Tuần 20 - Ngày 17/12/2025
SỰ KIỆN TRONG TUẦN
Hỏi:

Em cảm thấy vô hướng quá  

Em chào thầy ạ, em là 1 sinh viên đang theo học tại trường Đại học Xây dựng Hà Nội và cũng đang học trong lớp Kiến trúc Công nghiệp của thầy ạ. Em có 1 số vấn đề nội tâm rất mong muốn được thầy giúp đỡ và mách bảo ạ. 
Vấn đề chính em đang gặp phải là em cảm thấy rất vô hướng như trong tiêu đề ạ. Em thấy bản thân mình không có tý năng lực nào để mai sau có thể hành nghề kiến trúc sư. Hiện tại em bị nản chí và cũng lo sợ nữa. Em vào trường cũng vì ước mơ có thể xây ngôi nhà do chính mình thiết kế và hành nghề. Nhưng em cảm thấy mình không đủ năng lực để có thể hành nghề, kiến thức trên trường là vô cùng lớn mà dù e đã học rồi nhưng lại bị quên lãng chỉ sau 1 học kỳ. Em cũng không giỏi vẽ và vẽ rất xấu nếu vẽ tay thì nhìn rất trẻ con và thiếu chuyên nghiệp, nhìn các bạn khác em cảm thấy rất tự ti, Em cũng không biết mình còn có thể đủ trình độ để đi thực tập không nữa. Chuyên môn của em em tự đánh giá là khá tệ, em rất suy sụp và cố gắng học những gì có thể mà chuyên ngành cần. Thầy có thể cho em xin ý kiến và liệu có giải pháp khắc phục không ạ, em rất sợ rằng nếu hành nghề thì bản thân không giỏi giang thì kinh tế làm ra sẽ bị thấp, không đủ sống. Vậy em phải làm sao ạ. 


Trả lời:

Thày đã nhận được thư.

Năng lực tự thân thời điểm này là kết quả của năng lực tự rèn luyện giai đoạn trước. Như em nêu trong thư, năng lực tự thân yếu, trước hết thể hiện:
i) Kiến thức chuyên môn còn nhiều khoảng trống và ngày càng rộng ra, do việc học không chăm chỉ;
ii) Trình bày bản vẽ kiến trúc xấu, do không cẩn thận khi thiết kế;
iii) Mất niềm tin vào chính mình, nản chí và dẫn đến lo sợ cho tương lai. 
Phải thấy đó là điều không tốt đẹp do chính em gây ra, để có trách nhiệm mà sửa mình. 
Được gia đình hỗ trợ, có sức khỏe và năng lực để học đến năm thứ 3, là may mắn lắm, khi so sánh với rất nhiều thanh niên người Việt khác. 

Một số việc phải làm ngay: 
i) Thay đổi ngay nhận thức cũ: Ta phải trở thành người tài với cả kỹ năng cứng và mềm phù hợp để cạnh tranh và hợp tác, không chỉ trong kiến trúc mà cả lĩnh vực liên quan khác mà xã hội đang cần và tạo ra giá trị gia tăng;
ii) Sử dụng thời gian hợp lý: Một ngày ngủ đủ 6- 7 tiếng để tái tạo sức lao động. Thời gian còn lại dành cho: Học ngoại ngữ và chuyển đổi số; Đi học đầy đủ và lắng nghe bài giảng; Đọc sách và tài liệu bổ sung kiến thức; Chủ động trao đổi chuyên môn với giảng viên và bạn bè;
iii) Chăm chỉ tự học tập: Lời chê ghê gớm nhất là Kẻ lười nhác. Từ Kẻ lười nhác đến Kẻ hèn hạ và vô dụng rất gần nhau. Không phải lúc nào cũng có người bên cạnh mà học hỏi, mà phải có kế hoạch tự học, từ trong sách vở đến mạng xã hội và thực tế;
iv) Mở ra với thế giới bên ngoài: Tìm người có đức, có tài mà chơi để học kiến thức và sự đồng thuận; Ra với môi trường tự nhiên mà hòa vào trong đó. Sẵn sàng trải nghiệm làm những điều tốt đẹp; 
v) Còn 2 năm nữa mới ra trường. Phải học để tốt nghiệp đại học, điểm khởi đầu sự nghiệp của một người tri thức. Đây là thời gian đủ để em tìm lại sự cân bằng cảm xúc và tận tâm thay đổi chính mình.

Nếu có vấn đề gì về việc học tập có thể trao đổi với thày. Thày sẵn sàng đồng hành.

Ngày 4/11/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 
Hỏi:

Em kính chào thầy ạ.
Em đang đọc lần 2 quyển sách Nghĩ giàu làm giàu, xuất bản lần đầu năm 1937. Quyển sách được viết từ 90 năm trước nhưng nó vẫn đang phản ánh nhiều thực tế.
Em đã đọc được rằng "các cơ sở giáo dục cần có trách nhiệm hơn nữa trong việc định hướng nghề nghiệp cho sinh viên".
Em nghĩ đó là việc các thầy đang làm không ngừng. 
Em viết mail này để cảm ơn công việc của thầy ạ.

Em cảm ơn thầy đã đọc ạ.
Sinh viên 60KD3


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Rất cám ơn về những dòng chia sẻ, động viên. 
Định hướng nghề nghiệp cho sinh viên không chỉ liên quan đến việc đào tạo kỹ năng cứng mà còn phải là kỹ năng mềm, liên quan trước hết đến năng lực đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. 
Cuốn sách "Nghĩ giàu, làm giàu" chỉ là một trong những nội dung mà thế hệ trẻ quan tâm.
Điều lớn lao hơn là họ phải có năng lực tự thân và năng lực tự rèn luyện để hình thành sự nghiệp và trở thành người tốt cho gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với chuẩn mực chung của loài người trong thế kỷ 21. 
Sinh viên là tương lai của thày.
Thày cùng các thày cô giáo khác đang nỗ lực hết sức để biến tương lai tốt đẹp đó thành hiện thực. 
Thày đang viết một cuốn sách với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cho sinh viên (và cựu sinh viên) trong lĩnh vực xây dựng'. Dự kiến tháng 5/2023 xuất bản. 
Chúc mọi điều tốt lành. 
Ngày 8/3/2023; Thày Phạm Đình Tuyển 

 
 
Hỏi:

 

Thưa thầy, em xin gửi kết quả bigfive mới của bản thân, qua đây em cũng xin cảm ơn thầy vì thông qua bài khảo sát bigfive và những lời thầy nói, em đã cố gắng khắc phục những yếu điểm của bản thân và cũng như trau dồi thêm kiến thức để khai phá bản thân, và thực tế đã có những chuyển biến tích cực trong cuộc sống và công việc của em, tuy vậy bản thân em cũng vẫn còn những thiếu sót, những điều em chưa thay đổi đc, em mong thầy thông cảm và trân thành cảm ơn thầy đã lắng nghe em.

