Tuần 11 - Ngày 18/10/2018
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:  Thưa Thầy(Cô), em là sinh viên đang làm đồ án tốt nghiệp. Em vừa mới biết là phải bắt buộc có phần viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp. 
Thầy cô cho em hỏi về quy cách viết thuyết minh, hoặc thầy(cô) có thể gửi em bản thuyết minh mẫu được không ạ.
Em cảm ơn .

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Theo quy định, học phần Đồ án tốt nghiệp phải có nội dung viết thuyết minh. 
Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp xem tại mục: Quy định về viết thuyết minh đồ án tốt nghiệp, trên WEB bmktcn.com; Mục đào tạo/Đồ án tốt nghiệp: 
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=261&Itemid=266 
Bộ môn KTCN 
Hỏi:  Em chào thầy ạ ! Em là Huy từng học thầy môn kiến trúc công nghiệp ạ . Em có vài vấn đề thắc mắc muốn hỏi thầy ạ. Em muốn hỏi là : 
- Cách nắm bắt tâm lí của người khác (chủ đầu tư) khi mình muốn nói chuyện với họ thì cần tìm hiểu trước những thông tin gì và để trong khi nói chuyện có thể khiến tâm lí họ vui vẻ và cởi mở hơn với mình ?  
- Muốn để cách nói chuyện của bản thân với chủ đầu tư tốt hơn thì cần phải tìm hiểu những vấn đề gì ạ ? 
Em cám ơn thầy và mong thầy sớm trả lời ạ 
-- 
komang ladykillah


Trả lời:

Thày đã nhận được thư. 
Câu hỏi của em về cách nắm bắt tâm lý và tạo niềm tin với chủ đầu tư, thày có một vài trao đổi như sau: 
a) Về nghề nghiệp kiến trúc: Kiến trúc không chỉ là một ngành trong lĩnh vực sáng tạo mà còn là một ngành trong lĩnh vực tư vấn. Kiến trúc sư tạo lập ra sản phẩm của mình, song không bỏ nguồn lực thực hiện mà thuyết phục người khác thực hiện. Tư vấn là nghĩa như vậy. 
b) Về khả năng thành công của hoạt động tư vấn: Muốn người ta cởi mở và tin mình, cần: 
- Tinh thần: Phải chân thành, cố gắng hiểu đối tác mong muốn điều gì. 
- Nhận thức: Hai bên cùng có lợi; Trong trường hợp thấp hơn: Họ có lợi song ta không bị thiệt hại là được. 
- Chuyên nghiệp: Đặc biệt là chuyên nghiệp trong chuyên môn. Chú ý thay ý kiến mang tính chủ quan của mình bằng các dẫn chứng thực tiễn mang tính so sánh để thuyết phục người nghe. Nói những điều cần làm và làm những điều đã nói. 
- Văn hóa: Đối tác không thích ta, thì sẽ không thích ý kiến chuyên môn của ta. Để thuyết phục họ phải thể hiện ứng xử mang tính văn hóa. 
- Chí khí: Người ta chỉ thích hợp tác với kẻ manh. Mạnh về nguồn lực và mạnh về chí khí. Khi không thuyêt phục được đối tác trong một dự án cụ thể, không luyến tiếc, hãy coi đó là bài học để tiến tới thành công tại các cơ hội khác. Họ không là đối tác của ta trong dự án này, nhưng nếu họ là người tử tế thì có thể trở thành người bạn, đồng minh trong việc khác của ta. 

Chúc em thành công. 
Thày Phạm Đình Tuyển  


Hỏi: Thưa thầy(Cô) em là sinh viên khóa 58 sắp tới đang làm báo cáo thực tập ,và trong phần báo cáo có định hướng về đề tài tốt nghiệp ,em muốn hỏi : nếu đang thực tập thuộc bộ môn nào quản lý thì nên chọn đề tài của bộ môn đó ,Ví dụ e ở bộ môn KTCN quản lý thì nên chọn đề tài công nghiệp hay e có thể lựa chọn 1 đề tài khác được ạ?Em đang lựa chọn đề tài tốt nghiệp mà còn nhiều phân vân xin bộ môn cho e xin lời khuyên ! 


Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.
Bộ môn KTCN là Bộ môn Kiến trúc Công nghệ (không phải là Kiến trúc Công nghiệp). Tất cả các vấn đề có liên quan đến kiến trúc, giảng viên của Bộ môn KTCN đều có thể hướng dẫn cho em: Về chuyên ngành như: quy hoạch, công trình dân dụng, công nghiệp, dịch vụ; Địa điểm: Khu vực đô thị, khu vực nông thôn, khu kinh tế ven biển, cửa khấu...
Em suy nghĩ, chọn lựa đề tài nào mà cảm thấy yêu thích, phù hợp với nhu cầu của đất nước, công nghệ thế kỷ 21 và có thể phát huy cao nhất năng lực sáng tạo của bản thân. 
Nên trao đổi trực tiếp vấn đề này với giảng viên hướng dẫn để nhận được sự trợ giúp. 
Ngày 18/12/2017, Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Thưa Thầy (cô ) e là sinh viên khóa 58 sắp chuẩn bị cho đồ án tốt nghiệp ạ, sắp tới e dự định sẽ đăng ký đồ án tốt nghiệp về nhà máy sản xuất của bộ môn KTCN ,e muốn hỏi là làm về chủ đề đó thì có nên chọn hướng chuyên sâu về Kiến trúc- cảnh quan hay không ạ ?

Rất mong nhận được câu trả lời sớm ạ! Em xin chân thành cảm ơn bộ môn! 
Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.

Câu hỏi về đề tài tốt nghiệp là nhà máy sản xuất, với hướng chuyên sâu về Kiến trúc - Cảnh quan, Bộ môn KTCN có ý kiến như sau:

- Trước hết, nội dung của đề tài phải phù hợp với yêu cầu chung của Khoa Kiến trúc - Quy hoạch và Bộ môn KTCN, được quy định trong hướng dẫn thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 

- Về nội dung chuyên sâu Kiến trúc - cảnh quan (nhận thức mới, giải pháp công nghệ mới từ thế giới, từ thực tiễn Việt Nam), em có thể thực hiện trong đồ án tốt nghiệp với ý nghĩa là điểm khởi nguồn cho đổi mới và sáng tạo các giải pháp quy hoạch và kiến trúc. Qua đó làm đồ án trở nên phong phú hơn và có chất lượng hơn, thể hiện được kiến thức và kỹ năng của em trong quá trình học tập đại học. 

Chúc em đạt kết quả tốt trong thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp.

1/12/2017- Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi: Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah


Trả lời:

Dạ chào thầy cô ah, thầy cô có thể cho em xin bản vẽ mẫu của nhà máy gạch tuynen dc không ạ (gầm nhà ăn, căng tin, nhà nghỉ công nhân..). em cảm ơn ah  

Bộ môn đã nhận được thư.

Một số hình vẽ của các dự án nhà máy gạch tuynen em có thể tham khảo trên WEB bmktcn.com, ví dụ như: 

1) Nhà máy gạch tuynel Triệu Sơn, Thanh Hoá

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=6495&Itemid=303   

2) Nhà máy sản xuất gạch tuynel, Đại Thành, Hiệp Hoà, Bắc Giang

http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=5167&Itemid=303

Ngày 28/8/2017

Bộ môn KTCN  
Hỏi:  Ngày 21/8/2017 
Chào thầy, em đang làm đồ án tổng hợp ktcn do Bộ môn KTCN hướng dẫn, em chọn thiết kế khu hành chính và dịch vụ, thì em thấy trong bài tham khảo trên trang ktcn,com có chiều cao mỗi tầng của khu hành chính là 7m, như vậy có hợp lí ko ạ, và bình thường chiều cao tầng nên vào khoảng bao nhiêu. 
Trả lời:  Bộ môn KTCN đã nhận được thư. 
Chiều cao tầng: Tầng 1 chiều cao tầng tính từ mặt nền đến sàn tầng trên; Tầng giữa: từ mặt sàn tầng này đến mặt sàn tầng kia. 
Chiêu cao tầng nhà văn phòng: 
- Khoảng 3,6- 3,9m với trường hợp sử dụng trần, để không gian thông thủy (từ sàn đến trần) khoảng 3m; 
- Khoảng 4,2 -4,5m với trường hợp sử dụng trần và sàn kép (để bố trí hệ thống cáp thông tin, sưởi hoặc làm mát từ sàn), để không gian thông thủy khoảng 3m.

