mình muốn làm tốt nghiệp và tổng hợp các yêu cầu thiết kế, quy hoạch ... và lựa chọn khu đất phù hợp.
Em cảm ơn thầy.
Trả lời:
Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Một trong những nội dung của Học phần Thực tập cán bộ kỹ thuật là trong thời gian thực tập sinh viên phải có định hướng về đề tài tốt nghiệp và chuẩn bị các tài liệu cần thiết để thực hiện đề tài. Các tài liệu này sinh viên có thể tham khảo tại nơi thực tập hoặc tìm kiếm từ các nguồn khác, ví dụ như từ internet...
Sinh viên cần liên hệ với giảng viên hướng dẫn để trao đổi về hướng đề tài tốt nghiệp mà mình dự kiến; các loại tài liệu cần có để thực hiện đề tài...
Kinh nghiệm từ các năm trước cho thấy, những sinh viên nào trong thời gian Thực tập cán bộ kỹ thuật chuẩn bị tốt hướng đề tài tốt nghiệp và có đủ tài liệu để thực hiện là những sinh viên sau này đạt kết quả tốt Đồ án tốt nghiệp.
Ngày 17/01/2014. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN TS. Phạm Đình Tuyển.
Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Thông báo quy chế học tập, hướng dẫn đăng ký môn học của sinh viên Khoa Kiến trúc & Quy hoạch
+ Văn bản quy định của Bộ môn KTCN về thực hiện học phần đồ án KTCN
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Các mẫu văn bản về đào tạo và KHCN có liên quan tại ĐHXD
+ Danh sách đề tài luận văn thạc sỹ tại trường ĐH Kiến trúc
+ Danh sách đề tài luận văn thạc sỹ tại trường ĐHXD
+ Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert
+ 9 Kỹ năng mềm cơ bản
+ Danh sách cán bộ Bộ môn KTCN, ĐHXD
+ Chương trình đào tạo và KHCN của Bộ môn KTCN đến năm 2010 và 2015
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN năm học 2013-2014
+ Chương trình đào tạo Kiến trúc sư công trình
+ Chương trình đào tạo kiến trúc sư quy hoạch
+ Chương trình khung đào tạo thạc sỹ Kiến trúc - Quy hoạch, ĐHXD
+ Chương trình khung Giáo dục Đại học hệ vừa học vừa làm
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ QĐ số 879/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp VN đến 2025, tầm nhìn đến 2035
+ QĐ số 880/QĐ-TTg phê duyệt QH tổng thể phát triển ngành công nghiệp VN đến 2020, tầm nhìn đến 2030
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Chùa Việt Nam
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Đình, đền Việt Nam
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
Chuyên mục PT nông thôn
BỨC TRANH KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
23/05/2008

Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị sản xuất và bảo đảm cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế. Nhưng trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển.

1 - Đổi mới vị trí, vai trò của kinh tế hộ

Trong thời kỳ chiến tranh, hộ gia đình Việt Nam vừa cung cấp nguồn nhân lực, vừa là nguồn của cải vật chất (chưa nói tới tinh thần) cho cuộc chiến, đồng thời lại là nơi sản xuất vật chất để bảo đảm cuộc sống không những cho gia đình (chỉ với 5% quỹ đất canh tác được chia cho các hộ gia đình làm kinh tế vườn theo lối tự túc, tự cấp), mà còn đóng vai trò là hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam (trên cơ sở phát triển hợp tác xã theo kiểu cũ).

Vai trò của kinh tế hộ có nhiều thay đổi cả về phương thức quản lý lẫn lao động sản xuất, nhất là kể từ khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển. Mốc quan trọng của sự thay đổi đó là sự ra đời của Chỉ thị 100, ngày 31-1-1981 của Ban Bí thư về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã. Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 5-4-1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Ngoài ra, đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐ-CP, ngày 3-2-1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức năng quản lý nhà nước đối với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông, lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế hộ. Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản. Động lực mới cho sự phát triển kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn đã xuất hiện.

2 - Những kết quả tích cực bước đầu

Chủ trương, chính sách về giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho kinh tế hộ (đất nông nghiệp 20 năm, đất lâm nghiệp 50 năm) đã nhanh chóng đi vào cuộc sống của hàng triệu hộ nông dân. Và mặc dầu phong trào hợp tác xã không còn phát huy tính tích cực như xưa, nhưng diện mạo của kinh tế hộ nông dân Việt Nam đã thay đổi một cách cơ bản, nhất là ngày càng có nhiều đóng góp cho việc giải phóng sức sản xuất, nâng cao sản lượng nông nghiệp, mở mang ngành nghề mới, nâng cao thu nhập. Theo số liệu điều tra, trên 74,5% số hộ đã có từ 2 - 4 loại hình hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập(1).