 

Sinh viên Khóa 53KD, Khoa Kiến trúc Quy hoạch, ĐHXD Hà Nội

 


Trả lời:

 

Đã nhận được kết quả Big Five. Nên ghép thêm kết quả của những sinh viên khác, người khác để có thể so sánh và rút ra được nhận xét ta là ai và từ đó tự sửa mình. 

Kết quả cho thấy: Tính cách (hay kỹ năng mềm) thuộc loại trung bình. Yếu về tính hướng ngoại. 

Từng bước, từng bước mà cố gắng hơn. 

 

Ngày 3/2/2023, thày Phạm Đình Tuyển 

 


Hỏi:  Em gửi thầy kết quả Big Five ạ.




Trả lời: Thày đã nhận được kết quả đánh giá Big Five của em. 
Sau một năm tự nhìn nhận mình là ai và đã có những thay đổi . 
Tính cách Tận tâm và Hướng ngoại được cải thiện so với trước. 
Tính cách Cân bằng cảm xúc vẫn yếu như cũ. Theo các nghiên cứu mà thày được biết, tính cách Cân bằng cảm xúc là cốt lõi. Mọi năng lực hoạt động chuyên môn, xã hội của một con người đều dựa vào đây mà ra cả. 
Ta có mặt trên đời này đều có nguyên cớ tốt đẹp nào đó.  Phải tự tin hơn nữa vào chính mình, trước hết là từ công việc chuyên môn, nay chính là đồ án tốt nghiệp. 
Thày sẽ hỗ trợ chuyên môn để em có kết quả tốt nhất trong việc thực hiện học phần Đồ án tốt nghiệp. 
Ngày 10/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển.  
 

Hỏi: E chào thầy ạ! E là Thắng ,sinh vien nhận đồ án tốt nghiệp nhóm thầy, nhóm mình có nhóm zalo riêng hay thế nào để trao đổi về đồ án k ạ ? Em tìm sđt thầy để add Zalo nhưng không được ạ! Em cảm ơn thầy.
Trả lời: Trao đổi trực tiếp với thày qua mail. 
 
Một số nội dung chính thực hiện trong 4 tuần đầu tiên: :
 
1) Đọc kỹ các yêu cầu về nội dung Học phần đồ án tốt nghiệp của Khoa và Bộ môn KTCN; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành ngay trong tuần thứ 1)  
2) Báo cáo về tên đề tài tốt nghiệp, vị trí cụ thể khu đất dự kiến theo tỷ lệ 1/500 (hoàn thành trong tuần thứ 1)
3) Chuản bị các quy định, tiêu chuẩn thiết kế có liên quan đến đề tài; in thành một bộ hồ sơ, khi đi thông qua mang theo (hoàn thành trong tuần thứ 2)
4) Tìm 5 ví dụ trên thế giới về các công trình tương tự với loại hình dự kiến trong đề tài tốt nghiệp; nhận xét và đánh giá, kết luận rút ra để có thể ứng dụng cho đề tài (4 tuần phải hoàn thành); 
5) Đọc lại các nguyên lý thiết kế kiến trúc đã được học (phải làm ngay và liên tục cho đến khi bảo vệ đề tài);
6) Nên tự đánh giá Ta là ai. Đánh giá theo phần mềm  Big Five- tính cách sinh viên, để thày biết rõ hơn về sinh viên. 
Phần mềm đánh giá: http://talaai.com.vn/   (talaai.com.vn)
Sau đó gửi ngay kết quả đánh giá tính cách cho thày, để có thể hỗ trợ. 
 
Gặp nhau 2 tuần/lần. Mỗi lần gặp cần chuẩn bị sẵn câu hỏi để có thể trao đổi tối đa những vấn đề liên quan đến đề tài tốt nghiệp mà không tự trả lời được. 
Địa điểm gặp: Chiều thứ tư hàng tuần, từ 16h - 17h30 tại Văn phòng Bộ môn KTCN. 
 
Đồ án tốt nghiệp là một sự kiện quan trọng của đời người lao động trí óc. 
Phải nỗ lực hết sức và dành tất cả thời gian, nguồn lực cho đồ án. Từ đây mới có kết quả tốt nhất, để trải nghiệm, hình thành năng lực cần thiết chuẩn bị cho việc ra trường và làm việc với vô số những người tài khác trong xã hội. 
 
2/6/2022. Thày Phạm Đình Tuyển. 
 

Hỏi:  Em chào bộ môn ạ, em là Hoàng Đức Dương lớp 66XD8 msv-0013966 đang làm bài tiểu luận về công trình dân dụng ạ em thấy bộ môn có đăng bài về công trình galaxy soho ở Trung Quốc vậy em muốn xin bộ môn cho em bài đăng đó được không ạ, em xin cảm ơn bộ môn,em chào bộ môn ạ.


Trả lời: Trang WEB bmktcn.com được thành lập với mục tiêu chính là phục vụ sinh viên. Đương nhiên là em được đăng lại các bài viết trên trang WEB này. 
Chủ  biên: TS. Phạm ĐÌnh Tuyển 

Hỏi:

Em gửi thày bài Trắc nghiệm tính cách – Big Five (talaai.com.vn)


Trả lời:

Thày đã nhận được biểu tượng Big Five của em. Đây là Big Five rất điển hình của sinh viên. Em còn là người mạnh về Hướng ngoại, một tính cách rất được coi trọng trong Thời đại liên kết và hội nhập. 
Do còn trong giai đoạn là sinh viên gắn với Học hỏi, Học tập là chính và chưa có Học hành, nên tính cách Tận tâm của em còn thiếu mạnh mẽ so với tính cách khác.  
Khi làm việc trong doanh nghiệp hay tổ chức nào đó, người sử dụng lao động đánh giá trước hết tính cách Tận tâm và là kỹ năng mềm cơ bản của mỗi nhân viên. 
Không đợi đến lúc ra trường, ngay từ bây giờ em dành quan tâm hơn cho tính cách này. Nếu làm được như vậy, sẽ thuận lợi hơn khi thử việc và nhiều cơ hội hơn trong sự nghiệp. 
Khi trắc nghiệm Big Five, Tận tâm cũng là tính cách nổi trội của thày. Trong công việc, thày luôn có thiện cảm với những người Tận tâm. 
Chúc em sớm trở thành con người thật sự Tận tâm. 

Ngày 24/4/2021, Thày Phạm Đình Tuyển. 


Hỏi:

Em thưa thầy, thầy có thể cho em hỏi làm sao mình có thể kết nối làm quen với những người giỏi hơn mình ạ, em cảm ơn thầy.