Có thể tham khảo thêm: Sổ tay dữ liệu thiết kế kiến trúc Neufert; Mục Nhà văn phòng:
http://bmktcn.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3416&Itemid=223

Ngày 22/8/2017. Thày Phạm Đình Tuyển
Hỏi: Ngày: 30 tháng ba năm 2017 15:22:15 0700 
Chủ đề: Em hỏi bộ môn 
Em chào bộ môn, em hiện là sinh viên K57, em làm đồ án tốt nghiệp về nhà ở xã hội, bộ môn cho em hỏi về việc thiết kế nhà ở xã hội có các tiêu chuẩn, quy chuẩn nào của nhà nước không ạ? Nếu có thì em có thể tìm ở đâu ạ, em xin cảm ơn bộ môn. 

Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 
Hiện có nhiều quy định của Nhà nước liên quan đến thiết kế kiến trúc nhà ở xã hội. 
Em có thể vào trang WEB http://nhaoxahoivietnam.vn/ tại mục Quy định phát triển, trong đó có các thông tin em cần, đặc biệt là: 
Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ : Về phát triển và quản lý nhà ở xã hội   
(http://nhaoxahoivietnam.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=408:ngha-anh-sa-100-2015-n-cp-va-phat-trian-va-quan-la-nha-a- xa-hai & CatID = 40 & Itemid = 145). 

Chúc em thực hiện học phần đồ án tốt nghiệp thành công
Ngày 31/3/2017, thày Phạm Đình Tuyển  
Hỏi:  Em là sinh viên K59 đang học môn kiến trúc công nghiệp 1 
Thầy cô cho em hỏi các văn bản  quy phạm liên quan đến quy hoạch tổng mặt bằng xí nghiệp công nghiệp gồm những văn bản nào?

Em xin cảm ơn.


Trả lời:

Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em. 

Rất chú ý: Khi thực hiện Học phần Kiến trúc Công nghiệp cần phải đọc các tài liệu có liên quan đã được Bộ môn KTCN đưa lên WEB bmktcn.com, trong đó nội dung em hỏi. 
Em có thể đọc các vấn đề em nêu tại phần: Khái niệm chung về thiết kế kiến trúc XNCN – 
http://bmktcn.com/ocw_cat.php?cat=18 
Chúc em có nhiều sự chủ động và sáng tạo trong học tập.

Ngày 27/8/2016, Bộ môn KTCN, Trường ĐHXD 
Hỏi:

cho e hỏi  e đang làm đồ án kiến trúc.  
nhà e thiết kế 40m2 mật độ xây dựng là 100% vậy e có thể thiết kế ban công nhô ra 1 chút đc k ạ 


Trả lời:  Bmktcn.com đã nhận được thư của em.
Theo Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam, phần nhà được phép nhô quá chỉ giới đường đỏ trong trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ, gắn với điều kiện: 
- Độ cao so với mặt hè lớn hơn và bằng 3,5m;
- Ban công có thể đua ra tối đa: 0m với lộ giới rộng dưới 7m; 0,9m với lộ giới 7-12m; 1,2m với lộ giới 12-15m; 
- Độ vươn ra phải nhỏ hơn chiều rộng của vỉa hè ít nhất là 1m; 
- Trên phần nhô ra chỉ được làm ban công, không được che chắn tạo thành logia hay buồng; 
- Vị trí độ cao và độ vươn ra cụ thể phải phù hợp với cảnh quan chung.

Ngày 15/8/2016, Bmktcn.com


Hỏi:  Thầy cô cho e hỏi: 
Đồ án kiến trúc công nghiệp 1 e co làm và nộp bài sao trên trang đào tạo e lai ko co điểm ah ? 
Trả lời: Bộ môn KTCN đã nhận được thư của em.  
Em cần trình bày rõ: Không có điểm hay là điểm 0; em học tại lớp nào; giảng viên phụ trách và cần phải liên hệ ngay với giảng viên để hỏi rõ lý do tại sao. Có thể do vào điểm nhầm, vào điểm thiếu.... 
Sau đó phải làm ngay đơn xin phúc tra gửi Phòng Đào tạo. 