Một động thái tích cực rất đáng được lưu ý của kinh tế hộ nông dân là sự xuất hiện ngày càng nhiều các hộ bứt phá khỏi tình trạng tự cung, tự cấp vươn lên sản xuất hàng hóa, trong đó phương thức trang trại gia đình phát triển mạnh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản.

Cơ cấu hộ nông dân theo ngành nghề đang chuyển dịch theo hướng tăng dần số lượng và tỷ trọng nhóm các hộ tham gia sản xuất phi nông nghiệp, như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; số hộ làm nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 80,9% năm 2001 xuống còn 70,9% năm 2006. Các nghiên cứu đều cho thấy, giai đoạn 2001 - 2006 tốc độ chuyển dịch ấy đã diễn ra nhanh hơn trước. Nếu thời gian này GDP nông nghiệp đóng góp 20,23% vào cơ cấu kinh tế, nhưng là nền tảng của sự ổn định chính trị - xã hội vì chúng ta có tới trên 70% dân số sống tại nông thôn, thì trong số đó, đã có tới 40% dân số nông thôn có nguồn thu từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Đây là một động thái tích cực.

Trong bản thân lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, số hộ sản xuất thuần túy nông nghiệp giảm dần, trong lúc số hộ tham gia sản xuất lâm nghiệp, thủy sản tăng lên. Tuy vậy, tính đến năm 2006, số lượng và tỷ trọng các hộ trong lĩnh vực thủy sản (chiếm 6,2%), lâm nghiệp (chiếm 0,3%) vẫn bị đánh giá là còn quá thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thực tế.

Trong bản thân kinh tế hộ trang trại cũng có sự phát triển về chất, xuất hiện nhiều nhu cầu đầu tư vốn lớn, thuê đất canh tác và lao động thường xuyên hoặc theo thời vụ, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây, con theo hướng đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu thị trường. Chẳng hạn, trang trại chăn nuôi tăng rất nhanh, bên cạnh số trang trại sản xuất cây hàng năm và cây lâu năm cũng có sự phát triển về số lượng và chất lượng. Lượng hàng hóa nông sản của các trang trại đang ngày càng có vị trí trên thương trường. Một số các trang trại lớn đã bắt đầu phát triển thương hiệu, mở rộng các quan hệ làm ăn với các công ty lớn trong chế biến, thu mua và xuất khẩu.

Khi nhắc tới những thành tựu chung của kinh tế đất nước như giữ được vị thứ thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo (tính đến năm 2007), đứng đầu về xuất khẩu cà phê rô-bu-sta và hạt tiêu, một trong 10 nước hàng đầu về thủy sản..., thì phải nói, kinh tế hộ nông nghiệp trong nông thôn đã đóng vai trò chính trong việc tạo ra lượng hàng hóa lớn để phục vụ xuất khẩu. Trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, đã có 5 mặt hàng đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD. Đó là thủy sản (3,8 tỉ USD), gỗ (2,4 tỉ USD), cà phê (1,86 tỉ USD), gạo (1,46 tỉ USD), cao su (1,4 tỉ USD).

3 - Khó khăn và thách thức trong thời gian tới

- Khó khăn và thách thức lớn đối với nông dân nước ta nói chung và kinh tế hộ nói riêng trong tiến trình hội nhập ngày một sâu vào kinh tế thế giới là chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Đây là một trong số các nguyên nhân chính đang làm tăng thêm khoảng cách cả thu nhập lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn và thành thị... Thêm vào đó, tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn tuy đã giảm mạnh, tới hơn một nửa trong khoảng thời gian 10 năm, năm 1993 - 2004, từ 66,4% xuống còn 25%. Hai năm gần đây, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007, vượt kế hoạch đề ra (16%). Nhưng trong nông thôn, cá biệt một số tỉnh miền núi, tại những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, số hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ trọng cao: ở Lai Châu hiện nay là 55,32%; Điện Biên 40,77%; Hà Giang 39,44% và Bắc Kạn 37,8%. Dù khu vực nông thôn chiếm tới 90% số hộ thuộc diện nghèo của cả nước, nhưng tốc độ giảm nghèo ở nông thôn vẫn chậm hơn thành thị tới 20%. Tính bền vững trong các trường hợp thoát đói nghèo trong nông nghiệp, nông thôn không chắc chắn, do thiên tai, dịch bệnh, ốm đau... Điểm xuất phát thấp, tốc độ phát triển chậm, rủi ro lớn, thì khoảng cách khó có thể rút ngắn nếu không có những giải pháp mang tính đột phá.