Trả lời:

Thày đã nhận được thư của em.
Đối với một đất nước: Hiền tài như nguyên khí quốc gia. Mạnh hay yếu từ đó mà ra cả.
Đối với một cá nhân: Suốt cả đời gắn với việc học: Học cái gì và học thày nào. Và sự học luôn đi cùng với sự sang trọng và thịnh vượng.
Những người giỏi hay người hiền tài có thể thức tỉnh cho ta học cái gì một cách hiệu quả và qua đó họ cũng trở thành thày của ta.
Người tài giỏi là người làm những việc mang lại giá trị gia tăng cao mà người thường không làm được. Người hiền tài là người mang tài của mình ra giúp xã hội.
Vị thế xã hội cấp độ nào thì có người tài, người hiền tài cấp độ đó, ví như người tài giỏi trong lớp, trong trường, trong ngành, trong vùng, trong quốc gia và thế giới.
Mỗi người thường tìm và chơi với người giỏi phù hợp với vị thế của họ. Khi tiến bộ, sang một vị thế mới cao hơn, lại tìm thày giỏi tương xứng ở vị thế đó mà học.
Khi đã tài giỏi trong một vị thế, chính ta lại trở thành người thày để dẫn dắt những người khác chưa có điều kiện giỏi bằng ta. Từ đây ta cũng có được phẩm cách của người chủ và người lãnh đạo.  
Khi đã hiểu được sự cần thiết của việc tìm người giỏi hay người hiền tài để học và hành, thì tất yếu ta sẽ tự thay đổi để tìm được cách kết nối với họ.
Những hiền tài luôn mong muốn làm những điều tốt đẹp. Vậy hãy thể hiện cho họ thấy tính cách của ta cũng luôn mạnh mẽ hướng về điều đó.
Là sinh viên, trước hết hãy tìm thày hay người giỏi trong lớp, khoa, trường; trong gia đình và dòng họ để học.
Thày chúc em sớm thành công.

Ngày 19/4/2021. Thày Phạm Đình Tuyển


Hỏi:

Em thưa thầy (cô). Trong quá trình làm đồ án thì trong lớp có nhóm không hoà đồng được và bạn trong nhóm xin sang nhóm khác. Vậy bạn đó đề xuất chuyển nhóm với thầy trong buổi thông tới luôn được không ạ? Em cảm ơn ạ!


Trả lời:

Bộ môn đã nhận được thư của em. 
Học kỹ năng mềm phối hợp với các thành viên có liên quan trong hoạt động tư vấn là một trong những mục tiêu của việc Làm đồ án theo nhóm. 
Ai cũng phải nỗ lực tự học điều này để đình hình được nhận thức: Sức mạnh và vị thế của một tổ chức chủ yếu được xây dựng trên nền tảng của việc "Cùng nghĩ,Cùng làm".Từ đó mới mong công việc đạt được hiệu quả cao nhất.
23/4/2019. Thày Phạm Đình Tuyển 


Hỏi:

Em chào thầy, các câu trả lời của thầy khiến em thấy rất hữu ích. Em muốn hỏi thầy khi thầy gặp những bế tắc hay thất bại trong cuộc sống thầy đã tự khắc phục như thế nào, có khi nào thầy cảm thấy mệt mỏi với công việc của mình không. Hiện tại có những lúc em cảm thấy kém cỏi so với  người khác, xin thầy cho em lời khuyên được không ạ?

Em cảm ơn thầy rất nhiều. 
Trả lời:


Thày đã nhận được thư của em 
Chắc chắn trong cuộc đời không có ai chỉ toàn thành công cả. 
Trong hoạt động chính trị, thất bại là gắn với tính mạng. 
Trong hoạt động kinh tế, thất bại là gắn với thiệt hại về kinh tế và thời gian.
Trong hoạt động xã hội, thất bại là mất niềm tin và vị thế… 

Trong thời đại hội nhập ngày nay, con người phải cạnh tranh với những đối thủ rất mạnh mà trong nhiều trường hợp ta còn chưa biết nhiều về họ; giống như đi thi Olimpic mà không biết sẽ phải thi môn gì; đến đó mới rõ. 
Chính vì vậy, xã hội bây giờ cần những người: i) Tư tưởng tiến bộ; ii) Yêu tự do; iii) Hoạt động đa năng và biết liên kết với nhiều người để làm nhiều việc; trong đó đặc biệt với em là nhân tố thứ ba. 

Nếu một người chỉ chăm chăm làm một việc; việc đó thất bại có nghĩa là mất tất cả. 
Nếu một người làm ba việc; một việc thành công, hai việc thất bại, điều đó cũng chấp nhận được.
Nếu một người làm năm việc; ba việc thành công, hai việc thất bại, điều đó được coi như đã thành công.  

Đã đi học được đến bậc đại học, chắc chắn em có cơ hội hơn rất nhiều người không có điều kiện đi học ngoài xã hội kia (thậm chí nhiều người còn khuyết tật). 
Hãy học và rèn luyện trở thành người đa năng, nghĩa là tập làm nhiều việc một lúc (ưu tiên là việc theo chuyên môn giỏi nhất của mình, tiếp đến là việc mà xã hội đang cần và cuối cùng là việc mà mình yêu thích). Cũng chính từ đây em sẽ tìm được những mặt mạnh của mình.
Đối với những người tri thức, trong tâm thức của họ không có chỗ cho từ “bế tắc” và “mệt mỏi”, chỉ có từ “khó khăn” và “sáng tạo” để vượt qua mà thôi. (Tất nhiên, trong cuộc sống ai cũng phải chịu những nỗi đau buồn, ví như sự mất mát của người thân, bạn bè, đồng loại). 
Một điều nữa em cũng cần biết: Sức mạnh để làm những điều khác biệt và sẽ thành công, không phải chỉ xuất phát từ bản thân em, từ thế giới thực tại này, mà còn được khởi nguồn từ sức mạnh tinh thần của tiền nhân, tổ tiên và dòng họ gia đình em. Vì vậy, phải tìm hiểu, học để phát huy cho được sức mạnh tinh thần này, thậm chí biến thành niềm tin cốt lõi của mình.  

Chúc em trở thành con người đa năng và thành công.  