Ngày 19/7/2016. Chủ nhiệm Bộ môn KTCN. TS. Phạm Đình Tuyển. 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Văn bản quy định của Bộ môn KTCN về thực hiện học phần đồ án KTCN
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Các mẫu văn bản về đào tạo và KHCN có liên quan tại ĐHXD
+ Quy định của Khoa Kiến trúc và Quy hoạch về học phần Đồ án tốt nghiệp từ 3/2017
+ Danh sách cán bộ Bộ môn KTCN, ĐHXD
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ Quyết định số 01/2017/QĐ-TTg ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân
+ Chương trình đào tạo Kiến trúc sư công trình
+ Chương trình đào tạo kiến trúc sư quy hoạch
+ Chương trình khung đào tạo thạc sỹ Kiến trúc - Quy hoạch, ĐHXD
+ Quy định mới về Quy chế đào tạo ĐH hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ của Trường ĐHXD
+ Chương trình khung môn học học phần tiến sỹ chuyên ngành Kiến trúc Công nghiệp
+ Dạy học theo tiếp cận “CDIO” trong đào tạo đại học
+ Chương trình đào tạo và KHCN Bộ môn KTCN Năm học 2018-2019
+ Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam
+ Quyết định 1755/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam
+ NQ số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT
+ Nghị quyết Hội nghị TW 4 (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
+ Nghị quyết 19 năm 2017 về cải thiện môi trường kinh doanh
+ Công bố Báo cáo Việt Nam 2035
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
+ Danh mục hệ thống Văn bản quy phạm pháp luật trên WEB bmktcn.com
Tạo lập doanh nghiệp
Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong trường ĐH: Bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức
18/04/2018
 

Tại Việt Nam, mô hình startup rất phổ biến hiện tại còn mô hình spinoff chưa được quan tâm, phát triển đúng mức, cho dù đã tồn tại các mô hình hỗ trợ cho các hoạt động này, như: doanh nghiệp hỗ trợ chuyển giao công nghệ (CGCN), vườn ươm, hay không gian làm việc chung tại một số ĐH (ĐHBK Hà Nội, ĐHBK Tp Hồ Chí Minh…), hay thậm chí hành lang pháp lý cho việc ra đời các doanh nghiệp khoa học công nghệ (KHCN) trong trường ĐH đã được đề cập rõ nét trong Dự thảo Luật Giáo dục Đại học dự kiến thông qua trong năm nay. Vậy nút thắt nằm ở đâu? 


Công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Công nghệ Bách khoa (BKHoldings) là một doanh nghiệp phụ trách chuyển giao công nghệ và thành lập spin-off từ Đại học Bách khoa Hà Nội. Trong ảnh là buổi làm việc giữa công ty này và CEO của Lotte Data Communication, Ma Young Deuk. Nguồn ảnh: BKHoldings. 

Doanh nghiệp startup và doanh nghiệp spinoff

Khi đổi mới sáng tạo và công nghệ là trung tâm của hoạt động khởi nghiệp thì nơi tạo ra các ý tưởng công nghệ mới có thể được coi là “hạt nhân” của cả hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Đó chính là các cơ sở nghiên cứu và phát triển (R&D), trong đó, đặc biệt là các trường đại học (ĐH), nơi không chỉ đóng góp các ý tưởng công nghệ đột phá, mà còn đóng góp nguồn nhân lực không những giàu tiềm năng công nghệ, mà còn đầy sức trẻ với tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ.

Hiện tại, khởi sự doanh nghiệp từ các kết quả nghiên cứu của trường ĐH có thể được chia thành hai mô hình: startup, và spinoff. Dù còn có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng theo cách hiểu phổ biến (1), với doanh nghiệp startup, các đồng chủ sở hữu doanh nghiệp thường đến từ bên ngoài trường đại học, và đặc biệt họ không sở hữu công nghệ xuất phát từ trường ĐH, mà tiếp cận với nó thông qua hoạt động chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ (licensing). Trong khi đó, nếu trường ĐH cùng với các nhà khoa học đang sở hữu bằng sáng chế về công nghệ mà muốn mình tự xây dựng và phát triển doanh nghiệp (“tự khởi nghiệp”) để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) thì ta có mô hình doanh nghiệp “spinoff”.