Nếu chia toàn bộ dân số ra 5 nhóm bằng nhau về số người và theo các mức thu nhập từ thấp đến cao để so sánh chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất với nhóm 20% dân số có mức thu nhập thấp nhất, thì nếu năm 1994, chênh lệch giữa nhóm giàu và nghèo là 6,50 lần, đến năm 2006 đã tăng lên 8,34 lần. Nhưng nếu nhóm dân số càng nhỏ lại, 10%, hay 5%, thì sự chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo lại càng tăng lên đáng kinh ngạc. Theo một cách suy luận khác, chênh lệch giàu nghèo là rất lớn khi đang tồn tại nghịch lý ở Việt Nam, rằng thu nhập GDP đầu người còn rất thấp, nhưng giá nhà, đất lại cao, ngang với cả những nước có thu nhập GDP cao gấp hàng chục lần.

Người nông dân bị thu hồi đất cho công nghiệp hóa, hay đô thị hóa cũng rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi, trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp. Phần đông nông dân có tiền (tiền đền bù do bị thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào cho hiệu quả để sử dụng cho sản xuất, kinh doanh làm cho nó sinh sôi nảy nở.

- Hộ nông dân thường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối khắc nghiệt của quy luật thị trường. Cơ hội kiếm tiền đến với người có vốn, có điều kiện về thông tin, và kể cả điểm xuất phát cao, sẽ nhiều hơn rất đáng kể so với các đối tượng khác, nhất là người nghèo. Về nguyên lý, thị trường dường như mang lại cơ hội cho tất cả mọi người, nhưng không phải mọi người đều có đủ khả năng như nhau để tận dụng cơ hội đó. Người nắm thông tin, người nhiều vốn, người lanh lợi và phải có chút "tinh quái" mới tận dụng cơ hội tốt hơn và do đó giàu lên nhanh hơn. Không ít người lợi dụng quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước những năm gần đây nắm giữ nhiều cổ phiếu; hay những người biết trước thông tin về quy hoạch nên đầu cơ được những khu đất đắc địa..., từ đó càng có điều kiện thu vén những nguồn lợi từ các cơ hội tốt, lại càng có điều kiện tích lũy làm giàu - giàu sẽ dễ giàu thêm hơn, nghèo thì thua thiệt và dễ nghèo đi.

Nhiều hộ nông dân đang rơi vào cảnh thua thiệt trước "vòng xoáy" của các quy luật thị trường, nhất là ở những nơi hợp tác xã không còn tồn tại, chính quyền cơ sở lại yếu kém, thì không biết dựa vào đâu? Bởi vậy, sự nghiệt ngã của tình cảnh "nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu nhanh hơn" đang là tác nhân chính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị. Đây là nguyên nhân chính của hiện tượng số người tự do di cư ra thành thị kiếm việc làm đang tăng lên. Họ luôn trong tâm lý lo sợ rủi ro, bởi vậy, tư duy "ăn chắc, mặc bền" vẫn là phổ biến, có đồng nào đổ vào "xây nhà xây cửa" chắp vá, cơi nới một cách manh mún và rất tốn kém.

- Vốn tích lũy của các hộ gia đình cũng có sự phân biệt khá rõ giữa các loại hình sản xuất. Theo số liệu của tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 2006 của Tổng cục Thống kê, tính đến giữa năm 2006 vốn tích lũy bình quân một hộ nông thôn là 6,7 triệu đồng, tăng gấp 2,1 lần so với thời điểm tháng 10 năm 2001. Nhưng vốn tích lũy của các hộ sản xuất phi nông nghiệp vẫn vượt lên cao hơn các hộ thuần nông. Hộ vận tải tích lũy bình quân là 14,9 triệu đồng, hộ thương nghiệp là 12,1 triệu đồng, hộ thủy sản là 11,3 triệu đồng, trong khi đó hộ nông nghiệp thuần chỉ tích lũy dưới 4,8 triệu đồng. Lý do chính của việc tiết kiệm tiền trong phần đông các hộ gia đình nông thôn(2) không phải là để tích lũy mở rộng sản xuất, mà 82% số người được hỏi trả lời là để chi trả khám và chữa bệnh khi cần thiết và 70% trả lời là để đề phòng các nhu cầu chi tiêu đột xuất khác, chỉ 6% mong đợi lợi nhuận hay lãi suất.