Ngày 4/12/2018. Thày Phạm Đình Tuyển  

 


Thông tin định kỳ
+ Câu hỏi ôn thi môn học Kiến trúc CN - DD
+ Câu hỏi ôn thi môn học KTCN
+ Bảng giờ lên lớp
+ Giải thưởng Loa Thành
+ Quyết định số 1982/QĐ-TTg phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam
+ NĐ 111/2024/NĐ-CP quy định về hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động XD
+ NĐ 238/2025/NĐ-CP quy định về chính sách học phí, chi phí học tập và giá dịch vụ trong GD, ĐT
+ Luật số 47/2024/QH15 của Quốc hội: Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn
+ Luật số 93/2025/QH15 của Quốc hội: Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
+ Hệ thống tài liệu phục vụ thực hiện học phần Đồ án KTCN và Công trình đầu mối HTKT
+ Danh mục các video trên WEB bmktcn.com
+ Danh mục các dự án quy hoạch KCN tại VN
+ Danh mục dự án QH các KKT ven biển Việt Nam
+ Danh mục dự án QH các KKT cửa khẩu tại VN
Tin tức chung
'Nghiên cứu phải hướng tới kết quả cuối cùng là phát triển đất nước'
14/07/2025
 

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng có buổi làm việc với Đại học Bách khoa Hà Nội vào ngày  4/7/2025. Tại đây, ông mong muốn trường đổi mới về tư duy quản lý, xác định rõ sứ mệnh, mục tiêu và có những giải pháp cụ thể để tạo đột phá.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng hoạt động nghiên cứu phải hướng tới kết quả cuối cùng là làm ra của cải vật chất, góp phần phát triển đất nước.

Dưới đây là những mong muốn của ông trong buổi làm việc với ĐHBK Hà Nội, và cũng là mong muốn cho các cơ sở đại học tại Việt Nam. 

 

 

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng trong cuộc làm việc với Đại học Bách Khoa Hà Nội, ngày 4/7. Ảnh: TTTT

 

Tôi rất vui khi có mặt tại Đại học Bách khoa Hà Nội - một ngôi trường có bề dày truyền thống hơn 65 năm và là biểu tượng về đào tạo kỹ thuật và nghiên cứu công nghệ ở Việt Nam. Tốt nghiệp Bách khoa Hà Nội luôn là một tự hào.

Đại học Bách khoa là một trong những lực lượng nòng cốt trong hệ sinh thái khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số (KHCN/ĐMST/CĐS) của Việt Nam.

Cũng tại đây, chúng ta nhìn thấy một năng lực nội tại rất lớn, một nền tảng vững chắc để trở thành trung tâm sản xuất công nghệ, sản sinh đổi mới sáng tạo, không chỉ của Việt Nam mà của khu vực và thế giới.

Hôm nay, tôi muốn trao đổi về một số thách thức và đặc biệt là các định hướng chiến lược mà tôi tin Đại học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBK) có thể tiên phong thực hiện, trở thành mô hình dẫn dắt hệ thống đại học kỹ thuật của cả nước.

 

Những thành tựu nổi bật

Thứ nhất, ĐHBK đã xây dựng được các trung tâm xuất sắc về nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Đó là Trung tâm Nghiên cứu liên ngành về công nghệ cao (INCHEM), phát triển các công nghệ tiên tiến về vật liệu, sinh học, robot... Đó là Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Trí tuệ nhân tạo (BKAI), là trung tâm đầu tiên trong hệ thống công lập có năng lực nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo về AI, nhận được tài trợ của các tập đoàn công nghệ lớn.

Thứ hai, ĐHBK có nhiều thành tích trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Số lượng bài báo quốc tế tăng mạnh, trên 2.000 bài/năm, dẫn đầu khối công lập. Hơn 200 sản phẩm, quy trình công nghệ đã được chuyển giao cho doanh nghiệp.

Thứ ba, ĐHBK là đơn vị tiên phong trong hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp và chuyển giao công nghệ trong lòng đại học. Vận hành mô hình Bách Khoa Innovation Hub để hỗ trợ sinh viên làm satrtup và spin-off từ giảng viên. Hàng chục doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu tại trường đã ra đời, như BK Holdings, BKAV, VietSearch, VnTrack... ĐHBK là một trong số rất ít đại học có mô hình sở hữu doanh nghiệp spin-off hiệu quả, có thu và tái đầu tư trở lại trường.

Thứ tư, ĐHBK có hợp tác tốt với các doanh nghiệp trong nước và quốc tế. Trường có hợp tác chặt chẽ với các tập đoàn như VinGroup, Viettel, Samsung, Honda, Toshiba... Là đại học Việt Nam đầu tiên xây dựng mô hình trường và doanh nghiệp đồng hành phát triển công nghệ, như BK Holdings hợp tác với các doanh nghiệp của Nhật, Hàn, Đức. Trường được các tổ chức quốc tế như World Bank, DAAD, KOICA... tài trợ các chương trình nâng cao năng lực ĐMST.

Thứ năm, ĐHBK đã đào tạo được nhiều nhân lực chất lượng cao phục vụ KHCN/ĐMST/CĐS. Hơn 35.000 sinh viên đang theo học, với hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp hàng năm phục vụ ngành công nghiệp công nghệ số, năng lượng, môi trường... Đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ công nghệ có định hướng ứng dụng rõ ràng. Triển khai học phần ĐMST, khởi nghiệp, sở hữu trí tuệ cho mọi sinh viên.

 

Một số tồn tại

Thứ nhất, tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn thấp. Mặc dù số lượng đề tài, bài báo quốc tế nhiều, nhưng số hợp đồng chuyển giao công nghệ giá trị lớn rất hạn chế. Doanh thu từ thương mại hóa công nghệ thường chỉ xung quanh 20 tỷ đồng/năm, chiếm 1% doanh thu của trường, trong khi các đại học nghiên cứu thì con số này phải gấp 5-10 lần. Nguyên nhân chính ở đây là cơ chế sở hữu trí tuệ còn lúng túng, thiếu lực lượng trung gian để thương mại hóa kết quả nghiên cứu một cách chuyên nghiệp, văn hóa nghiên cứu - công bố mạnh, nhưng nghiên cứu - ứng dụng chưa mạnh, chưa thành thói quen. Kết quả nghiên cứu do trường/nhóm nghiên cứu tạo ra có khi lại được mang đi làm riêng (làm ăn cá nhân, chuyển giao không qua trường), thay vì thương mại hóa minh bạch để mang lại doanh thu cho trường. Nguyên nhân sâu xa là thiếu cơ chế tài chính linh hoạt, thiếu quy chế nội bộ rõ ràng về sở hữu trí tuệ, về góp vốn bằng IP, về tỷ lệ ăn chia khi thương mại hóa; cơ chế khuyến khích chưa đủ rõ, đủ mạnh, nên làm riêng thì nhanh hơn, lợi hơn; thiếu đơn vị chuyên nghiệp trong trường để hỗ trợ thương mại hóa, bởi vì chuyển giao công nghệ là công việc phức tạp, cần nhiều kiến thức, kỹ năng mà nhà nghiên cứu không có, nên đi làm riêng không cần hợp đồng gì cả cho dễ.