Tại Việt Nam, mô hình startup rất phổ biến hiện tại còn mô hình spinoff chưa được quan tâm, phát triển đúng mức, cho dù đã tồn tại các mô hình hỗ trợ cho các hoạt động này, như: doanh nghiệp hỗ trợ chuyển giao công nghệ (CGCN), vườn ươm, hay không gian làm việc chung tại một số ĐH (ĐHBK Hà Nội, ĐHBK Tp Hồ Chí Minh…), hay thậm chí hành lang pháp lý cho việc ra đời các doanh nghiệp khoa học công nghệ (KHCN) trong trường ĐH đã được đề cập rõ nét trong Dự thảo Luật Giáo dục Đại học dự kiến thông qua trong năm nay.

Vậy nút thắt nằm ở đâu?

Khởi nghiệp sáng tạo trong trường ĐH thông qua spinoff: khó khăn bắt đầu từ sự nhận thức

Thực sự thì không phải đợi đến bây giờ, tại một số trường đại học truyền thống tại Việt Nam như: ĐHBK Hà Nội, ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội), ĐH Xây dựng, ĐH Mỏ-Địa chất… từ nhiều năm qua đã thành lập các doanh nghiệp với mục đích là hỗ trợ hoạt động CGCN. Tuy nhiên, trong thực tế triển khai, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp này chủ yếu là tư vấn, giám sát, kiểm định, cung cấp dịch vụ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đến trực tiếp sản xuất, kinh doanh, thi công, trong khi hoạt động quan trọng là CGCN từ kết quả NCKH của chính đơn vị còn rất hạn chế. Đây là khó khăn căn bản khi triển khai các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo – thành lập spinoff – trong trường ĐH. Hơn nữa, khi mà lãnh đạo các trường luôn nhìn nhận danh tiếng của đơn vị mình chiếm tỷ trọng lớn trong sự thành công của doanh nghiệp, thì họ luôn mong muốn “danh tiếng” – thứ tài sản vô hình đó được quy đổi ra một tỷ lệ sở hữu lớn trong doanh nghiệp spinoff, như hiện tại con số này có thể lên tới hàng chục phần trăm, thậm chí 51% theo kiểu cũ sẽ không thể tạo động lực cho doanh nghiệp spinoff tồn tại và phát triển.

Về bản chất spinoff cũng như startup nói chung luôn tiềm ẩn các nguy cơ rủi ro. Các doanh nghiệp này tập trung vào công nghệ mới chưa đủ độ chín, với thị trường có thể chưa thành hình, trong khi trước mắt là vô vàn khó khăn từ vốn, quản trị, vận hành sản xuất, đến phân phối sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng, và không thể không kể tới sự cạnh tranh khốc liệt từ thị trường. Vì vậy, thông thường ngoài sự đóng góp thông qua việc chuyển quyền sử dụng bằng sáng chế, các trường đại học sẽ chỉ đóng góp thông qua “danh tiếng”, và sự hỗ trợ ban đầu về quyền sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, cũng như nhân lực dưới dạng biệt phái cho spinoff. Ngoài ra, các trường đại học nghiên cứu thường là các trường công (bao gồm cả trường công được bao cấp, tự chủ một phần và tự chủ toàn phần), vì vậy, sẽ rất khó để dùng tiền từ các hoạt động khác cho khoản đầu tư rủi ro này. Trong khi, doanh nghiệp mới thành lập thực sự cần tiền mặt cho mọi hoạt động của mình, vì vậy, họ cần các khoản đầu tư khác, có thể từ chính tiền cá nhân của họ, hoặc kêu gọi các nhà đầu tư khác ngoài xã hội. Tuy nhiên, việc các trường ĐH chiếm tỷ lệ sở hữu lớn (thậm chí chi phối) thì sẽ làm giảm sự hấp dẫn của doanh nghiệp với các nhà đầu tư, những người thực sự “đổ xăng” cho cỗ máy spinoff có thể chạy được. Ngoài ra, chiếm giữ cổ phần lớn nghĩa là trường ĐH có khả năng chi phối mạnh các hoạt động của spinoff, trong khi chất lượng nhân sự quản lý doanh nghiệp chắc chắn không phải là một thế mạnh của trường ĐH, chưa kể, tính nhiệm kỳ trong các quyết định là một rào cản không nhỏ cho sự phát triển bền vững của spinoff. Chính vì vậy, thực tế triển khai trên thế giới cho thấy rằng tỷ lệ thành công của các spinoff sẽ càng giảm nếu tỷ lệ sở hữu của trường ĐH càng lớn (2).