- Trong kinh tế thị trường, việc tìm ra cây gì, con gì để cho sản xuất hàng hóa lớn đã khó, thì việc tiếp cận đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp mấy năm gần đây cũng đang khó khăn không kém. Đã thế, thị trường đầu vào của sản xuất nông nghiệp biến động rất bất lợi cho các hộ nông dân, giá lên cao liên tục, giao thông khó khăn, vốn ít nên khó khăn trong việc mua giá thấp với khối lượng lớn (mua buôn), mua lẻ thì giá lại rất cao, thiếu những nhà cung cấp tin cậy và ổn định, và còn thiếu cả thông tin để có cơ hội lựa chọn phương án tối ưu.

- Khó khăn trong khâu sơ chế và chế biến sau thu hoạch cũng là một cản trở lớn đối với kinh tế hộ nông dân. Phần lớn các hộ nông dân đều thiếu kỹ thuật và khả năng sơ chế nông sản sau thu hoạch, thiếu thông tin thị trường, chi phí giao dịch cao... Nên phần lớn nông sản chưa nâng được thêm giá trị kinh tế đáng kể trong các khâu tiếp theo của quy trình sản xuất đến tay người tiêu dùng, kể cả mẫu mã, tiếp thị và tiêu thụ, xuất khẩu.

- Nhiều hộ nông dân đang rất cần đến những sự trợ giúp có tính chất cộng đồng, hiệp hội ngành hàng hay hợp tác trong các khâu, nhất là đầu vào và đầu ra của sản xuất, nhưng các hợp tác xã (HTX) hiện nay trong nông nghiệp, nông thôn chưa đáp ứng đầy đủ, do chưa hoạt động thật hiệu quả và thiết thực. Theo số liệu điều tra của Trung tâm Phát triển nông thôn (RUDEC) năm 2007, thì HTX chỉ đáp ứng 6,9% nhu cầu phân bón và 13,8% nhu cầu giống, trong khi đó các đại lý tư nhân cung cấp tới 59,2% phân bón và 43,1% giống (xem bảng).

Bảng: Nguồn cung cấp đầu vào cho sản xuất nông nghiệp của các hộ (% hộ điều tra)

Loại vật tư

Nguồn cung cấp

HTX

Công ty

Đại lý tư nhân

Tự cung cấp

Giống cây trồng

13,8

7,5

43,1

5,7

Phân bón

6,9

6,9

59,2

2,3

Thuốc BVTV, diệt cỏ

5,7

6,9

55,7

0

Thức ăn chăn nuôi, kể cả thủy sản

0

2,3

20,1

6,3

Giống con, vật nuôi

0

2,9

20,7

5,7

Thuốc thú y

4,0

1,1

17,8

0,6

Các loại đầu vào sản xuất khác

0,6

0

20,1

0

Thực trạng chung của các HTX là, mức vốn hoạt động còn nhỏ, đặc biệt là các HTX trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại. Tỷ lệ vốn cố định ở các HTX rất cao, từ trên 70% đến 95%. Tình trạng này làm cho HTX thường không đủ vốn lưu động để hoạt động, do đó cũng không phát huy được vốn cố định, trong khi vay ngân hàng thì gặp nhiều khó khăn về tài sản thế chấp. Ngược lại, trong lĩnh vực tín dụng thì tỷ trọng vốn cố định rất thấp (chưa đạt 5%), dẫn đến tình trạng chung ở các quỹ tín dụng là cơ sở làm việc rất nghèo nàn, không bảo đảm an toàn cho việc mở rộng hoạt động huy động và cho vay. Tỷ lệ HTX có quan hệ tín dụng với ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác chỉ bằng 11,3% số HTX được thống kê, điều đó cho thấy các HTX chưa phát triển các quan hệ tín dụng với ngân hàng để có thêm vốn phát triển các dịch vụ phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh của xã viên.

- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với quá trình sản xuất nông nghiệp. Nhưng khó khăn lớn hiện nay là diện tích đất nông nghiệp đang mất vào các khu công nghiệp, khu đô thị và giao thông với tốc độ quá nhanh. Đất trồng lúa nước năm 2005 đã giảm trên 302 ngàn héc-ta so với năm 2000. Theo số liệu thống kê, trong 5 năm qua cả nước đã có khoảng 13% số hộ nông dân bị mất đất, mà lý do chính là bị thu hồi do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa. Trong khi đó, nhiều hộ khác tuy đã năng động chuyển đổi ngành nghề, nhưng vẫn không đủ "can đảm" (tính chắc chắn của nghề mới chưa bảo đảm cho các hộ chuyển nghề yên tâm) để nhượng ruộng cho người khác canh tác hay thuê người làm. Phần lớn là giữ đất hay có chăng cũng là cho con cháu làm để vừa đủ mức nộp thuế sử dụng đất. Bởi vậy, tốc độ tích tụ, hoặc dồn điền, đổi thửa diễn ra quá chậm so với nhu cầu phát triển sản xuất hàng hóa. Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí sử dụng đất diễn ra khá phổ biến. Tại Nam Định, có địa phương người nông dân muốn trả ruộng thì chính quyền xã không nhận, vì thời hạn giao đất vẫn còn hiệu lực, nếu nhận thì xã không thu được lệ phí. Trong khi đó người dân nơi khác đến canh tác thì khó khăn do chính sách cư trú... Tại huyện Từ Sơn, Bắc Ninh có 10.600 hộ nông dân mất đất, làm cho 21.000 lao động không có việc làm, nhưng diện tích thu hồi lại bỏ hoang, chờ dự án, hoặc chỉ sử dụng khoảng 30%...

Quan điểm chung của nhiều nhà hoạch định chính sách ở nước ta hiện nay là làm sao sớm "thoát" khỏi nông nghiệp. Đây là cách hiểu rất thiển cận, thiếu tính bền vững, đối với một nước phải bảo đảm có nguồn lương thực ổn định cho gần 90 triệu dân trong một vài năm tới như nước ta.

- Lề lối làm ăn còn nặng về sản xuất nhỏ, manh mún, chưa thích ứng với kinh tế thị trường. Chữ tín trong làm ăn là rất quan trọng, thế nhưng một số địa phương nông dân sẵn sàng "phá hợp đồng" để được lợi trước mắt do giá thị trường đột ngột lên cao so với hợp đồng, như trong hợp đồng bán hoa hồi cho đối tác Bắc Âu tại Lạng Sơn. Còn chuyện giá cả lên xuống thất thường là quy luật "cung - cầu" của thị trường. Đối với sản xuất nông nghiệp, tính chất mùa vụ và sự lệ thuộc vào đất đai, tiểu khí hậu rất chặt chẽ, nên khó có thể thành công nếu cứ chạy theo sự "lên - xuống" của thị trường. Thế mà, một số nông dân ở huyện Đông Triều, Quảng Ninh, khi giá vải xuống, thì chặt vải trồng cây sưa (cây lấy gỗ phải mất 50 năm mới cho thu hoạch, mà giá lúc đó chưa ai có thể nói rõ là sẽ như thế nào). ở một số địa phương phía Nam cũng vậy, thấy giá một số cây trồng khác đang "sốt", thì vội chặt cây điều đang kỳ cho thu hoạch... Trong khi đó, các ngành chức năng thiếu sự tuyên truyền, giải thích hữu hiệu để có định hướng sản xuất đúng và hơn nữa có quy hoạch cây, con một cách khoa học, ổn định lâu dài. Chẳng hạn, nhiều địa phương đã khá thành công trong việc tìm kiếm thị trường "cần những cái mình có", như chè Nghệ An vào thị trường Trung Đông, gạo, hạt tiêu, cà phê... xuất khẩu ra thế giới.

Hơn nữa, cũng phải tính toán đến cả tình huống mới, khi đang có nhiều cảnh báo trên thế giới(3) đã nói về một cuộc khủng hoảng mới về lương thực đang xuất hiện và sẽ trở nên nghiêm trọng hơn bất kỳ cuộc khủng hoảng lương thực trước đây thế giới từng chứng kiến. Theo ông Đô-nan Cốc (Donald Coxe), thách thức lớn nhất đối với thế giới không phải là 100 USD/thùng dầu, mà thế giới phải có đủ lương thực cho các tầng lớp trung lưu mới và vì vậy đòi hỏi phải tăng sản lượng lương thực. Chỉ riêng giá lúa mì đã tăng 92% trong năm 2007, và ngày 3-1-2008, giá đóng cửa giao dịch là 9,45 USD cho 8 ga-lông tại sàn buôn bán Chi-ca-gô. Theo nhiều dự báo, trong những tháng tới của năm 2008, giá lương thực vẫn tiếp tục tăng.