Công thức về chi và tạo ra doanh thu của 3 nhà (Nhà nước - viện - doanh nghiệp) như sau: Nhà nước chi 1 đồng cho viện nghiên cứu, viện phải tạo ra 0,1-0,2 đồng từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, kết quả nghiên cứu này đến doanh nghiệp phải tạo ra 5-10 đồng doanh thu, tương đương 2-4 đồng giá trị gia tăng, tức là 2-4 đồng GDP. Với ĐHBK Hà Nội, hàng năm nhận khoảng 200 tỷ nghiên cứu các loại, thương mại hóa thu về được khoảng 20 tỷ (10%), là đã đạt mức thấp, nhưng doanh thu gián tiếp từ các kết quả nghiên cứu thị trường chưa theo dõi (nếu đạt mức yêu cầu phải 2.000 tỷ/năm). Đây là các con số định hướng để chúng ta đánh giá hiệu quả các khoản chi cho nghiên cứu phát triển công nghệ, đánh giá về tác động đến nền kinh tế của các khoản chi này.

Mục tiêu của chúng ta là mỗi năm, các kết quả nghiên cứu KHCN, từ khoản chi 25.000 tỷ của nhà nước, phải đi tới doanh nghiệp, tạo ra sản phẩm và góp phần tạo ra được 250.000 tỷ doanh thu thương mại, tương đương khoảng 100.000 tỷ giá trị gia tăng (chiếm 1% GDP). Nếu ĐHBK xác định mình một cách rất khiêm tốn là chiếm 1% trong hoạt động KHCN của cả nước thì các kết quả nghiên cứu hàng năm của trường phải góp phần tạo ra 2.500 tỷ doanh thu mới cho các doanh nghiệp, nếu 2% thì doanh thu là 5.000 tỷ đồng. Bởi vì, nghiên cứu phải hướng tới kết quả cuối cùng là phát triển đất nước, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, nhất là khi Đảng và Nhà nước đã xác định Việt Nam phát triển dựa trên KHCN, ĐMST và CĐS. ĐHBK từ nay phải thực hiện theo dõi các kết quả nghiên cứu đi tiếp vào doanh nghiệp như thế nào. Bởi vì, Bộ KH&CN khi xét duyệt cấp kinh phí nghiên cứu sẽ dựa trên kết quả cuối cùng của nghiên cứu trước đó.

Thứ hai, thiếu chiến lược ưu tiên công nghệ hoặc lĩnh vực mũi nhọn, chưa có các đột phá đặc biệt, các nhóm nghiên cứu hoạt động như các "tiểu vương quốc riêng", cơ chế tài chính bị hành chính hóa, nặng về thủ tục, chưa hướng tới các mục tiêu cần đạt được.

Thứ ba, đổi mới chậm trong một số ngành kỹ thuật truyền thống. Một số lĩnh vực kỹ thuật cốt lõi truyền thống (cơ khí, điện tử...) đang tụt hậu so với các lĩnh vực mới là CNTT, CNS, dữ liệu lớn.... Tụt hậu về thu hút sinh viên và hợp tác doanh nghiệp. Liên ngành còn rời rạc. Thí dụ, thiếu mô hình kỹ sư cơ khí + dữ liệu + tự động hóa, nên khó tạo ra các giải pháp công nghệ 4.0 hoàn chỉnh.

Thứ tư, cơ chế nhân sự, đánh giá nhà khoa học vẫn nặng về bài báo, nhẹ về ứng dụng. Một số giảng viên có kết quả nghiên cứu ứng dụng tốt nhưng không được đánh giá cao vì thiếu bài báo ISI. Không có lộ trình nghề nghiệp rõ ràng cho giảng viên doanh nghiệp, nhà đổi mới, mới chỉ có chuẩn nghề nghiệp về giảng viên nghiên cứu.

Thứ năm, thiếu cơ chế phối hợp cấp nhà nước trong các nhiệm vụ lớn. ĐHBK có năng lực làm đầu mối dự án công nghệ chiến lược quốc gia, nhưng chưa được giao các nhiệm vụ lớn, liên ngành mang tầm quốc gia đặc biệt, với ngân sách hàng ngàn tỷ đồng.

Để giải quyết những tồn tại kéo dài này, đầu tiên là thể chế. Thể chế cơ bản đã được giải quyết trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vừa ban hành. Các nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sẽ nhanh chóng được ban hành trong quý III này. Phần còn lại là các quy chế nội bộ của ĐHBK. Các đồng chí có thể làm lại các quy chế này ngay bây giờ. Và cũng cần xong ngay trong quý III này.

 

Một số định hướng khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng Trung tâm Công nghệ nền (Deep-tech Core Lab). Mục tiêu là trở thành đầu não quốc gia về công nghệ lõi: MEMS, AI công nghiệp, vật liệu mới, cảm biến, pin hydrogen, tự động hóa... Là nơi ươm tạo công nghệ, mở cửa cho doanh nghiệp, startup và tỉnh/thành cùng sử dụng. Chuyển dịch ĐHBK từ giảng dạy, nghiên cứu sang sáng tạo công nghệ lõi. Thu hút các dự án cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt, viện trợ quốc tế, doanh nghiệp lớn. Thu hút các nhà khoa học toàn cầu về giải các bài toán lớn, có tính đột phá chiến lược của Việt Nam.

Thứ hai, thí điểm mô hình giảng viên - doanh nhân công nghệ. Cho phép giảng viên vừa nghiên cứu - giảng dạy vừa vận hành công ty spin-off. Gắn kết đánh giá học thuật với giá trị ĐMST. Nhằm tạo ra đội ngũ nhà khoa học doanh nhân, là trụ cột cho hệ sinh thái ĐMST nội sinh. Chuyển đổi từ văn hóa "điểm số" sang văn hóa tạo ra giá trị thực.

Thứ ba, thiết lập quỹ đầu tư công nghệ nội bộ (Innovation Fund). Mục tiêu là góp vốn vào startup bằng IP của trường, huy động thêm vốn của tư nhân và của Nhà nước vào đầu tư mạo hiểm cho các công nghệ gốc của trường. Nhằm tạo dòng vốn quay vòng từ nghiên cứu -> startup -> lợi nhuận -> đầu tư lại, tạo nên tính tự chủ, không lệ thuộc ngân sách nhà nước.

Thứ tư, ĐHBK trở thành tổng thầu trí tuệ (Intellectual Prime Contractor). Mục tiêu là làm tổng thầu các dự án công nghệ tích hợp cấp quốc gia (như chuyển đổi số công nghiệp, đô thị thông minh, năng lượng, giám sát môi trường,...). ĐHBK không chỉ nghiên cứu mà triển khai toàn trình các giải pháp cho xã hội, tạo doanh thu lớn, nâng vị thế quốc gia.