Vậy đến đây, câu hỏi được đặt ra lợi ích của hoạt động spinoff này là gì, nếu không phải là lợi nhuận của CGCN? Câu trả lời đôi khi phụ thuộc vào chính sách và sự ưu tiên của từng trường ĐH, trong từng giai đoạn khác nhau, nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể kể tới các lợi ích trực tiếp và gián tiếp như sau:

- Thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm NCKH: các kết quả NCKH thông thường tồn tại ở dạng mô hình, và bản chế thử (prototype), vì vậy không hấp dẫn các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư quan tâm nhiều đến lợi nhuận ngắn hạn. Gần đây, Đài Truyền hình Việt Nam có phát sóng chương trình “Thương vụ bạc tỷ”, và trong chương trình này, chúng ta thường xuyên nghe thấy các nhà đầu tư yêu cầu nhà khởi nghiệp phải đảm bảo sự an toàn cho khoản đầu tư của mình, thậm chí họ còn yêu cầu được cầm cố tài sản. Chính vì vậy, trông đợi vào các nhà đầu tư ngoài xã hội trong các lĩnh vực có yếu tố rủi ro cao như đầu tư công nghệ (đặc biệt là công nghệ mới) là tương đối khó khả thi trong điều kiện Việt Nam hiện tại. Vì vậy, doanh nghiệp spinoff với sự tham gia chủ động và vai trò quan trọng của trường ĐH và đặc biệt là bản thân nhà khoa học, những chuyên gia công nghệ, người hiểu hơn ai hết về “đứa con” của mình sẽ nâng cao tỷ lệ thành công của việc thương mại hóa sản phẩm NCKH.

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội: ngoài nghĩa vụ về thuế, cũng như thu hút lao động, doanh nghiệp spinoff ra đời sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới, khác biệt về công nghệ, qua đó trực tiếp và gián tiếp đóng góp vào sự phát triển của xã hội, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, doanh nghiệp spinoff còn đóng vai trò hình thành các liên kết thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt tại địa phương nơi doanh nghiệp hình thành.

- Thúc đẩy sự phát triển của hoạt động đào tạo và NCKH: các doanh nghiệp spinoff sẽ góp phần tạo ra làn sóng khởi nghiệp sáng tạo trong trường ĐH, qua đó hỗ trợ phát triển NCKH đặc biệt trong các lĩnh vực có khả năng ứng dụng, và tiềm năng thương mại hóa cao, đưa khoa học đến gần hơn với thực tiễn đa dạng của đời sống. Ngoài ra, doanh nghiệp spinoff tạo ra môi trường lý tưởng để sinh viên, và đặc biệt là nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động R&D, và được đào tạo bổ sung các kỹ năng thực tiễn cần thiết, để sau này có thể chính họ cũng sẽ là những hạt nhân khởi nghiệp sáng tạo cho xã hội. Thêm vào đó, sự thành công của hoạt động spinoff sẽ mang lại thêm thu nhập cho những người tham gia, qua đó tạo điều kiện cho trường đại học thu hút và “giữ chân” các giảng viên, các nhà khoa học có trình độ cao, phục vụ cho mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững. Cuối cùng, câu chuyện thành công của các spinoff còn thể hiện một phần trách nhiệm giải trình của các trường ĐH đối với sự đầu tư của xã hội, và qua đó, thu hút thêm được nguồn lực xã hội hóa vào phát triển các cơ sở giáo dục đại học trình độ cao, với định hướng nghiên cứu rõ nét, và là trung tâm của đổi mới sáng tạo.
 