Những nước xuất khẩu lương thực trước đây như Nga và Ấn Độ hiện nay đang ngừng xuất khẩu lương thực. Khu vực Trung - Tây của nước Mỹ cung cấp 54% sản lượng ngô của thế giới, nhưng gần đây số lượng lương thực được tích trữ của Mỹ cho những vụ tiếp theo đã tụt xuống mức thấp kỷ lục. Do vậy, những nước dư thừa lương thực sẽ có một lợi thế lớn.

Nếu không đánh giá đúng lợi thế này, không khéo chúng ta đang đánh mất những lợi thế đã có để chạy theo những "lợi thế ảo" mà thế giới đang mạnh hơn ta rất nhiều lần(4). Trong khi đó, muốn làm cho nền nông nghiệp nước nhà phát triển và hội nhập thành công trên đà của những thành tựu đã đạt được trong hơn 20 năm đổi mới đã qua, không có cách nào khác là phải có thêm những chính sách có tính chất đột phá để tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển. Đất nước đang cần có nhiều hộ nông dân làm ăn mang tính chuyên nghiệp hơn, bởi vậy kinh tế hộ đang cần có sự hỗ trợ, hợp lực mang tính cộng đồng chặt chẽ hơn mới hy vọng có được sức mạnh trong cạnh tranh khốc liệt của thương trường trước xu thế hội nhập ngày một sâu hơn của nền kinh tế quốc dân.

(1) Bài có sử dụng số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2005
(2) Số liệu điều tra, sđd
(3) Ông Donald Coxe, nhà chiến lược hàng đầu của Tập đoàn Tài chính BMO đã phát biểu tại câu lạc bộ đầu tư ở thành phố Toronto, Canada
(4) Các xí nghiệp Trung Quốc hiện xuất khẩu 800 triệu chiếc sơ mi mới đổi lấy được một máy bay chở khách, xuất khẩu một đầu máy DVD chỉ thu được 1 USD lợi nhuận, mà còn phải nộp cho công ty nước ngoài hơn 4 USD tiền sở hữu bản quyền. Khai thác than ở Tân Phổ Thương (Trung Quốc), đã biến một thành phố hoa quả thành một thành phố ô nhiễm. Còn sản phẩm than thì bán giá rẻ cho Nhật Bản; người Nhật mua để dự trữ cho đời sau
Lê Xuân Đình (tapchicongsan.org.vn) 
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:

“ Ta phải giữ lấy cốt cách dân tộc, còn phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi cho văn hoá Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để kết hợp với tinh thần dân chủ. ”

 
Năng suất lao động Việt Nam đang thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực: thấp hơn Indonesia 10 lần, Thái Lan gần 30 lần và Nhật Bản 135 lần. VN vẫn là nước nghèo. Người ta hay nói về người VN chăm chỉ và sáng tạo. Có lẽ đó là về ngày xưa, trong nền kinh tế nông nghiệp, trong thời mở cõi và giữ gìn độc lập. Nay, các bạn sinh viên ĐHXD thử tự đánh giá về mức độ chăm chỉ và sáng tạo của bản thân trong quá trình học tập:
 
 
Thông báo
+ Kế hoạch thực hiện luận án tiến sỹ của NCS Tạ Quỳnh Hoa
+ Kế hoạch thực hiện luận án tiến sỹ của NCS Phi Hoàng Long
+ Kế hoạch thực hiện luận án tiến sỹ của NCS Hồ Quốc Khánh
+ Phân công giảng dạy học kỳ I, năm học 2014-2015
+ Lịch trình giảng dạy và học tập Học phần KTCN1 Khoá 57KD
+ Kế hoạch thực hiện luận án tiến sỹ của NCS Đào Thị Bích Hồng
+ Thi kiến trúc dành cho SV: “Ý tưởng thiết kế mẫu nhà ở tự xây cho công nhân Khu CN và Khu kinh tế”
+ Kế hoạch thực hiện học phần Đồ án tổng hợp Khóa 55KD do BMKTCN quản lý
+ Kế hoạch thực hiện ĐATN đợt 2 khóa 54KD và khóa cũ do Bộ môn KTCN quản lý
+ Kế hoạch thực hiện đồ án KTCN1, KTCN2, Đồ án CTCN & đầu mối HTKT LOPNV25 do Bộ môn KTCN quản lý

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghiệp - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com