Thứ năm, thí điểm mô hình hệ sinh thái ĐMST theo ngành. Mục tiêu là đổi mới theo các ngành: năng lượng, AI, vật liệu số, giao thông, y sinh... Mỗi ngành có lab, doanh nghiệp liên minh, startup, sandbox chính sách, nhằm tập trung nguồn lực, tăng tỷ lệ thương mại hóa, hình thành các vùng đổi mới sâu ngay trong lòng đại học. Hệ sinh thái theo ngành bao giờ cũng sát thực tế hơn, sâu hơn và dễ làm hơn.

ĐHBK không chỉ cần làm tốt đào tạo và nghiên cứu, mà phải có bước nhảy vọt, trở thành trung tâm KHCN và ĐMST của quốc gia, nơi hội tụ doanh nghiệp, nhà đầu tư, địa phương và nhà nước. Năm hướng đột phá trên sẽ đưa ĐHBK từ đại học nghiên cứu thành đại học chủ lực về ĐMST quốc gia, góp phần đưa Việt Nam vào chuỗi giá trị công nghệ cao toàn cầu.

 

Về 3 giải pháp có thể giúp ĐHBK trở thành đại học ĐMST hàng đầu khu vực và thế giới, vượt qua mô hình truyền thống của phương Tây.

Thứ nhất, xây dựng mô hình Tổ hợp đại học công nghệ quốc gia (National Tech-University Complex). Tái định vị ĐHBK thành một tổ hợp quốc gia về đào tạo - công nghệ - sáng tạo - thí nghiệm chính sách, bao gồm: Đại học kỹ thuật chủ lực, các viện nghiên cứu công nghệ ứng dụng (Applied Research Institutes), quỹ đầu tư công nghệ (Innovation Fund), vùng thử nghiệm công nghệ (Tech-Sandbox Zone), các liên minh công nghiệp (Industry Clusters). Điểm khác biệt ở đây là ĐHBK không chỉ là một trường đại học, mà là một hệ sinh thái công nghệ. Trường vừa đào tạo, vừa sản xuất công nghệ, vừa thử nghiệm chính sách công nghệ. Định hướng này là khả thi vì ĐHBK đã có những cái cốt lõi, một đại học mạnh, có viện nghiên cứu, các doanh nghiệp đối tác uy tín. Chỉ cần thêm khung pháp lý sandbox để vận hành linh hoạt.

Thứ hai, cơ chế Đại học bảo hộ sáng chế (IP Guardian University). ĐHBK đi đầu cả nước với cơ chế: giảng viên, sinh viên, kỹ sư ở bất cứ đâu, nếu có sáng chế kỹ thuật công nghệ, đều có thể nhờ trường đăng ký, bảo hộ, định giá và thương mại hóa. Trường trở thành người giám hộ tài sản trí tuệ cho cộng đồng kỹ sư Việt Nam, có thu phí dịch vụ, thu phần trăm khi thương mại hóa thành công. Tức là trường không chỉ quản lý IP nội bộ, mà còn mở rộng dịch vụ IP ra ngoài xã hội, giống như mô hình Technology Licensing Office - TLO (Đại học Standford của Mỹ) hoặc Yissum (Hebrew University của Israel). ĐHBK có thể làm được nếu thành lập một văn phòng TLO mạnh, có năng lực định giá, đàm phán IP, hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ, vì ĐHBK đã có nhân lực công nghệ mạnh. Nếu ĐHBK nhận làm thì Bộ KH&CN, mà cụ thể là Cục Sơ hữu trí tuệ, sẽ đồng hành hỗ trợ.

Thứ ba, spin-off được bảo lãnh công nghệ bởi nhà trường (Tech-backed Spin-off Guarantee). ĐHBK lựa chọn các nhóm nghiên cứu, startup sinh viên có tiềm năng, rồi đứng ra bảo lãnh về công nghệ để gọi vốn, tham gia đề án quốc gia, thương thảo với doanh nghiệp. Trường sẽ cấp một loại giấy bảo lãnh công nghệ học thuật xác nhận công nghệ này có nguồn gốc từ ĐHBK, đã được đánh giá học thuật và thử nghiệm, đủ tiêu chuẩn ứng dụng. Khác với bảo lãnh tài chính, đây là bảo lãnh học thuật và công nghệ. Việc này tăng uy tín cho startup, giảm rủi ro cho nhà đầu tư. Điều này là vô cùng quan trọng để thúc đẩy 2 bên tiến tới hợp tác với nhau.

 

Về mục tiêu tạo ra các Unicorn

Các Unicorn theo định nghĩa quốc tế là startup có giá trị 1 tỷ USD. Việt Nam có thêm Mini Unicorn có giá trị 100 triệu USD. Nếu đến 2045, ĐHBK không tạo ra được 3-5 Unicorn và hàng chục Mini Unicorn, ĐHBK không thể gọi là một đại học nghiên cứu lớn của quốc gia.

 

Về 10 đổi mới của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi lần này có những đổi mới mạnh mẽ, mang tính cách mạng.

 

i) Khoa học công nghệ là nền của một quốc gia. KHCN mà hưng thịnh thì quốc gia mới hưng thịnh. KHCN mà mạnh thì quốc gia mới mạnh. Một quốc gia muốn trở thành cường quốc thì phải là cường quốc KHCN. Một quốc gia muốn trở thành nước phát triển thì phải là một quốc gia có KHCN phát triển. Việt Nam sẽ nâng mức chi KHCN/ĐMST từ 2% lên 3% ngân sách nhà nước.

 

ii) Khoa học công nghệ hướng tới đổi mới sáng tạo. KH, CN và ĐMST được xác định là động lực then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Trong đó, KHCN chủ yếu là hoạt động của đội ngũ chuyên môn, các nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, tập trung vào nghiên cứu, phát triển tri thức và công nghệ mới, ĐMST là của toàn dân, của mọi tổ chức, là quá trình tạo ra hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, quy trình quản lý dựa trên đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, nâng cao hiệu suất nhằm nâng cao giá trị gia tăng hiệu quả kinh tế, xã hội và chất lượng cuộc sống. Lần đầu tiên, ĐMST được đưa vào Luật và được đặt ngang hàng với KHCN, thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển. Luật đã bổ sung nhiều cơ chế hỗ trợ hoạt động ĐMST, đặc biệt trong doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức trung gian như doanh nghiệp môi giới công nghệ, trung tâm hỗ trợ ĐMST, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư mạo hiểm. Nhấn mạnh ĐMST cũng chính là nhấn mạnh vai trò thúc đẩy ứng dụng của KHCN trong thực tiễn, góp phần gia tăng giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội. Nếu KHCN và ĐMST được kỳ vọng đóng góp 4% vào tăng trưởng GDP thì phần đóng góp từ ĐMST chiếm tới 3%, trong khi KHCN chiếm 1%, qua đó phản ánh rõ vai trò lan tỏa, thực tiễn và toàn dân của ĐMST trong nền kinh tế hiện đại.