Mô hình spinoff trênthế giới 

Trên thế giới, mô hình doanh nghiệp spinoff khá phổ biến tại các trường đại học ở các nước phát triển. Trong đó đặc biệt ở Mỹ, sự ra đời của Đạo luật Bayh-Dole vào năm 1980, với việc cho phép các đại học có được quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) từ các kết quả nghiên cứu nhận nguồn tài trợ của ngân sách liên bang đã tạo ra một làn sóng phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp spinoff.

Chính sách về doanh nghiệp spinoff có sự điều chỉnh theo từng trường đại học, tuy nhiên đa phần được xây dựng trên nguyên tắc tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp spinoff có thể tồn tại và phát triển, cụ thể:

(i) tỷ lệ sở hữu của trường ĐH khá nhỏ để spinoff trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư, cũng như tạo thêm động lực khởi nghiệp cho nhà khoa học,

(ii) các loại phí, trong đó đặc biệt là phí licensing, được ghi nhận nhưng sẽ được hoàn trả khi doanh nghiệp có lợi nhuận, và (iii) sự hỗ trợ của trường ĐH với spinoff có giới hạn về mặt thời gian, sau thời hạn được nhận hỗ trợ này, spinoff phải có nghĩa vụ đầy đủ với trường ĐH, trong khi trường ĐH thông thường sẽ thoái vốn để tạo điều kiện cho spinoff phát triển mạnh hơn với các nhà đầu tư mới, cũng như thu hồi vốn đầu tư cùng lợi nhuận (nếu có), hay chỉ đơn thuần là tạo “không gian” để hỗ trợ cho các spinoff khác.

Để cụ thể hóa các nguyên tắc nêu trên, qua đó có thể bổ sung các thông tin tham chiếu cho các trường ĐH, dưới đây, bài báo sẽ cung cấp một số thông tin tương đối giá trị về triển khai spinoff tại Mỹ (một số số liệu được lấy từ tài liệu “Hướng dẫn thành lập Spinoff” của  Đại học Carnegie Mellon (CMU) – một trong những trường hàng đầu thế giới trong các hoạt động CGCN (3), cụ thể:

- Về sự hình thành: doanh nghiệp spinoff thường được xây dựng dựa trên nguyên tắc chung: (i) công nghệ “đầu vào” của spinoff phải được bảo hộ SHTT bởi bằng sáng chế; (ii) các cá nhân đề xuất là cán bộ của trường ĐH, đồng thời là tác giả của bằng sáng chế; (ii) kế hoạch kinh doanh được thông qua bởi trường ĐH.

- Về tỷ lệ sở hữu: như đã phân tích ở trên để hoạt động spinoff được phát triển và bền vững, các trường ĐH được khuyến cáo nên giữ tỷ lệ sở hữu thấp, ví dụ: tại CMU với gói thỏa thuận cơ bản, nếu spinoff muốn được độc quyền tiếp cận sáng chế, trường ĐH sẽ sở hữu 6% cổ phần, xác nhận tại thời điểm tổng vốn đầu tư vào doanh nghiệp huy động được đạt tới 2 triệu USD; còn nếu không độc quyền thì tỷ lệ giảm xuống còn 5%. Tại ĐH Los Angeles tại California (UCLA) con số này là 2%.

- Về phí sử dụng sáng chế (royalty), cơ sở vật chất, và con người: theo chính sách của CMU, trường sẽ miễn 3 năm phí sử dụng sáng chế, sau đó, phí được tính là 2% trên tổng doanh thu từ sản phẩm có được nếu độc quyền sáng chế, và con số này là 1% nếu không độc quyền sáng chế. Để việc sở hữu độc quyền không biến thành rào cản cho việc CGCN, giữa trường và spinoff sẽ đặt ra một số mốc thời gian, kèm theo đo lường mức độ hiệu quả để sau đó quyết định có tiếp tục thỏa thuận độc quyền hay không. Quyền sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm được xây dựng dựa trên kế hoạch kinh doanh được phê chuẩn, và theo nguyên tắc không gây ảnh hưởng đến hoạt động chính của trường ĐH, và thời hạn hỗ trợ không thể kéo dài (2 năm với CMU). Trong thời hạn hỗ trợ, các hoạt động này có thể miễn phí, hoặc được tính phí nhưng sẽ chỉ được thu lại khi doanh nghiệp có dòng tiền. Về vấn đề con người, các cán bộ của trường ĐH tham gia vào spinoff có thể nhận được hình thức công tác biệt phái bán thời gian, hoặc toàn bộ thời gian, và sau một khoảng thời gian, tùy theo thỏa thuận ban đầu, họ phải lựa chọn: tiếp tục làm việc cho spinoff, hoặc quay về trường ĐH.