 

iii) Đổi mới mạnh mẽ trong tư duy quản lý, từ kiểm soát quy trình và đầu vào như hóa đơn, chứng từ chi tiết, sang quản lý kết quả và hiệu quả đầu ra, chấp nhận rủi ro gắn với quản trị rủi ro. Trọng tâm của quản lý nhà nước không còn là cách thức thực hiện mà là kết quả nghiên cứu mang lại và tác động thực tiễn đến phát triển kinh tế - xã hội. Bộ KH&CN có trách nhiệm đo lường hiệu quả tổng thể của các chương trình, nhiệm vụ KHCN, đồng thời lấy kết quả này làm căn cứ để phân bổ nguồn lực, trong đó các tổ chức KHCN chỉ được cấp tiếp các đề tài nếu chứng minh được hiệu quả của kết quả nghiên cứu trước đó. Luật cũng tăng cường quyền tự chủ cho các tổ chức, cá nhân và chủ nhiệm đề tài trong triển khai nhiệm vụ, quản lý bộ máy, chi tiêu theo cơ chế khoán chi, nhưng đi kèm là yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình và minh bạch trong sử dụng nguồn lực. Đặc biệt, tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ được quyền sở hữu kết quả nghiên cứu để thương mại hóa; người làm nghiên cứu được hưởng tối thiểu 30% từ phần thu nhập thu được do kết quả nghiên cứu mang lại khi thương mại hóa và được miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này. Từ đó, tạo động lực đổi mới, thúc đẩy tinh thần dám nghĩ dám làm trong nghiên cứu, tiến hành nghiên cứu hướng đến kết quả thực tiễn, gắn kết chặt chẽ giữa KHCN với phát triển kinh tế - xã hội.

 

iv) Chuyển từ một quốc gia sử dụng công nghệ lõi sang làm chủ các công nghệ chiến lược. Đây cũng là lần đầu tiên xác lập định hướng rõ ràng về việc chuyển từ một quốc gia chủ yếu sử dụng công nghệ lõi sang làm chủ các công nghệ chiến lược có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế và an ninh quốc gia. Ngân sách nghiên cứu và phát triển sẽ được ưu tiên phân bổ khoảng 30-40% để thực hiện các nhiệm vụ làm chủ công nghệ chiến lược, thay vì dàn trải như trước. Việc triển khai các nhiệm vụ này được giao cho các doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu có năng lực và uy tín thực hiện, trên cơ sở đánh giá hiệu quả đầu ra và mức độ đóng góp thực chất. Đồng thời, nhà nước có chính sách đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm dùng chung, hạ tầng kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ phát triển công nghệ chiến lược. 20-30% ngân sách KHCN sẽ được chi hàng năm để hiện đại hóa hạ tầng nghiên cứu.

 

v) Khoa học công nghệ thay vì ở trên Trời, đi từ Trời xuống Đất thì phải có một chiều nữa là đi từ Đất đi lên, từ đổi mới sáng tạo tới phát triển công nghệ rồi tới nghiên cứu khoa học. Thay vì chỉ đi một chiều như trước đây là xuất phát từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ để phát triển các sản phẩm mới, thì lần này tập trung vào một chiều mới là lấy thị trường, định hướng sản phẩm làm động lực, làm định hướng cho phát triển công nghệ, xác định các bài toán nghiên cứu liên quan. Từ chiến lược quốc gia -> sản phẩm chiến lược -> công nghệ chiến lược -> khoa học chiến lược.

 

vi) Chuyển nghiên cứu cơ bản về các cơ sở giáo dục đại học, xây dựng đại học trở thành các trung tâm KHCN/ĐMST quốc gia. Đây là định hướng lớn của nhà nước, việc chuyển dịch nghiên cứu cơ bản về các cơ sở giáo dục đại học là phù hợp với thông lệ quốc tế, tất cả các quốc gia đều coi các cơ sở giáo dục đại học là trung tâm nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản do đây là nơi tập trung nhiều nhất nhân lực nghiên cứu cơ bản, nhất là nhân lực trẻ (đội ngũ giáo viên, giáo sư, sinh viên, nghiên cứu sinh). Việc điều chỉnh nhu cầu nghiên cứu cơ bản theo hướng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong nghiên cứu ứng dụng, trong phát triển công nghệ sẽ tạo ra sự gắn kết giữa các loại hình nghiên cứu và tăng tỉ trọng nghiên cứu có tác động vào thực tiễn. Bên cạnh đó, việc chuyển dịch này không có nghĩa là loại bỏ vai trò của các viện nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản. Ngược lại, các viện nghiên cứu, nhất là hai Viện Hàn lâm, vẫn có thể tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản phù hợp với thế mạnh, cơ cấu tổ chức và định hướng phát triển của mình. Đồng thời, Luật không giới hạn quyền phát triển công nghệ của các trường đại học, nhằm thúc đẩy mô hình tích hợp ba chức năng: đào tạo - nghiên cứu - ĐMST. Đây là mô hình phổ biến ở các quốc gia có nền KHCN tiên tiến, góp phần xây dựng hệ sinh thái học thuật và ĐMST bền vững, năng động và có sức lan tỏa sâu rộng.

 

vii) Chuyển trọng tâm phát triển công nghệ về doanh nghiệp. Lần đầu tiên trong Luật, có một chương riêng được dành để quy định về các chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển và ĐMST trong doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp được trao quyền và khuyến khích mạnh mẽ để đầu tư cho nghiên cứu phát triển, không chỉ bằng nguồn lực của mình mà còn được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thông qua các chính sách "mồi" tài chính, theo nguyên tắc "Nhà nước chi 1 đồng để thu hút 3-4 đồng từ doanh nghiệp". Nếu trước đây, ngân sách nhà nước tài trợ cho NCPT của doanh nghiệp chưa được 10% thì thời gian tới sẽ là 70-80%. Bên cạnh đó, Luật cho phép doanh nghiệp được hạch toán các khoản chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp như chi phí sản xuất kinh doanh, không còn giới hạn mức tối đa (trước đây là khoảng 1% doanh thu và chỉ áp dụng với doanh nghiệp có lãi). Các khoản chi này còn được tính khấu trừ thuế với hệ số ưu đãi vượt trội là 150% và có thể lên đến 200% nếu đầu tư vào công nghệ chiến lược (tức là nếu doanh nghiệp chi 10 đồng cho NCPT thì Nhà nước hỗ trợ 3-4 đồng thông qua thuế). Thêm vào đó, doanh nghiệp có lãi được trích tối đa 5% lợi nhuận trước thuế để lập quỹ đầu tư vào khởi nghiệp sáng tạo, nhằm khuyến khích các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp lớn, hỗ trợ các khởi nghiệp sáng tạo NCPT các công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới mang tính đột phá. Ngoài ra, nhà nước cũng có chính sách ưu tiên mua sắm sản phẩm KHCN của doanh nghiệp trong nước.

 

viii) Cân bằng nghiên cứu khoa học tự nhiên và nghiên cứu khoa học xã hội. Các nghiên cứu xã hội đóng góp cho sự phát triển quốc gia không kém gì các nghiên cứu khoa học tự nhiên. Kết hợp liên ngành KH tự nhiên và KH xã hội để đảm bảo các công nghệ phát triển gắn với bảo vệ các giá trị đạo đức cốt lõi của nhân loại. Phân biệt cách tiếp cận giữa nghiên cứu khoa học (ít định hướng ứng dụng, cần không gian tự do sáng tạo) và phát triển công nghệ (gắn với kết quả đầu ra, ứng dụng thực tiễn) để có các cơ chế, chính sách phù hợp cho 2 loại hình này. Tùy theo giai đoạn, chính sách sẽ có sự ưu tiên khác nhau. Hiện nay, tập trung nhiều hơn cho phát triển công nghệ để tạo tác động nhanh vào nền kinh tế, trong khi vẫn duy trì nền tảng nghiên cứu cơ bản tại các cơ sở giáo dục đại học, làm cơ sở cho đổi mới dài hạn.

 

ix) Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh và cân bằng, bao gồm thể chế, hạ tầng, nhân lực và các chủ thể như doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, nhà nước, nhà nghiên cứu, các định chế tài chính, tổ chức trung gian môi giới công nghệ, trung tâm ĐMST, các quỹ NCPT, đổi mới công nghệ và đầu tư mạo hiểm. Trong hệ sinh thái này, nhà nước đóng vai trò kiến tạo, thông qua việc đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm dùng chung, hỗ trợ thông tin, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ, ban hành cơ chế tài chính ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp ĐMST, đồng thời thu hút và đãi ngộ nhân tài, chuyên gia trong và ngoài nước. Sự phối hợp giữa các chủ thể được thúc đẩy qua các chính sách như: đặt hàng nhiệm vụ có tính liên kết viện - trường - doanh nghiệp, cơ chế đồng tài trợ từ quỹ nhà nước và tư nhân, công nhận các trung tâm ĐMST làm đầu mối kết nối, và chính sách chia sẻ lợi ích từ kết quả nghiên cứu. Từ đó, tạo nền tảng cho mối liên kết bền chặt, bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả của toàn hệ sinh thái KHCN/ĐMST quốc gia.

 

x) Chuyển đổi số toàn diện hoạt động khoa học công nghệ và quản lý khoa học công nghệ. Các tổ chức NCPT sẽ sử dụng nền tảng số quốc gia để quản lý đề tài, nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm theo dõi toàn bộ vòng đời nhiệm vụ, kể cả khi kéo dài 10-15 năm. Dự thảo Luật chuyển từ mô hình tiền kiểm sang hậu kiểm, cắt giảm mạnh thủ tục hành chính và thay thế bằng quản lý số hóa, qua đó nâng cao hiệu quả điều hành, tính minh bạch và khả năng giám sát dài hạn.

 

ĐHBK nên rà soát lại toàn bộ quy chế nội bộ theo tinh thần Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo vừa được Quốc hội thông qua. Ban hành các hướng dẫn cụ thể để giảng viên được làm startup, được góp vốn bằng sở hữu trí tuệ, được đánh giá theo đổi mới sáng tạo.

 

Thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá mới: mỗi năm, nhà trường báo cáo số công nghệ chuyển giao, số sản phẩm ra thị trường, tổng doanh thu tạo ra cho doanh nghiệp từ nghiên cứu trong trường.

Bộ sẽ thí điểm giao các nhiệm vụ công nghệ trọng điểm cho Bách Khoa, theo mô hình tổng thầu tích hợp công nghệ. Và ĐHBK cũng nên chủ động đề xuất các chương trình cụ thể trong quý III/2025.

Chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mà công nghệ quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia. Năng lực công nghệ không thể đi vay mượn. Nó phải được kiến tạo từ bên trong - và đại học là nơi khởi nguồn.

Tôi mong các thầy cô nhìn thấy sứ mệnh mới của ĐHBK Hà Nội. Không phải chỉ là trường học - mà là tổ hợp công nghệ quốc gia. Không phải chỉ là nơi dạy kỹ sư - mà là nơi sản xuất công nghệ. Không chỉ là nơi nghiên cứu - mà là nơi đổi mới sáng tạo ra giá trị thực.

 

Với niềm tin vào đội ngũ trí thức của Đại học Bách Khoa Hà Nội, tôi tin, chúng ta sẽ làm được.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng

 

Nguồn:

https://vnexpress.net/nghien-cuu-phai-huong-toi-ket-qua-cuoi-cung-la-phat-trien-dat-nuoc-4912943.html

 

  
 
Tin mới đưa:
Tin đã đưa:
“ Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó.”
 
Trí thức trẻ là người tốt nghiệp đại học, tuổi từ 39 trở xuống. Do thu nhập sau ra trường hạn hẹp, thị trường nhà ở giá rẻ khan hiếm, nên điều kiện về an cư để lạc nghiệp còn khó khăn. Các bạn trí thức trẻ ước muốn gì về nơi ở của riêng mình (không phải do thừa kế, đi thuê):
 
 
 
Trong thời đại CMCN 4.0, Chuyển đổi số không còn là điều tốt đẹp nên có, mà là điều bắt buộc đối với tất cả tổ chức và doanh nghiệp, gắn với Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số. Trong bối cảnh đô thị hóa, ngành XD có vai trò tiên phong trong Chuyển đổi số đế nâng cao năng lực cạnh tranh. Người ta còn cho rằng "QH đô thị là bệ phóng cho Chuyển đổi số". Lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp XD phải chấp nhận và thích ứng dần với quá trình Chuyển đổi số. Các bạn SV, cựu SV trong lĩnh vực XD - Công dân kỹ thuật số trong tương lai, nghĩ gì về nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực Chuyển đổi số trong cơ sở đào tạo ĐH:
 
 
Thông báo

   Liên kết website
 
  • Sơ đồ trang 
  • Bản quyền thuộc Bộ môn Kiến trúc Công nghệ - Khoa Kiến trúc Quy hoạch - Trường Đại học Xây dựng
    Địa chỉ liên hệ: Phòng 404 nhà A1 - Số 55 đường Giải Phóng - TP Hà Nội
    Điện thoại: (04) 3869 7045     Email: bmktcn@gmail.com
    Chủ biên: TS. Phạm Đình Tuyển - Phụ trách: TS. Nguyễn Cao Lãnh & cộng sự
    Powered by vnDIC.com