Thực tế, khó có thể có một mô hình spinoff chuẩn có thể áp dụng cho mọi trường ĐH, đặc biệt đối với trường ở các nước đang phát triển như Việt Nam, khi mà nguồn lực từ xã hội còn rất hạn chế. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, spinoff là một trong những cách thức tốt nhất, và có thể nói là văn minh nhất để chứng minh hiệu quả của hoạt động CGCN từ kết quả nghiên cứu. Tại Việt Nam, trong quá khứ đã có nhiều công ty được thành lập và lớn mạnh đến ngày nay với xuất phát điểm từ các trường đại học, và viện nghiên cứu. Có thể kể tới: Công ty FPT, Công ty Sơn Kova, Công ty Polyco, Công ty BKAV, Công ty Netnam, Công ty MISA…, tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, sự nhận thức, hành lang pháp lý và trình độ phát triển trong các giai đoạn khác nhau, nên cũng khó có thể nói đó là các doanh nghiệp theo mô hình spinoff thực sự từ các cơ sở đào tạo và nghiên cứu. Trong bối cảnh mới, trước thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà chỉ số đổi mới sáng tạo được dùng để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia, cũng như sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt, việc phát triển các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong trường đại học là hết sức quan trọng, điều này không những đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội, mà còn tạo ra nguồn lực mạnh mẽ để phát triển nghiên cứu khoa học, và đào tạo trình độ cao, gắn liền với thực tiễn đời sống. 
 

Tạ Hải Tùng 
Nguồn:
http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Doanh-nghiep-khoi-nghiep-sang-tao-trong-truong-dai-hoc-Bat-dau-tu-su-thay-doi-nhan-thuc-11292

---------
Tài liệu tham khảo:
[1] Yumiko Hamano, Commercialization Procedures: Licensing, Spin-offs and Start-ups, WIPO Regional Forum on University - Industry Collaboration to Promote Technology Transfer, Hanoi, Vietnam, November 4th - 7th, 2011.
[2] Ian A. Maxwell,Why Universities are the Worst Shareholders for Spin-out Companies,The IP Strategy Journal, 31 January 2013.

[3] CMU Spin-Off Guidelines, Center for Technology Transfer and EnterpriseCreation, Carnegie Mellon Univer 
 
Tin đã đưa:
"Chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan. Bởi vậy, nhiệm vụ của chi bộ là: làm sao cho toàn thể nhân viên đều cố gắng. Vạch rõ các khuyết điểm và đề ra cách sửa chữa, không để khuyết điểm nhỏ chồng chất lên thành khuyết điểm to"
 
Trong CMCN 4.0, ai không là Công dân kỹ thuật số có thể bị cô lập trong xã hội. Muốn thành Công dân số phải được đào tạo. Có 9 nội dung chính phải học: i) Cách thức truy cập số; ii) Lợi ích và cảnh báo trong thương mại điện tử; iii) Truyền thông kỹ thuật số; iv) Kiến thức và Thiết bị kỹ thuật số; v) Nghi thức kỹ thuật số; vi) Pháp luật kỹ thuật số; vii) Quyền và nghĩa vụ kỹ thuật số; viii) Sức khoẻ khi thực hiện kỹ thuật số; ix) Bảo mật số. Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi sử dụng kỹ thuật số để giao dịch, có tỷ lệ tồn tại gấp 2 lần so với không sử dụng kỹ thuật số. Các bạn SV trường ĐHXD thử tự đánh giá Mức độ quan tâm về đào tạo Công dân số:
 
 
Thông báo

Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com